Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật pháp ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật pháp ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
02:20
Niệm Phật
Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012 | 02:20
Ngoài pháp Tam quy, còn có pháp tu khác theo Đại thừa, vẽ ra con đường đi tắt hơn nữa, đó là pháp môn Niệm Phật, tức tu Tịnh độ. Theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm, từ tam quy đi vào Pháp giới, không còn phiền não trần lao chi phối. Nhưng từ niệm Phật đi vào Tịnh độ còn nhanh hơn một bước, vì tự nhiên cắt bỏ được trần lao nghiệp chướng dễ dàng. Ý này được một vị Tổ sư tu Tịnh độ nhận chân được và diễn tả rằng:
Hay trừ tám vạn trần lao
Tham Thiền, quán tưởng pháp nào cũng thua
Tu Thiền, chúng ta dụng công nhiều, sử dụng nhiều cách để tự tịnh hóa tâm mình. Thí dụ Thiền Tứ niệm xứ buộc chúng ta phải quán tưởng, để cuối cùng thâm nhập được thế giới Không, tức trở về với bản thể của sự vật. Điều này trên thực tế ít người đạt được. Tôi áp dụng pháp này nhiều, nhưng kết quả không được bao nhiêu; vì tất cả mọi sinh hoạt của chúng ta diễn tiến ở thế giới hữu, mà chúng ta phải quán Không, cho đến thấu triệt được thực chất của sự vật ở mặt thể tánh và sống với thế giới Không ấy, chắc chắn không đơn giản. Do đó, chúng ta tu Thiền khó, nhưng tu được thì rất lợi ích.
Khi học ở Nhật, tôi áp dụng Thiền theo họ là xã hội Thiền. Nghĩa là chỉ tập trung tư tưởng để quán chiếu sự vật, cho ta cái nhìn sáng hơn, chính xác hơn và theo đó, xử sự tốt hơn. Gặp việc khó, tôi không tiếp xúc với mọi người, để cho tâm yên tĩnh, nghỉ ngơi hoàn toàn, đột nhiên tâm trí sáng lên, có đáp số đúng cho vấn đề.
Riêng Hòa thượng Trí Tịnh thường dạy rằng đối trước việc có suy nghĩ, trả lời đúng 60%, nhưng không suy nghĩ, tâm hòan toàn lắng yên thì trả lời đúng 90%. Hòa thượng tu Tịnh độ, ít tiếp xúc với cuộc đời, vìtheo ngài, càng nhiều việc, phiền não càng dễ phát sinh. Dù là bậc cao tăng mà ngài còn phải dè dặt như vậy.
Tu pháp môn Tịnh độ có thể trừ được tám vạn trần lao mà không cần phân tích, quán tưởng chúng để diệt trừ. Chỉ quán tên của Đức Phật Di Đà, quán hình tượng của Ngài và thế giới Cực Lạc của Ngài.Chúng ta không dụng công gì khác nữa. Khi tu pháp môn Tịnh độ, tôi thường áp dụng trên bước chân đi.Đi nhanh hay chậm, một bước đi đều kèm theo một câu niệm Nam mô A Di Đà Phật thì cũng tập trung tâm được. Lấy tên Phật làm điểm tựa tập trung tâm mình và toàn tâm nghĩ đến danh hiệu Phật Di Đà, việc xảy ra xung quanh chúng ta không hề hay biết. Lúc đó, chúng ta không cần dẹp bỏ tám vạn trần lao, tự động chúng cũng lắng yên.
Cũng vậy, trong lòng chúng ta nghĩ việc ác, việc ác sẽ tăng; nhưng ta nghĩ việc thiện để xóa trừ việc ác thì việc ác cũng tự tiêu mất. Thuở nhỏ, tôi thường nhớ câu “Tránh ác không gì hơn là làm thiện”. Chúng ta sợ cái ác, tức đã nghĩ tới ác, ác đã hiện hữu trong tâm ta. Ví dụ chúng ta sợ ma là đang nghĩ đến ma, ma ở trong lòng chúng ta, không phải ma ở bên ngoài.
