Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lược sử về đức Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lược sử về đức Phật. Hiển thị tất cả bài đăng

Ý nghĩa Phật Đản PL. 2550 – 2006

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012 | 02:05



Năm nay, Đại lễ Phật đản bừng lên sức sống hân hoan mãnh liệt khi Liên Hiệp Quốc đã kết hợp với khoảng 80 thành viên thuộc 14 quốc gia và vùng lãnh thổ là Thái Lan, Australia, Campuchia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Myanmar, Singapore, Sri Lanka, Đài Loan, Mỹ, Anh, Pháp và Việt Nam để tổ chức mừng Ngày Phật đản của Liên Hiệp Quốc. Đại lễ Phật đản sẽ được diễn ra từ ngày 7-5 đến ngày 10-5-2006 tại Trung tâm Buddhamonthon, Bangkok, với sự tham dự của khoảng 30.000 Tăng Ni và Phật tử, trong đó có nhiều nhà lãnh đạo Phật giáo khắp thế giới.


Phật giáo Việt Nam chúng ta cũng rất hân hoan tham dự với tư cách là thành viên trong Ban Tổ chức Ngày Phật đản của Liên Hiệp Quốc. Trong đại lễ này, có các sinh hoạt tôn giáo và học thuật như các buổi hội đàm quốc tế về Phật giáo, các cuộc triển lãm văn hóa Phật giáo và chương trình văn nghệ Phật giáo của các quốc gia tham dự, v.v... Là nước chủ nhà đảm nhận tổ chức một Đại lễ Phật đản mang tầm vóc quốc tế như thế, cho nên Hoàng gia Thái Lan đã sử dụng số tiền khá lớn, đến hai triệu rưỡi Mỹ kim để cuộc Đại lễ Phật đản được trang nghiêm long trọng tương xứng với ý nghĩa và vai trò của Phật giáo trong thời hiện đại. Thật vậy, ngày lễ Phật đản của Liên Hiệp Quốc nói lên vai trò cần thiết của đạo Phật ngày nay, cũng như phương cách sống hòa hợp, phát triển, an lạc, hạnh phúc, hòa bình mà Đức Phật chúng ta đã chỉ dạy, vẫn mãi mãi có giá trị thiết thực vô cùng cho cộng đồng nhân loại trên trái đất này.


Riêng đối với đất nước Việt Nam, Phật giáo đã thấm sâu vào lòng dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc trong nhiều lãnh vực hoạt động của đất nước trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Và những tinh ba của đạo Phật đã chỉ đạo cho các vua quan nước Việt một thời dựng nước, giữ nước thật tốt đẹp, đem lại hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc cho muôn dân. Đặc biệt là tinh thần Bồ tát đạo với hạnh xả kỷ vị tha đã soi sáng cho hàng Tăng Ni và Phật tử Việt Nam từ nghìn xưa cho đến tận ngày nay, tiến bước trên con đường xoa dịu khổ đau và mang an lạc, hiểu biết, hạnh phúc đến cho mọi người.

Bước theo dấu chân Phật, với tầm nhìn sáng suốt mà kinh điển thường diễn tả là tri kiến như thật, chúng ta nhận chân được rằng Đức Phật vẫn hiện hữu ngời sáng trong chính cuộc sống của chúng ta, trong tư duy và trong việc làm của mọi người đang nối gót theo Phật trên khắp năm châu bốn biển.

Hồi tưởng lại cách đây hơn 25 thế kỷ, Đức Phật đản sinh ở vườn Lâm Tỳ Ni. Đó là một trong những thị hiện sanh thân của Đức Phật Thích Ca trên cuộc đời này, mà chúng ta quen gọi là Đức Phật sinh diệt. Vì cuộc sống ở thế gian chịu sự chi phối của quy luật sinh diệt, cho nên Đức Phật tất yếu mang thân hữu hạn của con người sinh diệt như một phương tiện để có thể giáo hóa chúng sinh trong thế giới sinh diệt. Nhưng mục tiêu chính yếu của Đức Phật khi hiện hữu ở thế giới sinh diệt này là nhằm chỉ cho chúng ta thấy biết thế giới vĩnh hằng bất tử và hướng dẫn chúng ta phương cách sống trong thế giới vĩnh hằng bất tử. Theo Phật, thế giới vĩnh hằng bất tử ấy không phải ở tận phương trời xa lạ, xa xăm nào, mà đó chính là sự hiện hữu của Phật pháp trong chính cuộc sống của con người.

