Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoằng pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoằng pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Con đường hoằng pháp lợi sanh

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012 | 02:11



Trên con đường hoằng hóa độ sinh, Phật giáo Đại thừa đã phát triển một cách nhanh chóng, vì chú trọng đến tính cách khế lý và khế cơ của giáo pháp. Tuy nhiên, để đạt được thành quả như vậy, đòi hỏi nhà tu hành phải đạt đến đỉnh cao của chân lý mới thấy biết đúng đắn về thực trạng của xã hội và đời sống của dân chúng ở nơi mà họ đang hành đạo.

Và thực tế đã chứng minh rõ rằng các vị Tăng lữ từ thời xa xưa trên bước đường truyền giáo, với sự am hiểu nhân tình thế thái, các ngài đã đáp ứng được yêu cầu về tình cảm, về tâm linh của quần chúng một cách tốt đẹp. Với tuệ giác, nhận biết nơi nào có nhân duyên, có thể làm đạo được, thì các ngài sẵn sàng dấn thân.

Trên tinh thần ấy, chúng ta thấy xuất hiện từ buổi giao thời những bậc cao tăng Ấn Độ, Trung Hoa, Trung Á sang Việt Nam, truyền bá Phật pháp. Từ sự bén rễ và lớn mạnh của Phật giáo ở đất Giao Châu thuộc miền Bắc nước ta ở thời kỳ khởi nguồn, cho đến khi đất nước chúng ta được mở rộng đến khu vực miền Trung và vùng đất phương Nam, thì cuộc sống người dân đi khai hoang những vùng đất mới này hẳn nhiên còn rất nhiều khó khăn về mọi mặt. Vì thế, quần chúng cần có chỗ nương tựa tinh thần, cần có người giúp họ an tâm sau những tháng ngày vật lộn với cuộc mưu sinh đầy gian khổ, lắm hiểm nguy ở những vùng hoang dã. Và đó chính là nhân duyên thúc đẩy các nhà sư  dấn thân vào vùng hiểm trở để an ủi, giúp đỡ những người di dân định cư, lập  nghiệp.

Đến thời kỳ đất Gia Định được mở mang, chúng ta cũng thấy sự hiện hữu của các nhà sư từ miền Trung đi vào, mà dấu ấn còn ghi đậm ở vùng Saigon - Gia Định. Bằng chứng cụ thể là sự hiện diện của những ngôi chùa do các ngài sáng lập, cũng như qua những truyền thuyết dân gian nói lên cuộc sống xả kỷ vị tha của các bậc chân tu, từ đó đã tạo nên mối quan hệ rất gần gũi với quần chúng và hài hòa trong đời sống thực tiễn của xã hội hơn là mang tính cách siêu hình.

Điển hình như ở Gia Định có câu chuyện nổi tiếng về nhà sư đánh hổ để cứu người; hay nhà sư khai hoang ở bưng Đỉa thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay. Theo truyền thuyết, có một nhà sư đến vùng sình lầy rất nhiều con đỉa nên gọi là bưng Đỉa. Không ai dám đi qua vùng đất này vì họ sợ những con đỉa hút máu người, mà họ hình dung ra loài yêu tinh. Nhưng nhà sư đã đến đó cất am tu hành một cách an lành, khiến một thời gian sau, dân chúng thấy vậy mới tìm đến sinh sống và lập làng, không còn hiện tượng ghê sợ kia nữa.

Có thể thấy rõ các nhà sư làm thuốc cứu người hiện diện ở khắp mọi nơi trên đất nước chúng ta. Điều này cũng dễ hiểu, vì những vùng đất mới còn nhiều chướng khí, không ít bệnh tật chính là nơi có nhiều thắng duyên đối với các nhà sư hành Bồ tát đạo. Thật vậy, các bậc chân tu đắc đạo rất tinh thông dược liệu, nên phần nhiều đã sử dụng cây thuốc ở địa phương, hoặc được trồng trong vườn chùa để chữa bệnh, cứu người. Dân chúng được cứu giúp, khỏi bệnh, khỏe mạnh, sống an vui; đó chính là những hạt nhân tất yếu tạo nên mối thiện cảm sâu sắc của nhân dân đối với đạo Phật. Và cũng vì thế mà gần như chùa nào cũng phát xuất những câu chuyện về thành tích kỳ vĩ của các nhà sư đắc đạo.

Ngày nay, nhìn lại lịch sử phát triển của miền Nam, có thể khẳng định rằng sự đóng góp công sức của Phật giáo không nhỏ. Và vì thế, dân chúng miền Nam theo Phật giáo cũng là điều tất yếu, hầu như trong lòng mọi người ít nhiều đều cảm thấy đã thọ ơn các nhà sư từng che chở, cưu mang, dạy dỗ, cứu giúp họ trong cuộc sống đời thường ở nhiều lãnh vực khác nhau.

Ngoài ra, Phật giáo được kết hợp với truyền thống tín ngưỡng của dân gian, với phong tục thờ cúng ông bà tổ tiên, thì Phật giáo càng gắn bó mật thiết với quần chúng hơn nữa. Thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa nhân dân và Phật giáo, tất cả các ngôi chùa cũng là nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà của người dân. Tình cảm sâu đậm này được truyền đạt qua câu thơ của Huyền Không gần như khắc ghi trong tâm khảm mọi người:

Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tiên.

Thật vậy, khi ông bà, cha mẹ, hoặc người thân qua đời, người ta thường đem hài cốt hoặc di ảnh vào chùa thờ cúng; vì họ nghĩ rằng ở chốn già lam thanh tịnh, giải thoát, hằng ngày sớm hôm tiếng kinh câu kệ của các vị tu hành sẽ là niềm an ủi quý báu cho linh hồn người quá vãng và giúp hương linh được siêu sanh Tịnh độ.

Phật giáo đi sâu vào lòng người dân miền Nam, hòa nhập vào cuộc sống mọi người như hơi thở, như không khí. Điều này đã thể hiện rõ nét qua lịch sử. Dưới thời Pháp thuộc có một số quan lại và dưới chế độ Diệm, ở miền Nam có một số tướng lãnh đã chối bỏ tư cách Phật tử để theo tôn giáo khác. Tuy nhiên, đến năm 1963, sau khi chế độ Diệm bị sụp đổ, những người tưởng chừng mất gốc gác đạo Phật từ lâu, họ đã trở về với Phật giáo. Có thể thấy dù hoàn cảnh đổi thay khiến họ thay đổi, nhưng trong lòng họ vẫn tin tưởng Trời Phật, vẫn quý mến các bậc chân tu, vẫn nhớ nghĩ đến truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên của gia đình.

Thiết nghĩ Phật giáo và nhân dân miền Nam đã gắn bó mật thiết với nhau một cách tự nhiên từ thuở sơ khai lập quốc cho đến ngày nay và mãi về sau, thời gian càng dài xa thì cây bồ đề càng lớn mạnh; mối tương quan tương duyên giữa nhân dân và Phật giáo càng thêm sâu sắc, giúp mọi người thăng hoa tri thức, đạo đức và phát triển một xã hội an vui, đầy tình người.

Hãy sống không có tham,
Với tâm không có sân,
Chánh niệm và nhất tâm,
Nội tâm khéo định tĩnh.
(Tăng Chi Bộ kinh I)
 HT. Thích Trí Quảng

Vải suy nghĩ Hoằng pháp trong thời hiện đại


Giáo hội chúng ta thành lập được gần 22 năm, trải qua 4 nhiệm kỳ. Tôi làm Trưởng ban Hoằng pháp từ nhiệm kỳ I đến nay là nhiệm kỳ V. Từ khi thành lập đến nay, các vị Hòa thượng lớn tuổi và những Phật tử hộ đạo thời kỳ ban đầu đã về Phật, hoặc một số vị lớn tuổi không tiếp tục tham gia vào Ban Hoằng pháp nữa. Trong nhiệm kỳ V hiện nay, chúng tôi cơ cấu thành phần Ban Hoằng pháp tương đối trẻ, vì chỉ có một mình tôi trên 60 tuổi, còn lại hàng giáo phẩm từ Thượng tọa đến Đại đức và các Ni sư, Sư cô đa số còn trẻ tuổi. Ngoài ra, hôm nay còn có sự hiện diện của các thầy cô thuộc hai khóa giảng sư Trung cấp và Cao cấp của Ban Hoằng pháp. 

Tôi dự định kết thúc khóa học giảng sư năm nay để quý thầy cô có điều kiện tham gia đoàn Giảng sư Trung ương hoặc cấp tỉnh thành, vì theo chương trình hoạt động năm 2004 của Ban Hoằng pháp, có quy định sự sinh hoạt của đoàn Giảng sư chúng ta. 

Theo tôi, chúng ta có nhiều việc phải làm. Một là đối tượng của công tác hoằng pháp là đồng bào Phật tử vùng sâu, vùng xa, vùng cao nguyên. Trình độ văn hóa của họ không cao, trình độ Phật học cũng chưa có. Tôi nghĩ quý thầy cô đã trải qua nhiều năm ở trường lớp, có khả năng hướng dẫn Phật tử ở những vùng như thế. Vì vậy, quý vị cân nhắc điều này để tham gia vào công tác hoằng pháp ở những địa phương xa. 

Nếu những thầy cô tiếp tục ngồi ghế nhà trường thì đến 60 tuổi vẫn là học Tăng, nhưng nếu quý vị ra trường thì dù 20 tuổi vẫn làm thầy được. Đó là kinh nghiệm của bản thân tôi. Thật vậy, từ khi tôi chưa được 20 tuổi, chưa thọ Đại giới mà đã đi thuyết giảng ở vùng xa. Nếu chúng ta học ở trường, chung quanh là bạn đồng trình độ và trên là thầy, sẽ làm chúng ta khó thuyết giảng. Nhưng nếu về địa phương giảng dạy, trình độ văn hóa của người dân ở đó kém hơn ta, trình độ Phật pháp ít hơn ta, chắc chắn họ dễ nghe, dễ chấp nhận ta; nên ta dễ phát huy năng lực. Chúng ta làm việc như vậy, năng lực được phát triển lần, thì đến lúc 40, 50 tuổi, chúng ta có thể trưởng thành dễ dàng. 