Pháp đem Phật vào tâm để đuổi ma là tốt nhất. Nghĩ đến Phật, tin Phật, thì không còn sợ gì cả. Tôi nghĩ cuộc đời này không bền chắc, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào; nên tâm tôi luôn nghĩ nhớ đến Phật, niệm Phật. Nếu vô thường chợt đến, chúng ta đang niệm Phật, tất nhiên sẽ về với Phật. Còn nghĩ ác và tránh ác thì ác xấu đang ở ngay trong lòng chúng ta và lại đem thêm cái xấu bên ngoài vô nữa, phải đọa thôi.
Tu pháp môn Tịnh độ, niệm Phật thay cho niệm chúng sinh, niệm tội lỗi, niệm ác. Những niệm xấu được xóa sạch, trong lòng chúng ta chỉ có Phật. Và xa hơn nữa, chúng ta hiểu về pháp niệm Phật như thế nào? Thuở nhỏ, được dạy niệm Phật, tôi cứ niệm, nhưng tuổi lớn hơn, tôi nhận ra ý nghĩa khác.
Tiến xa trên bước đường tu Tịnh độ, phải hiểu Phật A Di Đà mà chúng ta niệm có nghĩa là vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức. Đức Phật Di Đà chúng ta kính trọng là Đức Phật Vô Lượng Quang, tức hiểu biết của Ngài rộng vô biên. Theo Phật Di Đà và niệm Di Đà là nương theo hiểu biết hoàn toàn của Ngài, chúng ta có hiểu biết sáng hơn, nhìn đời đúng hơn. Như vậy, vô lượng quang đã hiện hữu trong lòng chúng ta rồi, sẽ giúp chúng ta nhận ra được việc đáng làm, điều đáng nói, người đáng tiếp xúc.Như vậy, nhờ niệm Phật mà chúng ta được an lành.
Trì danh hiệu Phật, trí tuệ sáng, thấy biết đúng đắn. Nói cách khác, trí tuệ Phật đã truyền đến cho chúng ta và dùng trí tuệ đó mà thấy biết người, không phạm sai lầm. Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh, đã nhận lầm yêu tinh là Phật, nên thọ không biết bao nhiêu nạn tai. Nhưng thấy rõ theo Tôn Ngộ Không thì dù ma quái có đóng vai nào, ông cũng biết rõ bộ mặt thực của chúng. Đó là nhờ Tôn Ngộ Không bị đốt trong lò bát quái của Thái Thượng lão quân, tinh luyện đôi mắt thành vàng ròng tiêu biểu cho sự thấy biết hoàn hảo, mới thấu tỏ được bề trái của cuộc đời, biết người muốn gì, nghĩ gì, làm được gì.
Từ niệm Phật là niệm vô lượng quang, tiếp nhận được ánh sáng trí tuệ Phật rọi vào, chúng ta biết mọi việc sáng suốt, mới phá bỏ được tai ách, xa rời phiền não trần lao, tâm chúng ta không còn buồn, giận, sợ, lo. Thật vậy, khi có trí tuệ, biết rõ rồi, thì còn gì mà lo; vì biết tất cả đều do nghiệp quyết định. Việc thiện đã làm, không mong cầu, quả lành cũng tự đến. Nghiệp ác tạo rồi, quả ác phải tới thôi. Ý thức như vậy, trước cái chết, chúng ta cũng thấy bình thường, vì có lo cũng không sống được. Tôi thường lo là lo chết rồi đi đâu, làm gì. Phật dạy làm sao bỏ xác thân này, phải được thân sau tốt hơn, cuộc sống sau tốt hơn mới là việc đáng lo. Còn sinh tử là việc bình thường; không lo thì chưa hết duyên cũng không chết; có lo thì cái chết đến cũng phải chết. Thậm chí có khi vì lo quá mà chết sớm.