Vâng, quả đúng như tinh thần Phật dạy, giáo pháp của Ngài tồn tại mãi mãi trong dòng chảy vô tận của cuộc sống con người. Sanh thân Phật tuy đã vắng bóng trên cuộc đời, tức Phật sinh diệt đã nhập diệt, nhưng Pháp thân Phật từ đó bắt đầu phát triển, thế giới vĩnh hằng bắt đầu mở rộng, để giúp hàng đệ tử Phật có tầm nhìn hướng đến con người vĩnh hằng bất tử của Đức Phật. Và kỳ diệu thay, con người bất tử vĩnh hằng của Đức Phật, tức là Pháp thân Phật cứ lớn dần mãi theo năm tháng; thời gian càng lâu xa, Pháp thân Phật càng trở nên vĩ đại.

Tinh ba này được kinh Pháp Hoa diễn tả là "Thế gian tướng thường trụ”, nghĩa là Phật thường sống trong thế gian, Phật thường hiện hữu trong nếp nghĩ, nếp sống của con người là chính yếu. Cốt lõi này cũng được nhắc lại trong kinh Pháp Hoa, phẩm Như Lai thọ lượng, thứ 16, Đức Phật khẳng định rằng Ngài ở thế giới này thành Phật với tên là Thích Ca Mâu Ni, nhưng khi Ngài giáo hóa ở quốc độ khác thì ngài có tên khác. Ý này gợi cho chúng ta nhận thức được tính chất “Vô sanh hiện sanh” của Đức Phật; nói cách khác, con người vĩnh hằng bất tử của Phật là một, nhưng Ngài xuất hiện dưới nhiều sanh thân khác nhau ở những thế giới khác nhau với tên khác nhau. Đó là Phật ứng hóa thọ sanh thân để khơi mở cho mọi người nhận ra tính vĩnh hằng bất tử  của Phật, cũng như nhận ra tính vĩnh hằng bất tử ấy tiềm ẩn trong chính mỗi người chúng ta.

Theo Phật dạy, chúng ta cũng có tính vĩnh hằng bất tử như Phật, nhưng vì chúng ta chưa phát triển được tính vĩnh hằng bất tử ấy một cách trọn vẹn như Phật và chúng ta cũng chưa sử dụng được tính chân thật vĩnh hằng ấy giống như Phật. Trong khi Đức Phật đã phát huy hoàn toàn  tính vĩnh hằng bất tử của Ngài, tức Pháp thân Phật đã thành tựu trọn vẹn và Ngài đã điều động được, sử dụng được Pháp thân ấy một cách hoàn toàn tự tại trên bước đường giáo hóa độ sinh.

Có thể khẳng định rằng sanh thân của Đức Phật Thích Ca đã nhập Niết bàn, nhưng ngày nay, chúng ta thấy khắp năm châu bốn biển, nơi nào cũng có sự hiện hữu của Pháp thân Phật, chịu sự tác động của Pháp thân Phật; nghĩa là có vô số kinh sách lưu truyền những lời vàng ngọc của Phật, vô số người diễn giải tư tưởng siêu tuyệt của Phật, vô số người quy ngưỡng Phật, vô số người phát tâm sống theo giáo pháp Phật, phát huy được tri thức và đạo đức, vô số tổ chức tự nguyện dấn thân thực hiện những việc làm lợi ích, tốt đẹp cho đời theo tinh thần từ bi Phật dạy… Trong tâm trí của mỗi người đệ tử đi theo dấu chân Phật luôn được thắp sáng bởi ngọn đuốc từ bi và trí tuệ, được thể hiện thành những lời nói, những việc làm mang an vui, hạnh phúc, hòa bình cho cuộc đời này. Tất cả những thành quả tốt đẹp của hàng hàng lớp lớp đệ tử Phật trên khắp năm châu đã tạo thành hình ảnh Pháp thân Phật bao la, kỳ vĩ, vượt thời gian và không gian trong thế giới sinh diệt này.