Khi đã tham gia vào ngành hoằng pháp, chúng ta phải làm gì để trang bị những điều cần thiết, là điều tôi muốn nói hôm nay. Tôi còn nhớ Hòa thượng Thiện Hoa dạy rằng người hoằng pháp không sợ gian lao, không từ khó nhọc. Đó chính là ý nguyện của giảng sư tương lai. Chúng ta thấy Đức Phật đã thể hiện rõ nét tinh thần "Không sợ gian lao, không từ khó nhọc", sau khi thành đạo, nơi nào Ngài cũng đến thuyết pháp giáo hóa, người nào có duyên, Ngài cũng độ. Và các vị Tổ sư hành đạo cũng vậy. Các ngài đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa, từ Trung Hoa lên đỉnh núi cao ở Tây Tạng, hoặc vượt qua sa mạc giá rét hay nóng cực độ để truyền bá chánh pháp ở nước Nga. Chỗ nào cần, các ngài tới, không sợ gian lao không từ khó nhọc. 

Và ngày nay, tiếp nối bước chân hoằng pháp của các ngài, chúng ta dấn thân hành đạo như vậy, niềm tin của chúng ta đối với Phật pháp mới sâu sắc. Có sống gần gũi với sinh hoạt của thế gian, đồng thời tiếp cận được với thế giới tâm linh, giúp chúng ta tăng thêm niềm tin, tăng thêm ý chí quyết định dấn thân. Tôi thấy Đức Phật, chư vị Tổ sư và thầy tôi như thế, nên tôi cũng dấn bước theo con đường này và đã thể nghiệm việc hoằng pháp trên 40 năm. Vì thế tôi muốn truyền trao kinh nghiệm của mình để quý thầy cô cùng suy nghĩ, kế thừa được sự nghiệp của Phật, Tổ, của những người đi trước, làm rạng danh con nhà họ Thích. 

Chúng ta phải có quyết tâm, không sợ gian lao, không từ khó nhọc. Bất cứ nơi nào cần, chúng ta đến, không phải chúng ta cần. Người hành đạo Bồ tát làm giảng sư là đáp ứng yêu cầu của người khác. Ta không có yêu cầu nào trên cuộc đời này. Anh em phải có tinh thần vô ngã thực sự, điều này rất quan trọng trong cuộc đời tu hành. Đa số không thành công trên bước đường tu vì chấp ngã, chấp pháp; chưa lớn mà tự thấy mình lớn, rất nguy hiểm. 

Từ ý thức không thấy mình lớn, cho đến không thấy có mình, là đạt vô ngã; thì chúng ta ít buồn lòng, khó chịu đối với bất cứ tình huống nào xảy ra cho ta. Vì chúng ta không có đòi hỏi nào cho bản thân, mà tùy hoàn cảnh giáo hóa; đó là kinh nghiệm của tôi. Khi còn ở lớp hay sau khi ra trường, tôi chưa giữ chức danh nào, nhưng đã làm việc rất tích cực. Lập trường dứt khoát của tôi là cần làm việc, nên khẩu hiệu tôi đề ra là lãnh việc, không lãnh chức. Theo tôi, chức danh là trở ngại lớn cho bước đường tu của chúng ta. Tôi làm được việc, giảng dạy tốt thì người biết đến tôi, không phải họ biết chức danh, nhưng biết tôi là người mà họ gần gũi, thân thương trên bước đường hoằng pháp. 

Nhiều thầy nghĩ rằng phải có chức vụ, danh phận mới làm được. Tuy nhiên, có chức, có danh nhưng không làm được thì càng xấu hổ hơn. Chúng ta không có chức danh, mà được quần chúng quý mến, tin tưởng, thì chúng ta được an ủi nhiều hơn và cũng được an lòng nhiều hơn. 

Trên tinh thần vô ngã, ta không có chức danh, nên dễ đến với mọi người, với thành phần này ta không hoạt động được thì tìm thành phần khác, ở địa phương này không làm đạo được thì tìm nơi khác. Thiết nghĩ ai cũng có thể làm việc được. Chỉ vì chấp pháp, chấp ngã quá lớn, tự thấy mình lớn, hay đòi hỏi cho mình một số việc, thì suốt đời không làm được gì. Nếu chúng ta hướng đến yêu cầu của quần chúng, của xã hội, thì vẫn có thể phục vụ được. 

Người sợ gian khổ, nguy hiểm, không dám đi vùng xa; nhưng riêng tôi, đến vùng xa thấy rõ ở đó, họ cần và quý trọng mình hơn. Giữa họ và mình có sự gắn bó thân thương hơn. Đó là kinh nghiệm hành đạo của tôi gần 40 năm trước, vùng Đồng Xoài là rừng núi chỉ có người di dân đến sinh sống, đương nhiên chùa và đô thị không có. Họ đến khai phá đất hoang và niềm tin tôn giáo, tin Trời Phật của họ rất mạnh, nên thấy bóng dáng thầy tu, họ rất quý trọng. Từ đó, tôi hình dung được các vị Tổ sư truyền giáo cũng vậy. Các vị Tổ sư miền Trung nước ta cùng đi với đoàn di dân đến chỗ đất mới có nhiều khó khăn, sức người không vượt được. Vì vậy, họ tin tưởng thần linh, thì người tu là gạch nối giữa họ và thần linh và các chùa miền Nam bắt đầu mọc lên từ đây. Tôi đến Đồng Xoài thuyết pháp, ngày xưa phải đi từ sáng đến chiều mới tới vì đường sá rất xấu và xe hơi không tối tân như ngày nay, nên chạy chậm. Và muốn vào khu dân cư thuyết pháp, còn phải đi xe đạp. Tuy nhiên, càng đi xa vào những nơi đó, tôi thấy Phật tử càng thân thương, gần gũi hơn. Không có tâm hồn như thế, không làm nhà truyền giáo được. Vào đó giảng pháp, đối với đồng bào di dân thật thà, chất phác, tin tưởng Trời Phật, nhà sư trở thành điểm tựa ấm cúng cho cuộc sống lầm than cơ cực của họ. Tôi ngồi trong chòi lá, không phải chùa, chỉ có bức tranh thờ Phật do họ vẽ đơn sơ, không có tượng như ngày nay; nhưng ở đó có tấm lòng thành, có niềm tin mãnh liệt. Tôi không thăng tòa thuyết pháp, tôi ngồi giữa và Phật tử ngồi chung quanh, nghe tôi truyền đạt những lời của Phật để giúp họ có cuộc sống an lạc hơn. Không có máy phóng thanh, tôi ráng nói cho vài chục người nghe, thời pháp chỉ có bấy nhiêu người thôi. Tuy nhiên, tôi còn nhớ thời đó ở Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang nổi tiếng mà một thời pháp của Hòa thượng Thiện Hoa cũng chỉ có khoảng 40, 50 người. Như vậy vẫn thuyết pháp độ được cũng quý. Nếu một buổi nói chuyện chỉ có 5, 10 người, theo tôi còn tốt hơn vì dễ cảm thông hơn. Thuyết pháp không nhứt thiết lên pháp tòa, quan trọng là sự cảm thông giữa tâm của người nói và người nghe. Niềm tin của chúng ta đối với Tam bảo truyền đạt cho người tin theo, tâm nguyện của chúng ta truyền cho người nghe, được họ chấp nhận và muốn cùng làm theo. 

Đa số giảng sư ngày nay thường nghĩ rằng phải thuyết giảng theo thời đại, nói cho nhiều người nghe, buộc người nghe. Có thể ở thời đại của các anh em suy nghĩ cách thích hợp nào đó, nhưng theo tôi, thực chất của đạo Phật là truyền tâm. Phật dạy rằng nói năng hay yên lặng cũng là chánh pháp, sử dụng tâm của chúng ta để truyền chánh pháp. Tâm này là niềm tin Phật và truyền niềm tin chân chánh đó cho người tin theo, làm theo Phật dạy là thành công. 

Nếu gặp năm, ba người dân chất phác, anh em có thể nói Phật pháp giúp họ phát tâm; đó là tùy duyên giáo hóa, không nhứt thiết hình thức nào. Nếu quý vị thấy khả năng mình hơn người ở vùng xa, chắc chắn về đó hướng dẫn được người. Những người có khiếu và phát nguyện về vùng xa thuyết giảng là thực hiện một trong những chủ trương của Ban Hoằng pháp, chúng tôi sẽ hỗ trợ. Giáo hội đang cần các thầy cô tình nguyện về làm Phật sự ở vùng xa. 

Ngoài ra, có những vị có thể hoạt động ở nơi khác, hoặc ở đô thị. Theo tôi, anh em thuộc thế hệ này, cần có suy nghĩ mới để thích hợp với thời đại mới của anh em. Tôi thuộc thế hệ trước, chỉ truyền trao hiểu biết cho anh em, rồi tôi về Phật. Thời đại ngày nay là thời đại khoa học kỹ thuật khác với thời thần quyền của tôi thì phát triển mạnh ở vùng nông thôn, rừng núi được. Nhưng thời đại văn minh khoa học kỹ thuật, thời đại đô thị hóa toàn cầu, tất cả các nước trên thế giới theo mô hình mới này. Vì cách sống của người văn minh ngày nay khác với cách sống người xưa. Thời xưa chủ yếu sống ở nông thôn, nhưng ngày nay chủ yếu sống ở đô thị. Người ta sinh hoạt tập trung thành khu dân cư đông đúc, không ở rải rác trong ruộng đồng như xưa và phải có tiện nghi. Thí dụ như khu đất chùa Huê Nghiêm này, khi Tổ đến khai sơn thì nơi đây còn hoang vu và sau đó biến thành ruộng vườn, nhưng trong tương lai, 10 năm hay 20 năm nữa, nơi đây trở thành khu đô thị theo quy hoạch của thành phố. Lúc ấy, bên phải của chùa chúng ta là khu chung cư, bên trái là khu biệt thự nhà vườn. 