Không lo vì ta thấy rõ lý nhân quả. Trên bước đường hành đạo, đối trước việc phải xảy đến, tôi quan sát kỹ để sống thích nghi và ứng xử từng trường hợp cho thật tốt đẹp. Nhân nào quả đó, không thể khác; thí dụ như tôi hạ quyết tâm học lúc nhỏ, tất nhiên phải thi đỗ. Và khi được ánh quang Phật soi rọi, mọi việc dường như được sắp xếp sẵn và quan trọng chúng ta đi đúng lộ trình này. Theo tôi, cố gắng tạo nhiều nhân tốt, quả tốt tự hưởng. Còn tính toán đủ thứ theo tham vọng cá nhân, quả lành không có mà còn đi vào đường tà, gặp nhiều khó khăn hơn.
Kế tiếp, niệm Phật Di Đà là niệm vô lượng thọ; vì người luôn niệm Phật, luôn có Phật ngự trong lòng, không còn bị buồn giận, lo sợ tác hại tinh thần và thể xác, tâm họ được an vui, thanh thản, sức khỏe nhờ đó được tốt, chắc chắn được thọ mạng dài lâu.
Ngoài vô lượng quang, vô lượng thọ, A Di Đà còn có nghĩa là vô lượng công đức. Thực tế đời sống người tu không có tài sản, nhưng nhờ nương vào công đức của Phật và tu trong Chánh pháp Phật, công đức của chúng ta sinh ra. Thật vậy, các Phật tử quý mến những bậc chân tu vì họ mặc áo Phật, đang giảng nói pháp Phật và đang thể hiện tinh thần Phật dạy trong cuộc sống. Từ đó, công đức lần lần sinh ra thì thân của họ tiêu biểu cho thân công đức.
Có thể thấy rõ do niệm Phật mà trí tuệ sáng suốt, hành xử mọi việc tốt đẹp, đời sống tinh thần thăng hoa và thân vật chất theo đó khỏe mạnh, được sống lâu, làm bóng mát cho người nương theo tu hành, làm được nhiều việc lợi ích cho người nương nhờ. Như vậy là đã thể hiện ba nghĩa vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức khi hành trì pháp niệm Phật.
Hòa thượng Thiện Hoa dạy rằng một đời người niệm Phật được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, niệm Phật là niệm vô lượng quang, thì phải cố gắng học, đừng lãng phí thì giờ. Học giáo lý là căn bản và hiểu biết thêm tất cả pháp thế gian càng nhiều càng tốt để không bị vướng mắc, sai lầm vì những thủ đoạn xấu ác của chúng sinh.
Tôi sang Nhật tu học cũng nhờ Hòa thượng Thiện Hoa khuyến khích tôi nên nghiên cứu sinh hoạt của Phật giáo Nhật. Học hỏi phương cách tu hành, cách tổ chức, cách quản lý của họ để rút ra những điều tốt đẹp mà ứng dụng cho Phật giáo Việt Nam, vì Phật giáo Nhật cũng theo tinh thần Đại thừa như chúng ta và phát triển được nhiều hoạt động ở mọi lãnh vực.
Giai đoạn thứ hai quan trọng là càng sống lâu, sống khỏe thì mới gánh vác được nhiều việc lợi ích cho đạo, tốt đẹp cho đời. Tu học ở Nhật, tôi thấy các thiền sư của họ đều phải tập luyện võ thuật để bảo đảm sức khỏe tốt, vì bệnh hoạn chẳng thể làm được gì. Người tu ăn ít, nhưng phải khỏe. Tham vấn Thiền sư Kono, đầu tiên ngài dạy tôi bằng cách dẫn tôi đến mộ địa của chùa và nói rằng đây là những người đi trước vì không có sức khỏe, không có trí tuệ, áp dụng pháp sai lầm, nên chết sớm. Vị thiền sư này có học vị tiến sĩ và đạt sáu đẳng về kiếm đạo. Vì thế ngài rất khỏe mạnh và thông minh.