 Nhận ra sức sống vĩnh hằng bất tử của đạo Phật, thấy được sự hiện hữu vững mạnh của Phật trong lòng nhân loại cùng những thành quả xác thực đầy giá trị thực hiện bởi hàng đệ tử Phật ở khắp mọi nơi, cho nên Liên Hiệp Quốc đã tổ chức Ngày Đản sinh của Đức Phật một cách trọng thể và hướng đến quốc tế hóa và lễ hội hóa ngày Phật đản.

 Riêng giới Phật giáo Việt Nam, hàng xuất gia cũng như tại gia đã được thừa hưởng sự nghiệp vô cùng quý báu của các bậc tiền nhân, cần nỗ lực phát huy tri thức và đạo đức, thể hiện Pháp thân Phật vững mạnh hơn nữa. Pháp thân Phật lớn mạnh trong mỗi người đệ tử Phật chính là yếu tố cần thiết giúp cho chúng ta và cho mọi người sớm nhận ra con người chân thật vĩnh hằng bất tử của chính mình; đồng thời giữ mãi cho ngọn đèn Chánh pháp ngời sáng trên thế gian, để từ đó xây dựng được thế giới Cực Lạc ngay trên trái đất này cũng giống như thế giới lý tưởng trong kinh điển là Niết bàn hay Tịnh độ ở mười phương. Thành quả này xin dâng lên cúng dường Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni Phật trong mùa Phật đản Phật lịch 2550 - 2006.

 HT. Thích Trí Quảng

Lược sử cuộc đời đức Phật

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012 | 01:17

Cuộc đời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) là tấm gương sáng của sự nỗ lực vượt thoát những trói buộc giữa chốn trần lao. Ngài là hiện thân của tinh thần dũng mãnh. Ngài thắp lên ngọn đuốc Tuệ giữa nhân gian cho nhân loại không còn lầm mê...
























Ý Nghĩa đại lễ Phật đản 2556-2012

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012 | 19:48



 “Vui thay Phật ra đời, Vui thay pháp được giảng”