Người ta đã sinh hoạt theo mô hình đô thị hóa, thì chúng ta cũng phải có những hoạt động thích nghi. trong 5 năm nữa, quận 2 không còn như vầy, nhà cửa sẽ mọc lên, những cơ sở hạ tầng được xây dựng trước, như trường học, bệnh viện, công viên, chợ, khu vui chơi giải trí, v.v... ; nói chung có đủ tiện nghi cho người dân sống trong thời hiện đại. ai có hướng đi theo con đường hội nhập sinh hoạt đô thị hóa phải suy nghĩ để phát triển việc hoằng pháp của mình cho thích hợp. 

Tôi đã tham quan Phật giáo Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, quan sát từng mô hình của họ, nên thấy rõ. Thí dụ Phật giáo Nhật đã hiện đại hóa Phật giáo trước khi đất nước họ áp dụng phương cách hiện đại hóa. Thật vậy, họ đã thể hiện được tinh thần đạo Phật là đạo trí tuệ, phải thấy và đi trước xã hội một bước. Xưa kia, chùa ở trên núi cao và người ta về đó tu. Nhưng Phật giáo Nhật đã phát triển chùa trong những khu dân cư khi mà đất nước họ hiện đại hóa, xây dựng nhiều nhà chung cư. Phật giáo tổ chức sinh hoạt tôn giáo ở những khu chung cư để Phật tử dễ đến chùa, vì họ không có thì giờ đi chùa xa như thời xưa lên núi tu một tuần lễ. Phật giáo Nhật đã đem chùa ở gần khu dân cư, đem chùa vào nhà dân cư. 

Đem chùa vào khu dân cư là chúng ta phải có chùa ở khu đó để mọi người sau giờ làm việc, có thể dễ dàng ghé vào chùa tụng kinh. Nếu kéo dài thì giờ lễ bái, tụng niệm ở chùa thì chỉ có những người hưu trí, người lớn tuổi mới có thể tham dự. Ngày nay tình trạng này xảy ra ở đất nước chúng ta, hầu như chùa nào cũng có toàn người hưu trí, người già. Không khéo đạo Phật chúng ta trở thành đạo của người chuẩn bị từ bỏ cuộc đời này. Đối trước tuyên truyền mạnh ở Nhật rằng cuộc đời của một người khi sanh ra thì đến đình thần, lớn lên thì đến nhà thờ, đến già, chết thì về chùa. Nếu phân chia sinh hoạt như vậy thì rõ ràng đạo Phật sẽ bị mất vị trí trong lòng người, trong xã hội. Phật giáo Nhật đã nhận thấy rõ nguy cơ này, nên đã phát triển hướng sinh hoạt của Phật giáo gắn liền với sinh hoạt của dân tộc họ. Họ cho trẻ em quy y từ trong thai mẹ. Đạo tràng Pháp Hoa của tôi có nhiều Phật tử cũng là nhờ phát triển theo hướng này. Thanh niên nam nữ lập gia đình thì được cha mẹ dẫn đến tôi chú nguyện trước. Tôi khuyên họ làm lành, tu phước, tụng kinh, v.v... để các vị Bồ tát muốn hiện hữu lại thế giới này có thể sanh vô gia đình họ làm quyến thuộc. Thật vậy, trung ấm thân của người chết không thấy bằng mắt, nhưng nghe âm thanh được, nên nghe chỗ nào có tụng kinh thì linh hồn họ đến để đầu thai vô gia đình đó. Thực tế có những em bé chưa biết nói, nhưng đã biết chắp tay, biết niệm Phật; vì đời trước đã là Phật tử hay tu sĩ. Tôi áp dụng ý này để hướng dẫn các Phật tử tại gia tu, quả tình thấy đúng như vậy. Gia đình nào mà cha mẹ có tín tâm, siêng tụng kinh thì họ sanh con dễ có tín tâm hơn. Các anh em nên suy nghĩ điều này để áp dụng trong việc hành đạo. 

Chùa ở khu dân cư không cần lớn. Phật giáo Nhật thường xây dựng giảng đường vừa là nơi thờ Phật, tụng niệm, lễ bái, vừa giảng kinh, chiếu phim Phật pháp. Nơi nào cũng đưa Phật pháp đến được, theo tinh thần kinh Pháp Hoa dạy rằng thế gian tướng thường trụ, nghĩa là đem Tam bảo đặt vào niềm tin con người, đặt vào lòng người thì đạo Phật mới tồn tại và phát triển được. 

Kế đến là đem Phật vào nhà. Phật giáo Nhật khuyến khích mỗi nhà nên có bàn thờ Phật, không cần bàn thờ lớn. Mỗi ngày họ có thể tập hợp cả gia đình trước bàn Phật để tụng kinh, cầu nguyện. Thời kinh không thể tụng từ sáng đến chiều và không nên tụng chữ Hán vì không hiểu được. Nếu chúng ta tiếp tục tổ chức những khóa lễ rườm rà hình thức, mất thì giờ mà người nghe cũng không hiểu gì, chỉ mong cho hết giờ, thì e rằng chẳng bao lâu, những người trí thức ở thế hệ sau sẽ không đến với đạo Phật chúng ta nữa. Làm thế nào để kinh họ tụng dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đọc. Tôi soạn kinh Pháp Hoa Bổn Môn theo tinh thần này, nhờ vậy mà đạo tràng Pháp Hoa phát triển được. Tôi tụng bộ kinh Pháp Hoa 28 phẩm phải mất một ngày, nay tôi tóm gọn những ý chính của kinh này lại chỉ trong một thời khóa 20 phút, thì Phật tử tham dự dễ dàng và sau đó họ đi làm việc, hoặc về lo việc nhà. Đưa Phật giáo vào khu dân cư, đến từng nhà, thể hiện qua câu " Đạo pháp hoằng thông đến mọi nhà". 

Nếu chỉ đưa Phật pháp vào khu dân cư thôi cũng chưa đủ, phải đưa Phật pháp vào tâm hồn người, thì như vậy đạo Phật không bao giờ mất, vĩnh viễn tồn tại. Nhưng muốn Phật pháp phổ cập như vậy thì phải trong sáng hóa kinh điển, nghĩa là kinh phải dễ hiểu, dễ thuộc, dễ tụng. 

Khi đạo Phật đi vào khu dân cư, đến từng nhà, thấm sâu vào tâm hồn người, tôi tin rằng họ gần chúng ta lúc còn sống và khi chết, họ cũng sẽ tái sanh chung với chúng ta. Đức Phật đã dạy rằng thầy trò thường sanh chung một cõi là vậy. Vì thầy trò cùng thể nghiệm một pháp tu, nên hiểu nhau, cảm thông với nhau, giải thoát được. Đức Phật sanh tiền giáo hóa nhiều người một cách đơn giản, nhẹ nhàng mà hàng ngoại đạo không thể hiểu được. Phật cho biết rằng Ngài thành tựu việc giáo hóa độ sanh dễ như vậy, vì những người này đã từng được Phật giáo hóa từ nhiều kiếp xa xưa trước. 

Lúc tôi mới soạn Bổn môn Pháp Hoa, một số vị cũng không bằng lòng, cho rằng bộ kinh lớn mà rút gọn còn một tập mỏng. Nhưng đến nay, đã trải qua 27 năm, người tu theo đạo tràng mỗi ngày đông thêm, vì dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tụng. Đó là suy nghĩ và ứng dụng của tôi. Các anh em phải có suy nghĩ khác, ứng dụng khác mà thích nghi được với yêu cầu của thời đại các anh em. Làm thế nào quần chúng hiểu được, tin được và ưa thích áp dụng trong cuộc sống họ có kết quả tốt đẹp, là đã đem Phật vào đời, vào khu dân cư, đến từng nhà, sống trong từng tâm hồn. Không được như vậy, mà đem Phật về núi, không khéo làm đạo Phật tiêu mất. Thực tế của sinh hoạt Phật giáo Hàn Quốc cho thấy điều này. Tôi sang thăm những ngôi chùa ở trên núi rất lớn, nổi tiếng của Hàn Quốc. Những chùa này trải qua nhiều đời được nhà vua cấp đất cả mười mấy ngàn mẫu, rộng mênh mông. Vậy mà ngày nay, chùa chỉ còn là nơi tham quan của khách du lịch, không phải điểm sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng, vì chùa ở cách xa đô thị quá và sinh hoạt của đạo Phật không còn dính líu gì đến mọi người. Người du lịch tham quan chưa đi hết một vòng đã phải vội vàng lên xe về. Chùa ở nơi cách biệt với sinh hoạt của người dân, cộng với sự hành đạo cũng cách ly với nếp sống của họ, nên lần lần Phật giáo đã mất vị trí trong lòng xã hội. Trước kia, dân Hàn Quốc theo đạo Phật nhiều, nhưng ngày nay, đến thành phố Seoul hay bất cứ chỗ nào cũng chỉ thấy nhà thờ Tin Lành, rất nhiều nhà thờ nhỏ hay nhà nguyện trong khu dân cư. Phật giáo Hàn Quốc đang bị mai một vì các nhà sư lên núi tu, sống cách ly với cuộc đời thì làm sao người dân đến với đạo Phật được. 

Việt Nam đang trên đường hội nhập thế giới, tất yếu Phật giáo phải hội nhập xã hội, nếu muốn tồn tại và phát triển. Hướng đi vào cuộc đời, vào xã hội có nhiều phương cách khác nhau, đó chính là phương tiện của chúng ta hành đạo. Tổ sư cũng từng dạy rằng "Đại dụng tại tiền, quyền tại thủ". Quyền là phương tiện trong tay chúng ta phải nắm được, vận dụng vào cuộc sống sao cho gần gũi mọi người để hướng dẫn họ, làm gương tốt cho họ sống tốt đẹp theo. 