Người cơ thể yếu đuối, học xong rồi chết, chưa sử dụng được sở học vào việc tu hành, chưa tạo được công đức, thì thật uổng phí công sức đã đầu tư. Hòa thượng Thiện Hoa nói rằng thầy Trí Minh xưakia ham học, mà không nghĩ đến giữ gìn sức khỏe, nên học chưa xong thì thân bị hoại. Có trí tuệ mới biết cách bảo đảm sức khỏe tốt. Điều này trong nhà Thiền thường nhắc rằng đói ăn, mệt ngủ. Tỉnh táo, sáng suốt sẽ tự biết cơ thể mình thiếu chất gì để bổ sung thì nó tự khỏe; không nên ép xác. Phật dạy chúng ta không ăn quá dư hoặc quá thiếu. Và ngài Trí Giả dạy không ăn thức ăn không thích hợp với cơ thể mình, vì không thích hợp sẽ gây ra bệnh tật thì không thể tu được.
Giai đoạn thứ ba là tạo vô lượng công đức. Nhờ có sức khỏe và trí sáng tức vô lượng quang và vô lượng thọ mới hướng dẫn, dạy dỗ người, cứu đời, giúp người được. Nhiều người thọ ơn chúng ta thì công đức sinh ra từ đó.
Tóm lại, người tu pháp môn Niệm Phật, áp dụng đúng đắn vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức, chắc chắn được an vui, giải thoát ngay trong cuộc sống hiện tại. Và khi mãn duyên ở Ta bà, đương nhiên về thế giới Phật, vì đó là cảnh giới của những hành giả đã diệt trừ được tám vạn trần lao và làm lợi ích cho nhiều người.
HT. Thích Trí Quảng
02:17
Hài hòa để cùng tồn tại & phát triển
Đến thăm trường hạ Đại Tòng Lâm, nhìn thấy ngôi Đại Hùng bửu điện lớn nhất nước đã được hoàn thành và Tăng Ni tập trung về kiết hạ an cư nghiêm túc, tôi rất hoan hỷ. Nhân đây, tôi giới thiệu đôi nét về Diễn đàn Phật giáo thế giới tại Trung Quốc và Lễ Phật đản của Liên Hiệp Quốc vừa tổ chức tại Thái Lan, cùng với Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ ba. Phật giáo Trung Quốc theo hệ Đại thừa và Phật giáo Thái Lan theo Nguyên thủy. Kết hợp sinh hoạt Phật giáo tại hai hội nghị này, chúng ta nhận thấy Phật giáo ngày nay đang phát triển một cách hài hòa.
Tháng Ba vừa qua, tôi dẫn đầu đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự Diễn đàn Phật giáo thế giới tại Trung Quốc. Mặc dù tôi đã sang Trung Quốc nhiều lần để tham dự hội nghị, nhưng lần này, tôi ngạc nhiên trước việc tổ chức long trọng đặc biệt của Phật giáo Trung Quốc tại Hàng Châu. Qua đó, tôi nhận ra rằng Phật giáo Trung Quốc cũng như Chính phủ Trung Quốc đã có suy nghĩ và đầu tư mạnh mẽ cho Phật giáo và đất nước của họ.
Tôi trao đổi với Hòa thượng Trưởng ban Tổ chức, tuy ngài còn trẻ tuổi, 54 tuổi, nhưng đã gánh vác vai trò lãnh đạo, tổ chức Diễn đàn Phật giáo rất thành công. Như chúng ta đều biết, Trung Quốc có dân số rất đông và có lịch sử Phật giáo tồn tại lâu dài từ đời Đường đến đời Tống, đời Thanh. Vì thế, khi tham quan, chúng tôi thấy ở nhiều chùa còn có cột đá khắc chữ bá quan văn võ đến chùa phải xuống ngựa.Điều này chứng tỏ Phật giáo Trung Quốc đã từng có vị trí quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên, thạnh suy là việc bình thường mà Tổ sư chúng ta từng nhắc nhở, coi như hạt sương trên ngọn cỏ.