Hôm nay, ngày Rằm tháng Tư năm Nhâm Thìn - dương lịch 2012, Phật lịch 2556, một lần nữa, những người con Phật trên khắp hành tinh này, hân hoan đón mừng ngày khánh đản của đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, niềm hỷ lạc dâng trào như tắm gội ánh sáng thiêng liêng từ kim thân của Đức Phật mà hơn 26 thế kỷ qua đã tỏa rạng từ vườn Lâm tỳ ni, lan khắp bình nguyên Terai vùng bắc Thiên Trúc và ngập tràn cả thế giới Ta bà. Trong niềm vui chung đó, giới Tăng Ni, Phật tử Việt Nam chắp tay nguyện cầu cho Phật pháp trường tồn chúng sinh an lạc.
Sự kiện đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh vào ngày rằm tháng tư, là sự kiện vô tiền khoáng hậu của nhân loại. Sự kiện hi hữu này được kinh tán thán như sau: “Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ kheo, khó gặp được ở đời. Người ấy là ai? Là Như Lai, bậc A la hán, Chính Đẳng Giác. Sự xuất hiện của Người này, này các thầy Tỳ kheo, khó gặp ở đời’’.
Ngài thị hiện ở đời và đem giáo pháp của Ngài đã chứng ngộ giảng dạy để cứu độ chúng sinh ra khỏi biển khổ, và chứng đạt giải thoát. Chính vì thọ nhận được pháp lạc như thế, nên Tôn giả Udayi trong khi hành thiền độc cư, đã nói lên lời tán thán đức Phật, được ghi trong bản kinh Trung Bộ II : “Thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều pháp bất thiện cho chúng ta. Thế Tôn là vị đã đem lại nhiều thiện pháp cho chúng ta”.
Ngài thuyết pháp chỉ với mục đích duy nhất là đoạn khổ và chỉ ra con đường diệt khổ, tự thân Ngài tuyên bố không tranh chấp hơn thua với ai, không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với Ngài: “Này các Tỳ kheo, Ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với Ta. Này các Tỳ kheo, người nói pháp không tranh chấp với một ai ở đời” (Tương Ưng III, 165).
Do vậy, hình ảnh bậc Đạo sư của chúng ta là hình ảnh của một vị luôn luôn ung dung tự tại, không âu lo, không sợ hãi, không phiền não, ngày đêm chỉ biết nuôi dưỡng lòng từ thương chúng sinh như con đỏ:
“Khi ngủ không lo âu,                       Ta không thấy tai hại,
Khi thức chẳng sợ hãi,                      Một chỗ nào trên đời.
Ngày đêm không khởi lên,                 Do vậy Ta nằm nghỉ,
Phiền não bận lòng Ta.                    Tâm từ thương chúng sinh”
 (Tương Ưng I, 136)
Với chí nguyện “Từ bi cứu khổ chúng sinh” mà Ngài thị hiện ở đời, rồi xuất gia, tầm đạo, chứng đạo và thuyết pháp độ sinh cho đến hơi thở cuối cùng. Ngang qua kinh nghiệm tu tập tự thân, không có ai là bậc Đạo sư của Ngài để truyền đạt cho Ngài, cũng không có ai ban phép mầu cho Ngài, hay tự thân hóa hiện từ một vị Thượng đế, thần linh nào cả. Ngài là một con người như chúng ta, nhờ tự thân nỗ lực mà tìm ra con đường giải thoát giác ngộ.
Thế nên, Ngài có vị trí tối thượng ở đời, một vị trí không thể có một Đức Phật thứ hai trong suốt hiện kiếp của một Đức Phật tại thế. Kinh Tăng Chi, tập I, trang 37 đã ghi lại sự tán thán này như sau: “Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ Kheo, không có được trong một thế giới có hai vị A la hán, Chính đẳng chính giác, không trước không sau, xuất hiện một lần; sự kiện này không có xảy ra”.
Với toàn bộ ý nghĩa nội dung đoạn kinh trên, chúng ta thấy ngay trong hiện kiếp này chỉ có một Đức Phật thị hiện, không có hai. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật duy nhất thị hiện ở thời hiện tại – Thời đại của chúng ta đang hiện hữu, có vị trí có một không hai trong lịch sử loài người. Ngài là một con người toàn bích, giác ngộ đã làm cho chúng sinh biết, đã nói, đã chỉ ra con đường trước đây chưa từng ai khám phá, chưa có ai từng tuyên thuyết về sự thật khổ và con đường giải thoát khổ: “Không có một vị Tỳ kheo, này Bà la môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A la hán, Chính Đẳng Giác thành tựu. Này Bà la môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa từng hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng nói, là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo”.  (Trung Bộ III, trang 110)
Chính Ngài là người đầu tiên khám phá ra con đường giác ngộ giải thoát và tự mình thực thi con đường ấy. Con đường ấy là một tiến trình gồm 5 giai đoạn, có thể nói bắt đầu từ Giới rồi đến Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến. Nó được cụ thể hóa thành con đường Thánh đạo mười ngành, khởi đầu bằng Chính tri kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mạng, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định, Chính trí và Chính giải thoát. Nhờ vậy, mà Đức Phật đã rống lên tiếng rống Sư tử, biểu trưng cho sự ưu việt thượng thừa của Chính pháp Như Lai.