Ở thế kỷ XXI, đất nước chúng ta hướng đến đô thị hóa, các giảng sư nào chọn con đường hội nhập, giáo hóa ở khu dân cư đô thị cần biết rõ đối tượng là ai, họ cần gì. Những người lớn tuổi, lớp thanh niên sinh hoạt như thế nào? Nếu chúng ta có những sinh hoạt Phật giáo thích hợp với giới thanh niên trẻ trong xã hội, họ có thể đến với chúng ta, vì thấy những gì chúng ta dạy không khác lạ với cuộc đời, nhưng có phần vượt trội là giúp họ thêm bình tĩnh, thêm sáng suốt, thêm nghị lực để phấn đấu, tồn tại tốt đẹp trong vòng quay tất bật, căng thẳng của nếp sống đô thị. 

Mỗi anh em giảng sư phải có cách suy nghĩ nhạy bén và thích nghi với từng nơi, không phải nơi nào cũng giống nhau, mỗi hoàn cảnh mỗi khác. Sử dụng cách thích ứng được với địa bàn của mình thuyết pháp giáo hóa thì thành công và phát triển được việc xiển dương chánh pháp. Đó là điều tôi mong ước các giảng sư tương lai thực hiện được để giữ cho Phật giáo có vị trí trong lòng dân tộc mà những vị đi trước đã thành tựu. 

Ngoài ra, có hai việc phụ thường xảy ra trong sinh hoạt Phật giáo mà tôi muốn nhắc nhở, một là trai tăng cúng dường và hai là lễ dâng y. Phật tử Việt Nam thường quen nghĩ rằng trai tăng cúng dường có phước nhiều, sanh lại đời sau không bị đói và cúng y để đời sau ở đâu cũng có quần áo mặc. 

Nghĩ như vậy không đúng. Thế hệ anh em phải canh tân lại hai việc này. Mỗi năm các chùa đều tổ chức lễ dâng y, kêu gọi Phật tử mua sắm vải. Một y chúng ta mặc được năm, ba năm, nhưng nhận nhiều y của họ cúng thì chúng ta làm gì? Bán thì sợ tội, còn may mà để đó thì không nên. Trong luật Phật cũng dạy rằng chúng ta cần có y khác khi y bị mất, hay bị cháy, bị nước lụt lội cuốn trôi. Vì thời Phật ở Ấn Độ thường xảy ra nạn lụt, nhà sư bị mất y, nên mới khuyến khích cúng y. Và người cần y, may y mới thì phải xả y cũ. Chúng ta không cần mà cứ bảo người cúng là không nên. 

Quý thầy thường khuyên Phật tử cúng y cho tôi để được phước, nhưng tôi rất sợ. Mỗi mùa An cư, tôi có quá nhiều y. May không được, bỏ không nên, vô tình chúng ta biến việc này thành hủ tục, dạy Phật tử những điều sai trái. Chúng ta từ chối nhận y, nói với Phật tử rằng ta không xả y cũ, nên không được quyền nhận y mới. Phật tử đạo tràng Pháp Hoa không bao giờ cúng y cho tôi, vì tôi dạy như vậy. Không cần thiết mà chúng ta thọ nhận để Phật tử tốn kém vô ích, lãng phí. Ai cũng biết Phật dạy chúng ta tam thường bất túc, trong đó có việc mặc. 

Thay vì cúng y cho chư Tăng, theo tôi, anh em thuyết giảng ở vùng xa nên vận động Phật tử tặng quần áo cho người nghèo ở vùng xa thì tốt hơn. Các thầy cô trẻ nên suy nghĩ để thay đổi việc làm này trở thành giúp ích cho xã hội thì hiện hữu của chúng ta càng có ý nghĩa. 

Thứ hai là vấn đề trai tăng cúng dường cũng cần suy nghĩ. Nhiều chùa trong nội thành hẹp, nhưng mời nhiều người. Thức ăn dọn sẵn, nguội lạnh, không hợp vệ sinh. Tôi không đi trai tăng là vậy và cũng không khuyến khích việc này. Vì nấu cho nhiều người dùng, nên phải thức đêm làm trước và dọn sẵn, trưa mới ăn mà từ sáng đã dọn ra, để trong không khí ô nhiễm, ăn nhằm chất độc rồi ngã bệnh. Đi trai tăng nhiều, bệnh nhiều, phải uống thuốc, quả là không được lợi lạc. 

Chúng ta nên đặt nhẹ vấn đề trai tăng, nhưng dành nhiều thì giờ để lễ bái, cầu nguyện tốt hơn. Tôi ở Nhật Bản 8 năm không dự trai tăng, vì họ không làm việc này, tôi tham dự nhiều buổi lễ cầu nguyện là chính. Họ thường mời chư Tăng cầu nguyện trước Tam bảo, việc này rất tốt. Tôi nghĩ rằng vừa tổ chức lễ cầu nguyện, vừa làm lễ hành chính, vừa tổ chức ăn uống như chúng ta vẫn thường làm, mà việc ăn uống mất nhiều thì giờ hơn và tốn kém hơn thì e rằng không thích hợp với xã hội mới. Anh em nên suy nghĩ và cải cách vấn đề này. Sinh hoạt hành chính, lễ cầu nguyện, việc ăn uống, việc nào ra việc đó, mới phù hợp với xã hội văn minh. 

Trong lễ cúng dường, làm thức ăn ít thì coi không được. Nhưng tôi để ý các lễ trai tăng, quý thầy dùng nhiều chỉ đến một phần ba thức ăn dọn ra. Nếu đổ bỏ thức ăn thừa thì tội, nấu lại cho người khác ăn thì mất vệ sinh; xã hội thời nay không chấp nhận như vậy. Chỉ những người kém hiểu biết mới nghĩ rằng ăn đồ thừa của chư Tăng được phước. Ở Nhật, mỗi người có khẩu phần riêng, xã hội văn minh không chấp nhận việc gắp thức ăn chung vì vấn đề vệ sinh, tránh lây bệnh truyền nhiễm và bảo vệ được sức khỏe an toàn. Quý thầy nên suy nghĩ để thay đổi những tập quán không tốt. 

Phẩm vật tứ sự như các chùa thường tổ chức cúng dường, theo tôi cũng nên suy nghĩ lại. Vì cúng những gì cần thiết thì người nhận mới sử dụng được, không lãng phí. Theo tinh thần này, hôm nay Phật tử đạo tràng cúng dường quý thầy cô tịnh tài dùng làm phương tiện đi lại, gọi là xa phí. Và tiệc chay gồm những món ăn tự chọn, bên ngoài gọi là tiệc buffet. Mỗi vị từ Thượng tọa trở xuống thích hợp với món ăn nào thì tự đến lấy món đó để vào một khay riêng và lấy vừa đủ ăn, không bỏ thức ăn thừa mứa. Tôi đưa ra một số mô hình kiểu mẫu để gợi ý cho quý thầy cô trẻ thấy được những điểm hay mà suy nghĩ, cải cách sinh hoạt Phật giáo cho thích hợp với thời đại của chính quý vị, ngõ hầu đạo Phật hiện diện trong mọi sinh hoạt xã hội, trong lòng mọi người, trong nếp sống đời thường của họ, để tạo thành một thế giới an lành trên thế gian này.

HT. Thích Trí Quảng

Hoằng pháp ở thế kỷ XXI

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012 | 08:05



        Hoằng pháp ở thế kỷ XXI là đề tài mà hiện  nay tất cả các nước theo Phật giáo đều rất quan tâm. Như mọi người đều biết quả địa cầu mà chúng ta đang sống luôn xoay chuyển, cũng như xã hội luôn thay đổi; nếu Phật pháp không thích nghi với thực tế cuộc sống, chắc chắn Phật giáo sẽ không thể tồn tại trong sinh hoạt của con người.
Lịch sử cho thấy Đức Phật hành đạo vào thời kỳ mà xã hội Ấn Độ phân chia bốn giai cấp một cách triệt để. Nhưng Đức Phật đã chủ trương bình đẳng tuyệt đối, với lời tuyên ngôn bất hủ rằng không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn. Và Ngài cũng đã thực hiện tinh thần bình đẳng ấy trong chính cuộc sống giáo hóa độ sinh, nghĩa là lời nói và việc làm của Ngài đi đôi với nhau, nên Đức Phật được tôn kính là bậc Minh Hạnh Túc.

Thật vậy, Đức Phật từ bỏ ngôi vị đế vương để sống cuộc đời của một người khất sĩ thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn thời bấy giờ. Và Đức Phật đã chuyển hóa được thành phần nghèo khổ nhất trong xã hội như Sunita hốt phân, hay sát nhân Vô Não, hoặc Bàn Đặc nổi tiếng kém thông minh, giúp họ trở thành bậc Hiền Thánh trong xã hội đương thời. 

          Đức Phật dạy rằng không có giai cấp và bản thân Ngài đã thể hiện nếp sống bình đẳng, cũng như Ngài đã phát huy khả năng của những người tu theo Ngài tiến lên quả vị Hiền Thánh. Tinh thần bình đẳng, không phân biệt giai cấp của Phật giáo đến nay vẫn còn giá trị tuyệt đối. Nói đến đạo Phật là phải nói đến tinh thần bình đẳng mà hầu như nhiều quốc gia ngày nay cũng chưa thực hiện được và sự bình đẳng vẫn còn là mục tiêu mà nhân loại mong muốn đạt được.

Xưa kia, khi Ba Tư xâm chiếm Ấn Độ, văn hóa Ấn đã được kết hợp với văn minh Hy Lạp, khiến những người tiếp thu cái mới có tầm nhìn thay đổi. Đương nhiên tư tưởng đổi mới phải gặp sự phản kháng của tư tưởng bảo thủ. Và khi hai cực của tư tưởng phát triển và bảo thủ càng xa thì sự chống đối nhau càng nhiều hơn.