Theo lịch sử, Phật giáo Trung Quốc đã trải qua bốn lần pháp nạn. Nhưng ngày nay, họ nói rằng có đến năm lần pháp nạn, lần thứ năm Phật giáo Trung Quốc gặp nạn là thời kỳ xảy ra cuộc đại cách mạng văn hóa, chùa chiền và kinh sách bị phá hủy. Tuy nhiên, hiện nay, Chính phủ cho tu bổ, xây dựng chùa và khuyến khích xuất gia. Tăng Ni Trung Quốc rất trẻ và học rất giỏi, điều này cho thấy tương lai Phật giáo Trung Quốc sẽ rất tốt đẹp, vì giới tu sĩ trẻ có năng lực mới gánh vác được Phật sự phát triển lâu dài. Còn người lớn tuổi tất nhiên cũng tốt cho đạo, nhưng thời gian phục vụ không còn dài, vì sức khỏe và năng lực phải yếu dần theo định luật tự nhiên.
Tôi thấy Tăng Ni Trung Quốc trong khoảng 20 đến 30 tuổi rất đông, có trình độ học thức tốt, lại vừa trẻ trung, khỏe mạnh, vui vẻ và đường đường Tăng tướng. Với những yếu tố thuận lợi như thế, chắc chắn dễ cảm hóa được nhiều người trong thời hiện đại. Với sự chuẩn bị tốt cho Diễn đàn Phật giáo thế giới, họ đã huấn luyện giới Tăng Ni trẻ thông thạo tiếng Anh. Học điều hay của người, tôi đề nghị quý Hòa thượng, Thượng tọa nhận thấy thầy cô nào có ngoại hình dễ coi và thông minh, nên cho học ngoại ngữ, không cần nhiều người, nhưng có được một số Tăng Ni trẻ có khả năng giao tiếp trong những dịp phái đoàn Phật giáo quốc tế đến thăm trường lớp, cơ sở của chúng ta.
Với Diễn đàn Phật giáo tại Hàng Châu, họ đã huy động được đại biểu của trên 40 nước tham dự.Tôi theo dõi và tâm đắc nhất là sự hài hòa giữa các pháp môn tu và các hệ phái mà hội nghị nêu ra. Đó là điều tôi muốn trao đổi với Tăng Ni tỉnh nhà hôm nay, vì Phật giáo chúng ta cũng có những điểm tương đồng như vậy.
Muốn hài hòa, trước nhất phải chấp nhận lẫn nhau; đó là vấn đề mà hội nghị Phật giáo tạiTrung Quốc nêu lên. Tất cả đại biểu khắp nơi tập trung đến đây coi như anh em một nhà. Tuy nhiên, cũng có người lớn, người nhỏ, người giỏi, người chưa giỏi, v.v…, cho nên tất yếu phải chấp nhận vấn đề sai biệt.Tuy nhiên, đó không phải là sự phân chia giai cấp, vì Đức Phật đã phá bỏ sự áp đặt giai cấp theo truyền thống cổ của Ấn Độ. Trên bản thể thì nam nữ, già trẻ đều bình đẳng; nhưng ở đây là hiện tượng giới, tức thế giới sai biệt thì tùy theo nghiệp mà có thọ báo khác nhau.
Vì vậy, muốn hài hòa, phải công nhận thực tế khác nhau, người nào việc đó, người kém năng lực không thể làm được việc của người giỏi. Tôi thuyết pháp được, nên làm giảng sư. Thầy nào cúng kính giỏi thì làm nghi lễ, thầy giỏi quản lý, hoặc giỏi hành chánh thì làm công việc tương ưng. Như vậy là chấp nhận vấn đề sai biệt, vì mọi người không thể làm giống nhau được và mỗi người lại có suy nghĩ riêng, có tu chứng khác nhau, sức khỏe, năng lực khác nhau, v.v… Trong kinh Hoa Nghiêm cũng có 52 vị trí Bồ tát khác nhau; chúng ta không nên sai lầm cho tất cả bằng nhau. Ở quả vị Phật thì hoàn toàn bằng nhau, còn từ Bồ tát trở xuống phải khác nhau.