Kể từ sau khi thành đạo, Ngài không ngừng thuyết pháp độ sinh và nhanh chóng thành lập các hội chúng. Hội chúng xuất gia bao gồm hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni sống theo nếp sống phạm hạnh, không gia đình, thoát ly sự ràng buộc các dục, thiểu dục tri túc và cuối cùng là chứng đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vượt thoát sầu bi khổ ưu não. Đối với hội chúng tại gia bao gồm nam cư sĩ, nữ cư sĩ thụ trì tam quy ngũ giới, sống theo mười nghiệp thiện, không nên tham đắm các dục lạc, làm các công đức thiện lành, sống đúng chính pháp, thu hoạch tài sản vật chất do chính mình làm ra, lợi mình và lợi người, lợi cả hai. Cả hai hội chúng đều được đức Phật khuyến cáo bằng sự nỗ lực cá nhân để hành trì chính pháp đã lãnh thọ, đã được truyền trao “Như Lai chỉ là bậc Đạo sư dẫn đường, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi!”.
Do đó, trong cuộc hành trình về miền đất an lạc, Thế Tôn luôn mong muốn các đệ tử của mình tinh tiến lập hạnh nguyện tu trì, thực hành giới, tâm luôn an trú vào định để cuối cùng là bừng sáng trí tuệ mà các kinh điển truyền thống diễn đạt là các đệ tử Như Lai tu hành phải đạt cho được lõi cây Phạm hạnh, đừng có bao giờ dừng lại ở giác cây, vỏ cây, vỏ trong, vỏ ngoài và cành lá của Phạm hạnh. Điều đó có nghĩa rằng một người sống một đời sống hướng thượng chỉ khi nào đạt được lõi cây Phạm hạnh thì mới đạt được cứu kính hoàn toàn và hạnh phúc lâu dài. Và hạnh phúc chỉ có mặt khi vắng mặt được tất cả mọi khổ đau. Vậy là mọi người con Phật thật sự hạnh phúc và tràn đầy hỷ lạc:
“Vui thay Phật ra đời,
Vui thay pháp được giảng …”
(Kinh Pháp Cú)
Chính ngay tại thế giới này, nơi chúng ta đang hiện hữu, không gian và thời gian đang bước sang năm thứ 2 của thập niên thứ hai, thế kỷ đầu thiên niên kỷ thứ III. Thời điểm mà tri thức của con người ngày được nâng lên một tầm cao mới. Văn minh khoa học điện tử đã tạo ra ngày càng nhiều những sản phẩm vật chất tiện nghi phục vụ cho mọi sinh hoạt cuộc sống nhân sinh, hẳn nhiên nhu cầu về tâm linh càng được phải nâng cao hơn nữa trong đời sống hiện đại.
Do vậy, chính ngay trong lúc này, trách nhiệm và sứ mạng của những Sứ giả Như Lai, Sứ giả Hoằng pháp, Tăng Ni Phật tử, đệ tử của Đức Phật là tích cực dấn thân, vui gánh những gánh nặng đang gánh “Luôn du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người” thể hiện tính quyết tâm cao hơn nữa, đem giáo lý cao thượng, tỉnh giác của đức Thế Tôn, san sẻ vào đời… giúp những con người hữu duyên với Phật pháp, nhận chân được thực tướng của các pháp trong thế gian vốn là vô thường, khổ não, vô ngã, bất tịnh… để luôn giữ được chính niệm, tỉnh giác trước mọi chi phối, mê hoặc của ác ma vật chất, sự cám dỗ của sự ham ưa hưởng thụ của nghiệp thức vô minh.
Đó cũng là ý nghĩa đích thực của việc hoằng pháp độ sinh, có giá trị thiết thực lợi đạo, ích đời. Nó càng ý nghĩa hơn nữa khi pháp của Đức Phật thuyết giảng khắp nơi trên thế giới, trên mọi miền đất nước, ngay cả biên cương, hải đảo, vùng sâu, vùng xa … bất cứ ai hiện hữu trên cõi đời. Hình ảnh tôn giả Phú Lâu Na vượt qua bao chướng duyên để thuyết pháp độ sinh nhằm đem ánh sáng Phật pháp đến những nơi sầu khổ và bất hạnh; Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông từng đi lên núi, vào rừng, vượt đèo lội suối, dựng am, xây chùa, thuyết pháp “thập thiện” để giáo hóa cho biết bao nhiêu người cùng khổ ở các miền quê. Việc Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc cũng như cho vùng miền ở các tỉnh, thành như: Đắc Lăk, Đà Nẵng, Kiên Giang, Hải Phòng, Bình Dương, Vĩnh Phúc và nhiều sự kiện khác nữa trong thời gian qua cũng không ngoài mục đích đưa đạo vào đời và làm cho đời thêm tươi sáng.
Năm 2012 là năm kết thúc nhiệm kỳ VI của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Việc tổ chức các khóa tu, thuyết pháp, biên soạn tài liệu hoằng pháp cho phù hợp với tầm nhìn hôm nay và mai sau, là nội dung ưu tiên hàng đầu trong chương trình hoạt động của Ban Hoằng pháp. Nhất là tiếp tục triển khai chương trình đào tạo 2 lớp Cao - Trung cấp giảng sư, tập huấn Hoằng pháp viên cho nam nữ Phật tử có năng lực dấn thân phụng sự Phật pháp. Đặc biệt, là kết hợp với Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức các khóa bồi dưỡng, tuyên truyền tiến tới Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ VII (Nhiệm kỳ 2012 - 2017) Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ diễn ra trong cuối năm 2012, năm nay.
Nhân ngày Khánh đản của Đức Bổn Sư, chúng ta nhất tâm hướng về Ngài, thành tâm dâng nén hương lòng của niềm tin Tam Bảo, của quyết tâm thực thi lý tưởng vì Đạo vì Đời. Ngưỡng mong ánh sáng Từ bi và Trí tuệ của Thế Tôn tỏa chiếu khắp thế gian, đem lại lợi lạc cho hết thảy cho chúng sinh./.
 HT. Thích Bảo Nghiêm
 Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự
Trưởng Ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN

Ý nghĩa Phật Đản 2555-2011

Written By Triệu Hoàng Tình - Chuyên gia nhân hiệu on Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012 | 03:46

Khi mùa sen bắt đầu tỏa hương thơm ngát, hàng triệu người Phật tử khắp nơi trên thế giới hân hoan đón mừng đại lễ Phật đản, kỷ niệm một sự kiện hy hữu của loài người: Đức Phật thị hiện giữa đời.

NHẬN THỨC SÂU SẮC GIÁO LÝ DUYÊN SINH ĐỂ TÍCH CỰC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

    Người con Phật khắp năm châu vượt qua những ngăn cách về ngôn ngữ, địa lý, cùng hòa nhịp con tim, thành kính cung nghinh Bồ tát Hộ Minh từ cõi trời Đâu Suất giáng trần.
Cách đây 2635 năm tại Vườn Lâm Tỳ Ni thuộc Tiểu Vương quốc Ca Tỳ La Vệ thuộc Ấn Độ cổ xưa, có một loài hoa Ưu đàm ba ngàn năm mới trổ hoa một lần bỗng nở rộ, tỏa ngát hương thơm báo hiệu tin vui: Hoàng hậu Maya hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa, sau này từ bỏ mọi thứ dục lạc trong đời, thể nghiệm chân lý và đã chứng quả vị Phật – Bậc Giác Ngộ và Giải thoát hoàn toàn mọi phiền não, mọi ràng buộc của nhân gian.
Cuộc đời của Đức Phật từ sơ sinh cho đến lúc nhập Đại Niết bàn luôn gắn bó với thiên nhiên. Ngài giáng sinh dưới cây Ưu đàm, thiền định trong rừng sâu, thành đạo dưới cội cây Bồ Đề và Nhập Niết bàn trong rừng Sa la…
Đức Phật xuất hiện giữa thế gian, như kinh A Hàm đã đề cập, không gì hơn là “vì lòng thương tưởng vì lợi ích cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người”.
Giáo lý cơ bản mà Ngài khai thị là giáo lý Duyên Khởi: “Cái này có mặt, cái kia có mặt; cái này không có mặt, cái kia không có mặt; cái này sinh, cái kia sinh; cái này diệt, cái kia diệt”. Các pháp, mọi sự vật hiện tượng hiện hữu là hiện hữu trong mối tương quan, tương duyên… mang tính hỗ tương.
Do lòng tham muốn thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, con người đã không tôn trọng quy luật Duyên sinh, khai thác nguồn lợi làm xâm hại nghiêm trọng đến thiên nhiên, nên phải gánh chịu nhiều thảm họa khổ đau.
Muốn chấm dứt những thảm hoạ thiên tai, trước hết con người phải có ý thức nghiêm túc về giáo lý Duyên sinh, thiên nhiên cho chúng ta môi trường sống thì chúng ta phải có ý thức tôn trọng, bảo vệ thiên nhiên để giữ môi trường trong sạch và cân bằng sinh thái.
Trên con đường tìm chân lý, Đức Phật cùng chư đệ tử thường an trú nơi núi non, hang động, dưới những cội cây. Ngài khuyên chư đệ tử không nên đốn phá cây cối, cho dù là chặt cành hay bẻ lá…Đức Phật còn chế giới không được ném bỏ rác rưởi hay khạc nhổ trên nước, vì sẽ làm ô nhiễm môi trường. Ngài nhắc nhở Tăng đoàn vào mùa mưa nên tìm chỗ an cư thích hợp để tránh việc đi ra đường dẫm đạp lên cỏ non, giết hại côn trùng và gây tổn hại cho những sinh linh khác, dù hữu hình hay vô hình.
Trong các kinh điển Nguyên thủy, Đức Phật đã nhiều lần có lời dạy về việc giữ gìn môi trường sinh thái, phát triển sự sống bằng cách khuyến khích việc trồng cây xanh để có thêm bóng mát, lợi ích chung. Trong Anguttara, Ngài dạy rằng: “Trồng cây cho ta bóng mát, ngoài việc thanh lọc không khí, còn bảo tồn trái đất, đó là điều lợi lạc cho tất cả mọi người và cho cả bản thân ta”.