 Trong bối cảnh xã hội Ấn như vậy, nhìn ở mặt nào đó, thấy Phật giáo hưng thịnh nhờ tiếp thu cái mới; nhưng ở mặt khác, Phật giáo bị suy yếu vì tự chống đối nhau. Rõ nét là Phật giáo bảo thủ thời đó e ngại tư tưởng văn minh Hy Lạp xâm nhập làm hư hoại đạo pháp, nên đã cố gắng giữ gìn nguyên vẹn hình thức Phật giáo. Nhưng Phật giáo bảo thủ càng cố gắng duy trì hình thái Phật giáo thì càng rơi vào tình trạng bị cô lập, vì không thích hợp với cuộc sống mới, cũng như không được sự đồng thuận của những người chủ trương canh tân Phật giáo.
          Tư tưởng phát xuất từ thành Tỳ Da Ly là nơi tư tưởng Đại thừa manh nha, chủ trương một số thay đổi đời sống chư Tăng, mà phía bảo thủ gọi là mười điều phi pháp. Thí dụ phía canh tân cho rằng chư Tăng ăn một bữa, nhưng được ăn quá giờ ngọ một lóng tay; trong khi phái bảo thủ nhất định không cho phép ăn quá giờ ngọ. Sự bất đồng này dẫn đến tình trạng Phật giáo tự chống đối nhau. Riêng về điểm này, ngày nay, chúng ta thấy có những vị đã rời luật quá xa, ăn uống không còn giờ giấc; trong khi những vị theo Nam truyền Phật giáo vẫn không ăn quá ngọ. 

          Thực tế có những người bị đau bao tử, một ngày phải ăn nhiều lần, nếu buộc phải theo đúng luật thì họ không thể tiến tu được. Theo tôi, chúng ta cần cân nhắc, tùy theo trường hợp, người nào nên ăn một lần trong ngày, người nào nên ăn hai, ba bữa. Người bị cắt bỏ một phần bao tử thì không thể so với người khỏe mạnh. Tùy theo sức khỏe, nghiệp lực của từng người mà việc ăn uống có khác nhau. Ngoài ra, tùy theo địa phương, có nơi chỉ chấp nhận người tu ăn một ngày một bữa, có nơi không đặt nặng vấn đề này, hoặc tùy lúc mà việc áp dụng luật thay đổi khác nhau. 

            Chúng ta nên suy nghĩ và sống theo tinh thần tùy duyên, cân nhắc xem mình hành đạo ở đâu, vào thời kỳ nào và đối tượng là ai để có sinh hoạt tương ưng thích hợp. Nhật Liên Thánh nhân gọi đó là giáo, cơ, thời, quốc. Căn cứ trên tinh thần tùy duyên, Phật giáo Đại thừa đã thay đổi giới ăn chiều. Luật Phật chế không ăn quá ngọ, nhưng trừ khi bị bệnh có thể ăn cháo buổi chiều, nhưng phải sanh tâm hổ thẹn.
             Về vấn đề ăn uống có nhiều thay đổi tùy theo địa phương và tùy theo pháp môn tu. Ở Nhật Bản, riêng Chân Ngôn tông tu tập, bước đầu ăn cơm, sau đó không ăn cơm mà chỉ ăn rau quả và tiến đến không dùng thức ăn nấu nướng, sau cùng chỉ ăn vỏ cây thông, uống nước thạch tín. Pháp tu của Chân Ngôn tông chủ trương thực tập nếp sống huyền bí như là một phương tiện để cảm hóa người dân thời bấy giờ, vì họ ưa thích pháp huyền bí và chỉ tin theo những ai có đời sống huyền bí. Tuy nhiên, chỉ có Tổ Đạo Nguyên và một vài vị cao tăng chinh phục được xã hội theo cách tu như vậy, vì các ngài đã làm được những việc mà người đời không làm nổi. Còn những người khác không đủ khả năng chuyển hóa chất độc của thạch tín và vỏ cây thông thành chất dinh dưỡng nuôi cơ thể thì đã bị ngã gục. Ở đây cần phân biệt rằng tà giáo làm những việc khác thường để lừa dối những người mê tín dị đoan; trong khi các vị chân tu muốn thể nghiệm chân lý trên cuộc đời, tất nhiên hoàn toàn khác với việc mê hoặc quần chúng. Sử dụng phương tiện tùy duyên, tùy chỗ, tùy thời là vậy.

           Từ cái nôi canh tân ở thành Tỳ Da Ly, tinh thần đổi mới được tiếp tục phát triển. Điển hình như việc không bỏ phí những thức ăn dùng không hết bằng cách muối thức ăn dư vừa tiết kiệm, để dành được thực phẩm, vừa có thêm thì giờ thiền định, khỏi đi khất thực. Như vậy, vẫn giữ được mục tiêu của việc khất thực theo Phật không phải là đi xin ăn, nhưng tiếp nhận thức ăn để duy trì mạng sống cho việc tu hành và cho việc độ đời. Vì thế, Đức Phật đã quán nhân duyên hóa độ nơi nào thì đến nơi đó, không đủ duyên, Ngài không đi. Nhưng việc muối thức ăn để dành không được các Tỳ kheo bảo thủ đồng tình, phê phán là phi pháp.

            Bước theo dấu chân Phật, vai trò của người tu sĩ là hướng dẫn quần chúng sống sáng suốt và an lạc. Vì thế, Phật giáo phát triển cân nhắc trước vấn đề nếu chỉ khất thực và ngồi dưới gốc cây tu hành thì có còn sức cảm hóa được quần chúng không, hay là phải đổi mới sinh hoạt để đáp ứng được yêu cầu của xã hội mới tồn tại. Tất nhiên những người có tinh thần canh tân đã sinh hoạt theo hướng phát triển để cùng nhịp bước đi với sự đi lên của xã hội và phục vụ quần chúng. Chúng ta còn nhớ trong mười hai đại nguyện của Đức Phật Dược Sư, có nguyện thứ 11 và 12 là cho chúng sinh ăn ngon mặc đẹp, cũng không ngoài mục tiêu đem lại nếp sống sung mãn cho quần chúng.

          Vì thế, sau Phật nhập diệt 200 năm, tư tưởng Đổi mới đã xuất hiện, theo đó suy nghĩ thâm ý của Phật dạy và thể hiện qua những điều đổi mới. Điển hình là kinh Duy Ma diễn tả ý này rằng giáo pháp của Phật là phương tiện ví như nắm lá trong tay, có giới hạn; cho nên không thể chấp chặt, mà phải nhận ra được chân lý ba đời của chư Phật chỉ dạy ví như lá trong rừng luôn thể hiện sức sống phát triển theo bốn mùa, không phải chỉ là nắm lá trong tay.

          Xây dựng trên tinh thần phát triển, kinh Duy Ma chủ yếu đề cao Bồ tát Văn Thù và cư sĩ Duy Ma là hai vị Bồ tát tiêu biểu cho hàng xuất gia và tại gia ở tầng cao mới của xã hội; nói cách khác, Phật giáo luôn đi trước một bước, mở ra con đường sáng cho xã hội. Thể hiện tinh thần này, ở nước ta, Phật giáo Đinh Lê Lý Trần đi đầu trong việc xây dựng đất nước. 

            Hôm nay, chư Tăng Ni đại diện cho 54 tỉnh thành Phật giáo phía Nam về tham dự Khóa Hội thảo bồi dưỡng nghiệp vụ hoằng pháp, mong quý vị cho biết sinh hoạt của từng địa phương, để rút kinh nghiệm truyền bá Phật pháp thế nào cho thích hợp. Kinh Pháp Hoa dạy rằng chúng sinh nghĩ gì, cần gì, làm gì; đáp ứng được ba điều này, chúng ta tồn tại, nếu không thì bị mai một. Thực tế cho thấy Thiền sư Nhất Hạnh truyền bá Phật pháp tại các nước Tây phương thành công, vì ngài đáp ứng được truyền thống văn hóa của họ.

Việc thứ hai lớn hơn mà chúng tôi muốn đề cập đến trong cuộc hội thảo là ở thế kỷ XXI, vấn đề tâm linh được quan tâm rất nhiều và việc truyền bá Chánh pháp cần được thực hiện trên siêu xa lộ thông tin. Ở mảng này, Phật giáo có mặt, nhưng còn rất khiêm tốn, chỉ có một số ít tu sĩ trẻ tham gia; trong khi chất độc xã hội đã thâm nhập vào đây quá nhiều. Các giảng sư trẻ có học thức cần nghiên cứu, thực tập tinh thần Phật dạy và cân nhắc xem thời đại chúng ta yêu cầu cái gì để đưa các bài giảng thích hợp vào thông tin siêu xa lộ, tạo điều kiện cho Phật tử thời hiện đại phát tâm, tu học dễ dàng. Đó là điều rất cần thiết. 

          Ngoài ra, tuy hiện nay có thuyết pháp trên mạng, nhưng chưa tạo được món ăn tinh thần cho nhiều người ưa thích; vì không thích hợp với cuộc sống thiết thực của con người. Đưa Phật giáo vào sinh hoạt con người đòi hỏi chúng ta phải thiết thực, đừng rơi vào không tưởng. Chẳng hạn giảng dạy Thiền, bản thân mình phải thực tập được cốt lõi của Thiền là tinh thần ổn định, sáng suốt và sức khỏe tốt, ăn ít, ngủ ít, nhưng loại trừ được bệnh tật. Được như vậy, thì không nói cũng có đủ tư cách của thiền sư; còn đau khớp, suy tim không phải là thiền sư. Trên bước đường tu, cần thuyết pháp trên quả môn là nói bằng thành quả tu tập của chính mình.