Trước tiên, hài hòa thì chấp nhận nương nhau, người nào làm việc người đó. Hội thảo đã đưa ra đề mục này mà tôi tâm đắc. Và tôi đã phát biểu rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam chúng ta đã thống nhất được sinh hoạt của trên bốn vạn Tăng Ni và Phật tử, vì chủ trương tôn trọng các pháp môn tu hành đúng Chánh pháp, tức tôn trọng pháp tu khác nhau, hành đạo khác nhau; nhưng có mục tiêu chung là đạt đến quả vị Phật và xây dựng xã hội tốt đẹp. Một số Hòa thượng đã hỏi tôi về việc thống nhất Phật giáo của chúng ta. Tôi cho biết trước kia mấy chục hệ phái của chúng ta không thể cảm thông nhau, nhưng nay cùng học một trường lớp, cùng sinh hoạt chung một cách tốt đẹp. Đại biểu các nước rất quan tâm đến kinh nghiệm thực tiễn này của Phật giáo chúng ta.
Ngoài ra, đây cũng là lần đầu tôi đi dự hội nghị Phật giáo bằng chuyên cơ. Những lần hội nghị tôn giáo ở Mỹ, Nhật, hay Ý, không được như vậy, mặc dù tôn giáo ở các nước này sinh hoạt đã thuần. Lần này, nước chủ nhà Trung Quốc đã sử dụng máy bay chuyên cơ để chở riêng các đại biểu Phật giáo từ Hàng Châu ra Phổ Đà sơn. Cách tổ chức của họ vừa giữ được nghi lễ theo truyền thống vừa mang tính văn minh hiện đại để Phật giáo phù hợp với sinh hoạt xã hội. Tất cả chư Tăng đều đắp y và mỗi vị Hòa thượng trưởng đoàn đều có lọng hầu cung kính do một cư sĩ cầm che và có một thị giả đi cùng, nói được tiếng Anh. Về ẩm thực được tổ chức theo cách ăn tự chọn. Thiết nghĩ chúng ta nên làm quen với cách tổ chức này; thức ăn được dọn sẵn, mỗi người tự lấy khẩu phần vừa đủ và thích hợp với mình. Làm như vậy, bỏ được hủ tục lâu nay thường xảy ra là thức ăn thừa dùng dở dang phải đổ đi, gây lãng phí vô ích, còn nếu để cho người khác ăn thì mất vệ sinh. Họ hành lễ, cầu nguyện rất trang nghiêm, nhưng đối với việc ăn uống thì nhẹ nhàng, đơn giản; trong giờ ăn, đại biểu có thể đi lại để trao đổi với những người mình cần giao lưu, tìm hiểu.
Sau hội nghị này, tôi lại dẫn tiếp phái đoàn sang dự Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ ba cùng với Lễ Phật đản của Liên Hiệp Quốc đồng tổ chức tại Thái Lan. Theo truyền thống Bắc tông, chúng ta thường tổ chức Lễ Phật đản vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch. Phật đản theo Nam tông thì tổ chức ngày trăng tròn của tháng 5 dương lịch. Nhưng cách nay đúng 50 năm, Thủ tướng Ấn Độ đã triệu tập Đại hội Phật giáo lần đầu tiên, từ đó mới có lá cờ Phật giáo thế giới với năm màu và có ngày thống nhất Lễ Phật đản là 15 tháng 4 âm lịch trùng với ngày trăng tròn tháng 5 dương lịch.