Tiếp nối thánh hạnh của Đức Thế Tôn, các thiền sư tiền bối thường chọn những vùng thiên nhiên tươi tốt, núi rừng thâm u để cất dựng thảo am làm nơi tu hành, thực tập giới, định, tuệ. Chùa chiền do đó cũng thường có cảnh trí hài hoà với thiên nhiên, khiêm tốn ẩn mình dưới các tàng cổ thụ, khéo léo nép bên vách núi, đầy bóng mát của cây xanh, hòa giữa sơn thuỷ hữu tình.
Con người nhân danh sự sống xã hội văn minh, nhân danh trí thông minh, mà thực ra là bị lòng tham lam không cùng sai khiến, đã khai thác thiên nhiên đến cạn kiệt, làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng đời sống sinh thái vốn tốt đẹp, chế tạo ra những hóa chất để kích thích sự tăng trưởng… đã vô tình để lại những hậu quả khó lường cho môi trường sống.
Con người đã chế tạo ra năng lượng nguyên tử, nhưng khổ thay lại không có giải pháp an toàn cho nó mỗi khi gặp sự cố, cho nên hậu quả của những sự việc này là rất khó lường. Đó là bi kịch của những sáng tạo được nhân danh văn minh, trí thông minh vượt bực mà lại thiếu động cơ tốt lành, tôn trọng môi trường sinh thái.
Có thể khẳng định rằng, tất cả mọi việc làm tác hại đến môi trường sinh thái và hủy hoại trái đất này đều phát xuất từ tâm tham lam, tâm trục lợi, tâm ích kỷ, tâm si mê của con người.

Thực tế cho thấy những người, hay những đoàn vì lòng tham vô cùng, nên họ thường tóm thu về cho cá nhân hay cho nhóm, khiến họ trở thành mù quáng và rất tàn ác, mất cả nhân tính. Họ sẵn sàng sát hại, gây chiến tranh, làm cho nghèo đói, bệnh tật lan tràn, tiêu hủy mạng sống của con người, của các loài và môi sinh cũng từ đó ngày càng hư hoại thêm.