         Người tu phải có cái gì vượt lên trên người đời, đầu tiên là vượt trên cái nghiệp, khắc phục nghiệp, giải quyết nghiệp cho tốt. Người tu lúc nào cũng hoan hỷ, sức khỏe tốt, được nhiều người quý mến, cuối đời ra đi nhẹ nhàng. Các vị Thiền sư hay Thánh Tăng đều thể hiện cuộc sống như vậy. Còn mang thân bệnh, tâm buồn phiền, mà đi truyền bá, khó thành công. Hoằng pháp ở thế kỷ XXI phải sống phù hợp với khoa học, nghĩa là chứng thực giáo pháp trong đời sống của chúng ta, làm được những gì ta nói. Tuy nhiên, có những điều mình tâm đắc, nhưng người xung quanh chưa thực hành được thì thôi, chờ đủ duyên mới nói.

        Vì thế, Đức Phật dạy rõ thực tập quá trình văn, tư, tu rồi mới thuyết pháp độ sinh. Chính Đức Phật trước khi chuyển pháp luân, Ngài đã chứng chuyển, tức diệt được phiền não trần lao, Ngài mới khuyến chuyển, là khuyên dạy người khác làm theo. Thiết nghĩ ngày nay, nếu có nhiều giảng sư thành tựu pháp Phật trong cuộc sống, chắc chắn sẽ làm cho Phật tử phát tâm tu theo và Phật giáo hưng thịnh.

        Một điều nữa tôi mong quý vị suy nghĩ là thời hiện đại, Phật tử không có nhiều thì giờ dành cho việc tu tập. Nếu họ phải tu suốt một ngày và tụng kinh quá nhiều, mà không hiểu và không thực tập được gì, họ sẽ dễ chán, dễ bỏ cuộc, thậm chí than rằng tụng kinh nhiều khô cổ. Tụng kinh đúng theo Tổ dạy trong kinh Pháp Hoa là “Hầu trung cam lộ quyên quyên nhuận”, chẳng những không khát nước, không khô cổ, mà còn cảm thấy vị ngọt theo từng câu kinh. Thực tập điều này, tôi ít uống nước, không ra mồ hôi, ít bị cảm cúm. 

        Để đáp ứng điều kiện cho Phật tử tu học không có nhiều thì giờ, tôi rút gọn tinh yếu của kinh Pháp Hoa thành Bổn môn Pháp Hoa để có thể đọc tụng mỗi ngày, chỉ mất 20 phút, Phật tử còn thì giờ làm việc, nên rất nhiều người áp dụng theo.

          Tóm lại, quý Tăng Ni suy nghĩ xem những việc gì chúng ta cống hiến được cho cuộc đời, làm an lạc cho nhiều người, thì người hoằng pháp sử dụng vô số phương tiện để tùy duyên hành đạo mới thành công, giúp cho Phật giáo trường tồn. Ý này được Tổ sư dạy rằng: “Đại dụng tại tiền, quyền tại thủ”. “Đại dụng” là chân lý mà ba đời chư Phật chứng đắc, “Quyền” là tất cả những phương tiện có trong tay được sử dụng thiên biến vạn hóa, vì tùy chỗ, tùy lúc, tùy người mà chúng ta thể hiện vô số việc làm khác nhau, nhưng đều có cùng một mục tiêu dẫn đến cuộc sống an lạc, giải thoát cho mọi người. Tiến bước trên lộ trình này, Phật giáo mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại thoát khỏi thù hận, chiến tranh, khổ đau, tạo thành thế giới hiểu biết, thương yêu, cảm thông, chia sẻ, an vui và phát triển.
 HT. Thích Trí Quảng

Kinh nghiệm hoằng pháp

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012 | 21:44



   
Hôm nay tôi có thể nói về kinh nghiệm của tôi cho quý vị, tôi lấy vấn đề hoằng pháp lợi sanh, kinh nghiệm làm bất cứ việc gì phải tập trung, phải quan tâm và hết lòng vì việc đó thì chúng ta mới thành công được, chúng ta phải chia ra Hoằng pháp chuyên nghiệp và Hoằng pháp nghiệp dư. Hoằng pháp nghiệp dư thì ai cũng có thể làm, gặp cơ hội là làm, còn hoằng pháp chuyên thì phải phải thực tu và thực học sống bằng con tim và khối óc của mình đối với nghành hoằng pháp.


 Tôi say mê việc hoằng pháp nầy từ khi chưa thọ cụ túc giới, từ thập niên 50 của thế kỷ trước, thì lúc đó giảng sư rất là khan hiếm, đi vùng sâu, vùng xa thì không có người đi. Lúc nầy Trưởng Ban Hoằng Pháp là HT. Thiện Hoa, HT hỏi tôi: “Con có dám đi không? trong thập niên 50, việc này rất là khó, bây giờ các Thầy giảng sư không ai đi hết, lúc đó đi về miền Lộc Ninh, Bà Đá, Xuân Điền, nơi di dân, giảng sư đã khan hiếm rồi, mà đi về vùng đó thì ít có giảng sư đi. Tại vì tôi đã thích làm việc nầy, cho nên tôi hoan hỷ nhận lời cho việc hoằng pháp ở những vùng này.
Khẩu hiệu HT Thiện Hoa lúc bấy giờ là chúng sanh cần thì ta đến, thành ra vùng sâu vùng xa, vùng chiến tranh thì người ta mới cần, còn nơi thành thị người ta đâu cần, nếu mình không đi thì tội nghiệp. Tôi tình nguyện đi, cái nầy là sự nhiệt của tôi. Các thầy ra làm việc, nếu chúng ta có nhiệt tình cao, thì chúng ta quên hết mọi khó khăn. Lúc đó chúng ta cảm nhận được một cái gì như sức mạnh gia bị siêu hình gia bị cho ta , tôi gọi đó là Phật pháp. Cho nên ta đi ra làm việc đó, thì đương nhiên thầy, bạn rất thương chúng ta, vì đây là một việc hy sinh. Chỗ nào có quyền lợi thì chỗ đó có tranh chấp, chỗ nào có hy sinh thì chỗ đó mới có Thánh hiền, kinh nghiệm tôi, tức là có Thánh hiền, có Chư Phật là ở nơi có khó khăn, nguy hiểm mà ta tới đó làm với tất cả tấm lòng. Anh hùng xuất hiện từ chỗ đó, tiên Phật cũng xuất hiện từ chỗ đó, chúng ta muốn làm tiên Phật thì phải không sợ gian lao.

Lúc đó tôi là thị giả HT, nên tôi rất tâm đắc, và chính không sợ khó nhọc, không sợ gian lao nầy mà tôi làm được. Chỗ mình đi đến anh em đồng tu học với mình, đó là kinh nghiệm thứ nhất trong đời tôi, khi bắt đầu đi hoằng pháp ở Bàu Đá, bây giờ thuộc tỉnh Bình Phước, Bình Long. Tất cả các anh em muốn làm việc nầy thì phải không ngại gian lao, không từ khó nhọc. Nơi nào cần mình tới, việc nào cần thì mình làm, việc làm nào cũng có rốt ráo giá trị và rất đáng được biểu dương. Từ đó, chỗ nào có tranh chấp thì thôi, ta tránh đi, vì đó là điều lợi chết người. còn những chỗ gian lao, khó nhọc, nếu ta chết thì là chết vinh quang. Đây là kinh nghiệm thứ nhất.
Kinh nghiệm thứ hai, có thể nói là thành công của tôi là vì tôi say mê trong học hỏi, tìm tòi cho nên lúc bấy giờ nghe vị giảng sư nào nổi tiếng, giảng ở đâu thì tôi tìm cách tôi tới đó, tôi là Tăng chúng, tôi học, học cái nầy rất là tuyệt, lúc đó tại vì mình là người đứng bên ngoài quan sát. Mình thấy được thái độ, cái cử chỉ, cái ngôn ngữ của giảng sư, mình thấy cái nào chấp nhận được và cái nào không chấp nhận được, tự rút kinh nghiệm cho bản thân, tức là phải học thôi. Học Kinh nghiệm của người trước để hoàn thiện cho chính mình.

Trong lúc quan sát về cử chỉ, thái độ, lời nói của vị giảng sư, ta cũng quan sát luôn cả thính chúng, cho nên tôi thấy có những buổi giảng rất là buồn tẻ, có những buổi giảng rất là linh hoạt. Thì bây giờ chúng ta thấy cái buồn tẻ là từ đâu ? Giữa người nói và người nghe không khớp với nhau. Cái linh động là giữa người nói và người nghe là hiểu biết lẫn nhau và chuyển hóa trong buớc đuờng tu niệm. Cho nên bước đường tu của tôi, hoằng pháp làm sao, khi nào người nói và người nghe là một, thì buổi giảng nầy mới có kết quả, như vậy mà tôi có được, thấy được của nguời khác rồi tự điều chỉnh chính mình. Có các Thầy giảng sư giảng thì cứ giảng, người nghe thì mặc người nghe thì tôi nghĩ bủôi giảng như vậy không thành công. Chúng ta không nên làm như vậy, mà chúng ta nên cân nhắc, điều họ muốn nghe thì ta nên nói, điều đó quan trọng, chỗ nầy là kinh nghiệm cho tôi.