Lần này tổ chức Hội nghị Phật giáo lần thứ ba, vì năm 1999, Liên Hiệp Quốc đã chính thức công nhận Lễ Phật đản là ngày lễ quốc tế. Nhưng hội nghị lúc đó được tổ chức ở New York và mới công bố như vậy, chứ chưa tổ chức lễ, chưa có sự tập hợp Phật giáo; cho nên gần như ít ai biết đến. Vì vậy, Hoàng gia Thái Lan mới có sáng kiến tổ chức Lễ Phật đản lần thứ nhất vào năm 2003 tại Bangkok, bấy giờ chỉ có Hòa thượng Thiện Tâm của Nam tông tham dự. Đến năm 2005, Thái Lan tổ chức Lễ Phật đản thế giới lần thứ hai và Giáo hội chúng ta cũng cử Hòa thượng Thiện Tâm cùng với hai vị tham dự. Nhưng đến cuối năm 2005, tôi có dịp tham dự hội thảo tôn giáo tại Đài Bắc và gặp gỡ Hòa thượng Viện trưởng Đại học Mahachulalongkorn. Ngài nói với tôi rằng Phật giáo Bắc tông của Việt Nam có nhiều tu sĩ, nên ngài muốn quan hệ với chúng ta để chia sẻ vấn đề phát triển sinh hoạt Phật giáo trên thế giới. Tôi nhận thấy vị Hòa thượng này có ý tốt, nên tôi hứa sang năm sẽ sang tham dự và dẫn phái đoàn cùng đi. Vì thế, ngài rất hoan hỷ và năm nay mời Phật giáo Việt Nam tham gia vào Ban Tổ chức. Tôi đã đề cử Đại đức Nhật Từ đại diện tham gia vào Ban Tổ chức, vì tu sĩ trẻ thông thạo ngoại ngữ mới có thể thảo luận, trao đổi trong các cuộc sinh hoạt quốc tế.
Đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự với 25 đại biểu chính thức đại diện cho ba miền Nam, Trung, Bắc và Chính phủ, Hoàng gia Thái Lan đài thọ hoàn toàn cho 25 đại biểu. Ngoài ra, còn có các Phật tử tháp tùng với tư cách là quan sát viên, lúc đầu chỉ cho 100 người dự, nhưng sau tăng thêm đến hơn 200, cho nên đoàn Việt Nam trở thành đông nhất. Trước khi làm lễ, các đoàn đại biểu tụng kinh theo tiếng bản xứ. Đến phiên đoàn Phật giáo Việt Nam với số đông như vậy, nên âm thanh tụng kinh của chúng ta vang rền cả hội trường làm cho mọi người phải kinh ngạc. Có thể nói đây là lần đầu tiên đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam ra nước ngoài với lực lượng hùng hậu như vậy. Chính phủ Thái cũng đài thọ vấn đề ăn ở cho các Phật tử. Về phần phát biểu, ngoài tôi, còn có Hòa thượng Thiện Tâm, thầy Lê Mạnh Thát và thầy Nhật Từ. Đây là lần đầu tiên đoàn Phật giáo Việt Nam có đến bốn bài tham luận; trong các lần hội nghị khác, chúng ta chỉ có một bài hoặc chỉ nghe mà không nói.
Thái Lan năm nay, đã tổ chức long trọng Lễ Phật đản Phật lịch 2550 cùng với Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ ba thật quy mô, nhờ vậy mà cả thế giới biết được ngày Lễ Phật đản. Sinh hoạt Phật giáo đang tiến triển rất tốt đẹp, đó là tín hiệu đáng mừng. Đa số Tăng Ni trẻ tham dự, vấn đề giao lưu rất thuận lợi vì nhiều người nói được tiếng Anh. Sang năm, Thái Lan sẽ tổ chức Lễ Phật đản. Các thầy cô trẻ nên trau giồi ngoại ngữ thông thạo để tham dự đông hơn, tạo thế phát triển cho Phật giáo chúng ta.
Tại Hội nghị, nhiều chủ đề được triển khai như hòa bình, môi sinh, giáo dục, bảo tồn văn hóa, hoằng pháp, v.v…, nhưng theo tôi, quan trọng nhất là vấn đề làm thế nào hài hòa tất cả các sinh hoạt Phật giáo, các nước theo Phật giáo tìm cho được mẫu số chung về sự phát triển. Về lãnh vực này, Phật giáo Việt Nam chúng ta có thể đóng góp được.