Hoặc để thu được món lợi khổng lồ, song song với việc khai thác tài nguyên bừa bãi, họ còn xả chất độc hại vào lòng đất, vào sông ngòi, vào không khí, làm ô nhiễm môi sinh, tác hại đến sức khỏe và gây bệnh tật cho nhiều người.
Hàng đệ tử Phật ứng dụng lời Phật dạy, không tham lam, không làm những việc tác hại đến muôn loài, hại mình và hại môi trường qua cách sống thiểu dục tri túc. Đó là cách sống hiểu biết và cao thượng, hạn chế tâm vị kỷ, không vì làm lợi cho riêng mình mà gây tổn hại đến người khác, đến các sinh vật khác, sống hài hòa với thiên nhiên, không phá hủy môi sinh, không khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, chỉ khai thác những gì thiết yếu và khai thác có mức độ, để thế hệ kế tiếp có thể tiếp tục được hưởng của cải thiên nhiên.
Đó là cách tốt nhất để cải thiện chất lượng môi trường sinh thái và phòng tránh những thảm hoạ thiên tai tàn khốc, như chúng ta đã và đang thấy hiện tượng đó diễn ra khắp nơi trên thế giới hôm nay.

Tôn trọng sự sống là một điều được đề cao trong Phật giáo, bảo vệ rừng, đấu tranh cho quyền muông thú, chia sẻ những ích lợi một cách bình đẳng, dẹp bỏ tư duy con người có quyền tối thượng, có quyền được hưởng thụ và ép buộc mọi thứ phải theo mình.
Người Phật tử nhận thức sâu sắc lời Phật dạy là người luôn ý thức rằng không thể mình có hạnh phúc khi mình xâm phạm đến hạnh phúc của tha nhân; mình không thể có môi trường sống tốt lành nếu không biết đóng góp thiết thực xây dựng môi trường sống lành mạnh, xanh tươi…
Ngược lại, mỗi suy nghĩ, lời nói và hành động có hại cho tha nhân, cho môi trường cũng chính là đang gây hại cho chính mình.

Một giải pháp cho một vấn đề xã hội là giáo dục nhận thức của mỗi cá nhân, bắt đầu từ việc giảm thiểu đi tham, sân, si; tăng trưởng các tâm từ, bi, hỷ, xả thì xã hội sẽ dần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn, khi tâm thức của mỗi cá nhân thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn.
Theo cách nhìn của Phật giáo, sẽ không bao giờ có một xã hội tốt đẹp khi ở đó cộng tồn những cá thể chất chứa quá nhiều tham, sân, si - gốc rễ của những hành vi bất thiện có những chiều kích xã hội lớn lao.
Nhân mùa Phật Đản năm nay, học theo lời Đức Thế Tôn đã dạy, người Phật tử chúng ta cùng nhiệt thành hưởng ứng các cuộc vận động vì một môi trường sống tốt lành mà Liên Hiệp Quốc đã khởi xướng, nhằm cứu vãn và bảo vệ màu xanh của trái đất.
Chúng ta hãy cùng tiết kiệm năng lượng điện dùng trong sinh hoạt hàng ngày, hãy tham gia hưởng ứng “Giờ trái đất” một cách thiết thực, cũng như các phong trào làm sạch, giữ gìn môi trường sống hiền đẹp, trong sạch do cộng đồng phát khởi.

Chúng ta hãy cùng nhau nhất tâm cầu nguyện sự an lành đến với các nạn nhân trong thảm họa động đất và sóng thần ngày 11/3/2011 tại các thành phố Kesennuma, Onahama, Sendai, Hachinohe của Nhật Bản.
Bên cạnh đó, thực hiện lời Phật dạy, chúng ta hãy cùng nhau tiên phong trong việc bảo vệ môi trường sống, bằng cách trồng cây xanh tạo thêm bóng mát, làm gương cho cộng đồng nơi mình sống. Mỗi mầm cây hôm nay sẽ có thể là cây cổ thụ trong tương lai. Mỗi suy nghĩ, lời nói và hành động thiện lành, tốt đẹp hôm nay sẽ góp phần tạo nên môi trường sống hiền đẹp cho hiện tại và tương lai.
Kính lễ dưới gốc cây Vô ưu, vườn Lâm tỳ ni, thị hiện đản sinh Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

TT. Thích Bảo Nghiêm 
Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com