 Khi nào tôi được mời đi giảng ở đâu, thì tôi cố tìm hiểu ở vùng đó trước. Yếu tố thành công là ở chỗ đó, có các Thầy hỏi tại sao mà tôi đi đến mấy vùng xa lạ, tôi điều nói người ta nghe được. Tôi để tâm tới việc nầy, tìm hiểu về điều nầy, học tập ở điều nầy, Học hỏi với Thầy, học hỏi với bạn, đó là việc quan trọng, thành ra khi tôi đi ra Đà nẳng giảng, lúc trước thì HT Mật Thể còn, cho nên tôi tới đảnh lễ các Ngài trước và xin các Ngài chỉ bảo cho phong tục, tập quán ở vùng nầy. Cái gì nên tránh và cái gì nên làm. đây là điều quan trọng, không thể chủ quan được. Ta không thể đem cái của ta áp đặt, nhưng ta chỉ trao đổi với mọi người, giúp đỡ cho họ, phát triển trí tuệ của họ, thì điều nầy có thể chấp nhận. Đây là những kinh nghiệm trên bước đường hoằng pháp lợi sanh. Cho nên đi giảng ở đâu, ta nên nghiên cứu kỷ những vùng mà ta đi tới. Tôi đi về miền Tây Nam Bộ tôi giảng có nhiều người tìm tới tôi để hỏi, tại sao vậy? tôi nói những điều Tại sao tôi nói như vậy, tại vì tôi biết , tôi tới đây để nói với những người bạn mà nói với những người bạn thì tôi phải nói những gì liên quan đến bạn, ta tránh mất lòng những Tôn giáo bạn, ta đi tới đâu mất lòng người đến đó thì đó là điều rất buồn , ta phải tìm hiểu kỷ chỗ đó, cái vùng nầy có bao nhiêu tôn giáo và tôn giáo nào sinh hoạt như thế nào và chánh quyền địa phương đó họ đối đãi với các tôn giáo và đối đãi với ta như thế nào, thành ra ta nắm được tình hình nầy thì chúng ta có thể giảng có kết quả tốt đẹp. Có thầy hỏi tại sao tôi đi giảng người ta nghe được, chấp nhận được. Tôi biết trứoc chuyện nầy rồi, không phải như mấy Thầy nghe nói giảng thì đi, có ai mời thì đi. Phải hiểu rõ, nắm rõ tình hình nơi đó. Chính quyền đối với Phật giáo như thế nào? ngoại đạo ở vùng nầy như thế nào? ta phải nắm và chính người mời ta tới giảng, cái nhân thân họ như thế nào? Nếu người mời ta là Ban trị sự, Ban Đại diện và được Chính quyền địa phương cho phép, thì ta tới đây rất an ổn. Đương nhiên ngày nay, việc tu hành rất khó khăn, người ta giảng có tư cách cho nên chánh quyền ở đây cũng rất ủng hộ. Ta triển khai được trong lúc đó có một số quý Thầy ở trong cái thời tôi đều bị thất bại, khi nào có một người nào đó mời thì cứ đi., rồi xuống đó tha hồ muốn nói gì thì cứ nói. Như vậy thất bại, tại gì Thầy mời ta là muốn lợi dụng mình làm việc gì đó, tránh bị người khác lợi dụng. Tại gì người ta muốn mời ta xuống không suy nghĩ cân nhắc điều đó, chúng ta dễ thất bại. Có một số Thầy rất giỏi, nhưng không làm gì được. Có một số Thầy xuống nơi giảng, không được BTS ở đó ủng hộ. Thầy trụ trì nầy chống lại BTS, chống lại BĐD, thậm chí có một vấn đề nào đó với Chánh quyền thì việc nầy chúng ta nên cẩn thận, thành ra ta tới đó phải thận trọng truớc khi giảng. Mà nếu ta giải hòa được mâu thuẩn giữa Phật giáo và chính quyền, giữa chùa nầy và Ban Trị Sự, ta đóng góp cho sự đoàn kết cũng tốt. Còn ngược trở lại, gây mâu thuẩn thì không được. Có một số quý Thầy tốt nghiệp giảng sư cao hay trung cấp, đi về các tỉnh làm việc. Một số gặp khó khăn. Ta tới đâu cố gắng kết hợp với Ban trị sự, nhất là Ban Hoằng pháp ở đó, ta giảng làm tăng uy tín cho BTS, cho Ban Hoằng Pháp địa phương thì ai mà không ủng hộ. Kinh nghiệm tôi đó là điều mà ta nên cân nhắc khi đến với đạo tràng.

 Điều thứ ba Kinh nghiệm của tôi là học ở người trước. Có thể nói sự thành công của tôi trên đường Hoằng pháp vì nhờ từ nhỏ tôi đã học với HT Thiện Hoa. Sau nầy tham gia vào GHPGVN thống nhất, ít nhiều tôi học ít nhiều ở HT Trí Thủ, để tôi có kinh nghiệm Hoằng pháp là do các kinh nghiệm của người đi trước cộng với hiểu biết của mình nữa, ứng dụng vào trong thời đại của mình. Kế thừa kinh nghiệm của HT Thiện Hoa, HT Trí Thủ, tôi cũng thấy chưa đủ, khi sang Nhật, tôi đi vào các tổ chức, các giáo phái, phải tu thật nhuyển, phải học thật nhiều. Học cái cách lãnh đạo quần chúng, học cái cách truyền tải tư tưởng Phật giáo đến quần chúng.

Lúc bấy giờ, tôi thấy Phật giáo Nhật và các nước ở xung quanh có cái mà ta cần học hỏi. Đó là tổ chức Hội đoàn Phật giáo, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền qua đó học kinh nghiệm về xây dựng Hội Phật học Nam Việt, tổ chức quần chúng cái nầy quan trọng. Hoằng pháp hay chỉ dành riêng cho các nhà sư ta không, vì các nhà sư ta đông, các giảng sư ta đông, các thầy nói là không có đất. Tại việc mình làm bị hạn chế, tổ chức quần chúng không có thì ta hoằng pháp ở đâu, hoằng pháp cho ai ? Chúng ta xác định, là ta nói cho quần chúng nghe? Lúc bấy giờ phải có quần chúng cho ta nói chứ, cho nên việc tổ chức quần chúng cái nầy là quan trọng, nên tôi thấy tổ chức quần chúng Phật giáo Nhật ở bên đó, Hội đoàn cư sĩ lúc nầy thì đã trên 16 triệu tín đồ, hội đoàn cư sĩ nầy mới nắm hết quần chúng , chúng ta là nhà sư, làm sao chúng ta sống với họ được, tại gì những người cư sĩ nầy quan hệ với nhau về nghề nghiệp. Họ là đồng nghiệp nên dễ nói chuyện, dễ tiếp xúc. Họ có thể ăn uống với nhau bình thường. Ta là nhà sư đâu có thể ăn nhậu với họ đuợc. Vì vậy, ta nhìn sau lưng vị giảng sư nào có doanh nghiệp ủng hộ, có Hội đoàn ủng hộ thì sẽ có kết quả. Cái thành công trong ngành Hoằng pháp của tôi, trước mắt là nhờ Đạo tràng, đó là lực lượng quần chúng. Ở phía Bắc, tôi đã thành lập được trên 40 Đạo tràng Pháp Hoa, tức là trên 1 vạn, ngày nay tôi không làm Trưởng ban Hoằng Pháp nữa, tôi đem 40 Đạo tràng nầy giao cho Thầy Bảo Nghiêm tiếp tục, tại vì lấy lực lượng quần chúng nầy làm cơ sở để hoạt động hoằng pháp, tức là lấy cái lực lượng nầy làm cơ sở cho nên lực lượng quần chúng rất cần thiết.
Tổ chức quần chúng, quản lý quần chúng, hướng dẫn quần chúng đi theo con đường của Chánh pháp. Đây là việc rất quan trọng. Cho nên không có quần chúng thì không có làm được. Từ việc tổ chức quần chúng nầy, nước Việt Nam chúng ta thường rơi vào hoàn cảnh xây dựng chùa chiền, khi mà chúng ta xây dựng nhiều quá, ta quyên góp nhiều quá, Phật tử không có khả năng đóng góp nữa, họ mệt mõi, chán nản, cho nên cố gắng tập hợp quần chúng, cố gắng nuôi dưỡng quần chúng nầy với Phật giáo chúng ta, người Nhật không coi việc xây dựng cơ sở vật chất là quan trọng, tổ chức quản lý con người quan trọng hơn, con người quyết định tất cả . Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa: ‘Thế gian tướng thường trụ”, có nghĩa là thường trụ Tam bảo nằm ở trong con người nên con người còn tin Tam Bảo thì khi đó tương lai còn tồn tại. Cho nên khi nào con người không còn tin Tam bảo thì ta tìm phương hướng khác, khi nào quần chúng dư dã, thì lúc đó ta có thể phát động thêm nhiều việc khác, nhưng khi quần chúng khó khăn thì ta phải biết chia sẽ với họ. cho nên hướng dẫn quần chúng tu học phải đúng, người Nhật không cất chùa nhiều, nhưng họ cất trung tâm hoằng pháp nhiều.
Các thầy cất lập trung tâm hoằng pháp, trung tâm đó có thể là một cái chùa, một cái nhà, một cái điểm tập hợp. Trung tâm Hoằng pháp có thể là một cái nhà cư sĩ nào đó, Chư Tăng chỉ cần đặt, đầu tư một tủ kinh sách, băng đĩa. Tất cả những Phật tử ở khu dân cư nầy, ở xóm nầy, họ tập trung lại, cùng nhau tụng kinh, nghe băng giảng, cái nầy chúng ta không tốn kém nhiều, nhưng mà hiệu quả thì cao.
Cho nên khi chúng ta nghe một thời giảng hay thỉnh 1 giảng sư từ thành phố HCM ra Tp Đà Nẵng giảng thì vé máy bay đi hết bao nhiêu? phương tiện đi lại thì khó khăn, nhưng mà chỉ có một điểm nào đó thôi, hoặc chỉ một số nào đó thôi, còn ta cho nghe băng giảng như thế thì vẫn có kết quả. Một mình tôi mở 40 Đạo tràng, cả vạn người ở phía Bắc. Phật tử tới đây tụng kinh, Phật tử tới đây niệm Phật, học hỏi giáo lý Phật. Tôi tìm hiểu và học hỏi cái hay của người ta, mang về chùa. Cho nên, mỗi Thầy thử ứng dụng, thì chừng năm mười trung tâm thôi, một người có chừng 5, 10 trung tâm thôi thì trong cả nước ta có mấy nghìn giảng sư là như vậy, mỗi giảng sư có chừng 10 trung tâm thì 1000 giảng sư ta có khoảng 1 vạn Phật tử.

Đây là điều chúng ta cần nhất của ngành Hoằng pháp. Với 10 trung tâm đó, giảng sư xoay chuyển vòng vòng, cho nên một vị giảng sư cố gắng, một tháng ta đi thăm trung tâm nầy, một tháng ta đi thăm trung tâm khác, có điều gì đó, ta trao đổi, nhắc nhở, thì trường hợp nầy ta nghĩ sẽ thành công. Lâu nay chúng ta cũng làm công tác hoằng pháp, nhưng mà không đi vào trong tổ chức, cho nên làm việc chung chung, đôi khi dẫm chân nhau, hiệu quả không tốt. Nếu mà các vị giảng sư, đi ra ngoài trung tâm mình xây dựng thì phải coi trung tâm nầy của ai ? Ai làm trưởng ban Hoằng pháp tỉnh nầy, ai phụ trách vùng nầy, ta đến đó, không làm riêng, nên kết hợp để giúp cho hoằng Pháp chỗ đó. Như vậy, chính chúng ta đã giúp cho Giáo hội chúng ta rồi. Nếu chúng ta tới đó mà làm cái gì riêng nữa thì vô tình chúng ta gây mâu thuẩn cho Giáo hội, gây bất lợi cho quẩn chúng.
Kinh nghiệm Hoằng pháp của tôi : điều thứ nhất chính là phải học, thứ hai về tổ chức quần chúng và quản lý quần chúng, cái phần nầy coi như là quan trọng nhất. khi mấy Thầy tổ chức được quần chúng, mà quần chúng theo mình, đương nhiên là ta không thể nào áp đặt cái gì, Đạo Phật chúng ta có cái hay áp đặt, nhưng mà chúng ta phục vụ cho quần chúng, cái nầy là chính yếu. Họ theo chúng ta, để họ học, chứ ta không áp đặt. có các Thầy, học giáo lý , rồi đem giáo lý của mình áp đặt cho họ. Nếu họ không theo thì họ bực bội., phiền não nổi dậy thì coi như thất bại hòan toàn. Nhiều khi nó nghe lời mình, mình dạy nó không chịu, như vậy là sai rồi. Kinh nghiệm của tôi là phải lắng nghe quần chúng. Đức Phật ngài thành vô thượng Chánh đẳng chánh giác rồi, nhưng vì Ngài lắng nghe quần chúng, Ngài hạ giáo pháp của Ngài xuống ngang tầm của họ, quần chúng họ nghe. Đức Phật đắc đạo, đã dùng vô số phương tiện, nhiếp hóa họ, làm cho quần chúng yêu thích và bằng lòng. Chúng ta suy nghĩ gì khi Đức Phật thành Phật rồi, mới đi giáo hóa.

Khi Ngài thành Phật rồi, thì Ngài nói gì ai cũng nghe hết, cho ta thấy được có cái gì khác nhau đây, trước khi thành Phật Ngài cũng là một chúng sanh và sau khi thành Phật thì như thế nào? Khi còn là chúng sanh, ta nói nó nghe và nó nói ta nghe, như vậy là cãi nhau thôi, không ai muốn nghe ai hết. Như thế đòi hỏi cần phải tu, khi có sự tu, lúc nầy ta chỉ muốn nghe mà không muốn nói, đến một lúc nào đó, ta không muốn nói và cũng không muốn nghe. Nếu không lo tu thì khi nói ai nghe mình và khi muốn nghe cũng không ai nghe, đây là kinh nghiệm của tôi, mấy thầy cần suy nghĩ.

Lúc đó, tôi gặp HT Thiện Hưng, cũng rơi vào tình cảnh giống như tôi, Ngài có phát nguyện 10 năm không nói và không nghe gì hết. Người ta ra trường thì đi giảng, còn HT thì đi ẩn tu, HT Bửu Huệ cũng đi ẩn tu 10 năm, quý Thầy ai cũng đi ẩn tu 10 năm hết, trong 10 năm không nói và không nghe gì hết, sau nầy người ta muốn nghe 10 năm mình tu những gì? Hai vị HT nầy không muốn nói gì và không muốn nghe gì, 10 năm sau, HT Thiện Hòa tìm đến cốc lá của HT Bửu Huệ ở Tân Hương để mời về, HT Thiện Hòa biết HT Bửu Huệ chuyên tu, mời về lãnh đạo chùa. Về điều nầy cho ta suy nghĩ gì, ta chỉ mới có học không mà chưa có tu, mà quần chúng cần ta là ở chỗ ta tu, cho nên một số anh em học tới địa vị tiến sĩ, thạc sĩ nghĩ rằng: mình cao, mình giỏi rồi, chưa chắc gì địa phương nghe mình đâu, ta có tu thì người ta mới nghe ta, quần chúng theo ta để tu chớ, Đức Phật chúng ta tu để đắc đạo, chúng ta không thể đắc đạo như đức Phật nhưng ta cũng phải đắc đạo như những vị giảng sư tiền bối chứ. Các vị đi trước ta mà thành đạt được, cho nên tôi cũng cố gắng thông đạt như HT Thiện Hoa, Thiện Hòa, chứ tôi không nghĩ thông đạt như đức Phật Bổn sư Thích ca , làm được như những vị giảng sư tiền nhiệm, như vậy là tốt rồi. Vì các Ngài đều có tu, khi tôi đi hầu HT Thiện Hoa làm thị giả, thì tôi thấy khuya nào 3 giờ sáng Ngài cũng đều thức dậy tụng kinh hết, xong rồi thì lúc bấy giờ HT mới ngồi trên bàn, viết sách sọan bài, thời gian ngày nào cũng như ngày nào, tôi mới học được điều nầy. Cho nên từ thời đó, từ thập niên 60 cho đến bây giờ, trải qua mấy chục năm, tôi luôn giữ thời khóa 3 giờ sáng để tụng kinh, tôi học theo HT, chính nhờ đem Phật vào lòng, đem Pháp vào lòng , nó trấn áp được phiền não khi ta vào đời. Cho nên nhờ có Phật, có kinh, mà ta luôn thấy lúc nào HT Thiện Hoa cũng cười hoan hỷ, dầu hòan cảnh khó khăn nguy hiểm như thế nào đi nữa, nhưng lúc nào cũng thanh thản vì sao vậy? Vì trong lòng lúc nào cũng có Phật. Nếu mà các giảng sư chúng ta chỉ dấn than hành đạo, mà không có Phật, có kinh trong lòng thì khi ta gặp chuyện khó khăn thì lúc bấy giờ không có điểm tựa trong lòng, ta dễ bị phiền não.

Tôi đi theo HT Trí Thủ, mặc dầu Ht tuổi lớn, nhưng ngày nào 3 giờ sáng Ngài cũng thức dậy, lạy 1 thời sám hối, có lần tôi đi với HT ra Bắc, ở chùa Quán Sứ, mùa Đông lạnh quá, HT để cái khăn ướt bên cạnh đó,, hì hục lạy, tôi mới nói HT, hôm nay HT không được khỏe, HT nghĩ, mai lạy, HT nói bữa nay còn lạy được, không lạy, biết ngày mai còn lạy được nữa không ? Cho nên quý vị phải lập chí tu hành, những điều làm nên đạo nghiệp cần lưu tâm. còn các vị ta gặp trên đường tu học, học cả ở những người thành đạt và rút kinh nghiệm ở trường hợp ngược lại. Học ở quá khứ, ở những người đi trước, siêng năng đọc sách vỡ. Cho nên tôi thường nói, tôi sống với những người đã chết, các bậc danh tăng học để lại những điều quý báu, ta áp dụng. Do đó, việc học là một điều rất quan trọng, cái nầy tôi nói ta học ở quá khứ, nhưng ta biết thêm một điều lịch sử không dừng lại, tất cả quá khứ nầy cho ta thêm kinh nghiệm, nhưng ta phải sống trong hiện tại và nó diễn tiến trong tương lai. Vì vậy, trong giai đọan nầy ta nói là hội nhập. Hoằng pháp trong thời Pháp thuộc, hoằng pháp trong thời Ngô Đình Diệm, là Hoằng pháp trong giai đọan hiện nay, vậy hoằng pháp phải như thế nào? Tới bây giờ, vẫn nghe PHPT của HT Thiện Hoa là không phù hợp nữa…Trong thời kỳ hội nhập, ta phải quan sát thật kỷ

-         Chính sách của nhà nước

-         Thái độ của những người lãnh đạo tại địa phương, của nhà nước đối với Phật giáo.

Hôm nay, có thể tập trung để đào tạo, bồi dưỡng Hoằng pháp ở cả ba miền. mỗi nơi làm việc mỗi khác, khi tôi đề nghị TT Bảo Nghiêm lên Trưởng Ban Hoằng Pháp, thì mở khóa Hoằng pháp đầu tiên ở Thái Nguyên, ĐakLak. Tại sao ở tỉnh nầy mở được mà ở các tỉnh khác không mở được, vì nơi đó có sự ủng hộ. Qua việc nầy ta thấy nhà nước ủng hộ Phật giáo như thế nào và Phật tử khao khát học giáo lý như thế nào, ta đều tùy cơ ứng biến, đòi hỏi chúng ta phải có học, có tu, phải có sở đắc. Học không chưa đủ, tu không chưa đủ, phải có sở đắc, có trí tuệ. Thực hành giáo lý để phát sanh ra trí tuệ, thấy được lý nhân duyên thì như vậy, việc hoằng pháp sẽ đạt kết quả tốt.

Đó là kinh nghiệm của tôi trong việc Hoằng pháp.

HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch, Trưởng ban PG Quốc Tế, 

                     Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học VN, 

                      Chứng minh Ban Hoằng pháp TW GHPGVN
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com