Từ hai hội nghị Phật giáo quốc tế vừa nói, tôi có suy nghĩ và rút ra bài học để xây dựng Phật giáo chúng ta, đồng thời nhắc nhở Tăng Ni chuẩn bị cho tốt sở học của mình để tham gia các hội nghị Phật giáo thế giới trong tương lai. Tôi nghĩ rằng khi chúng ta học hiểu giáo lý và trao đổi với nhau, mà gọi đó là cảm thông thì chưa phải; vì như vậy mới chỉ là xã giao thôi, không có thiện cảm với nhau cũng bắt taycười. Phật giáo không chủ trương như vậy. Vấn đề hài hòa, tôn trọng, chấp nhận nhau không phải chỉ ở hình thức bề ngoài, trên đầu môi chót lưỡi. Sự hài hòa mà Phật giáo muốn hướng đến cần thể hiện trong cuộc sống thực tiễn, trong hành động, trong việc làm, phát xuất từ trái tim chân thật, từ ái, hiểu biết. Tôi và quý Hòa thượng PG Thái Lan cùng PG các nước, tuy việc làm tại mỗi quốc độ khác nhau, nhưng khi gặp nhau, quý mến nhau, tôn trọng nhau thật sự, mới có thể ảnh hưởng hỗ trợ cho nhau, mới làm được việc đạo; không phải nói xã giao cho vui.
Thiết nghĩ muốn hài hòa được, mỗi người phải tự gạn lọc thân tâm trên bước đường tu. Tinh thần này được Giáo hội chủ trương là trưởng dưỡng đạo tâm, tăng cường đạo lực. Với tôi, giáo lý Đức Phật qua kinh điển rất rộng, nhưng ta phải gom lại, nắm được cốt lõi thực hành mới quan trọng. Trên thực tế dù hệ phái nào cũng phải thực hành ba vấn đề căn bản là tứ Thánh đế, mười hai nhân duyên và sáu pháp ba la mật, vì đó là phương pháp có công năng trưởng dưỡng đạo tâm, phát huy đạo lực. Và có đạo lực mới cảm hóa được người, có đạo tâm mới dung hợp được người.
Một vị Hòa thượng Triều Tiên đã nói với tôi rằng muốn thuyết pháp phải có cái đầu của ông Duy Ma, muốn tiếp Tăng độ chúng phải có bụng của Di Lặc mới dung được tất cả mọi người. Đạo lực là cái đầu của ông Duy Ma, vì nếu chúng ta tu hành mà quên nhập thế, hoặc ứng dụng giáo pháp sai lầm, chắc chắn đạo Phật không tồn tại. Có cái đầu của Duy Ma để thấy người muốn gì, nghĩ gì, cần gì, chúng ta giúp.Duy Ma không cần hình thức, nhưng nhìn thẳng vào tâm người và theo đó hướng dẫn, giáo dưỡng. Làm như vậy đạo Phật mới phát triển. Tiếp Tăng độ chúng thì phải thương đại chúng và chăm sóc đại chúng như con ruột.
Giáo pháp rất nhiều, nhưng pháp nào của Phật dạy cũng nhằm chữa bệnh nghiệp; tất nhiên phải lựa pháp thích hợp với bệnh nghiệp của mình. Không nhận ra ý này, chỉ tu chung chung, kết quả không lớn. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng mình theo Đại thừa phải tu sáu pháp ba la mật, tụng kinh Pháp Hoa, kinh Bát Nhã, v.v… Việc này cần xét lại, vì người kém thì phải làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn, người giỏi mới làm được việc lớn. Vì thế, chúng ta thường đặt mục tiêu rằng sau này lớn lên, tôi sẽ làm việc lớn, làm việc của Bồ tát Quan Âm, Văn Thù. Còn bây giờ khả năng không có, sức yếu, không thể mang nặng được.Kinh Pháp Hoa thường ví người làm việc lớn như voi kéo nặng lại đi ngược dốc, mà không có con thú nào ngăn cản được, nhằm chỉ khả năng siêu việt của Bồ tát Văn Thù. Chúng ta chưa có sức mạnh của voi, của sư tử, nên suy nghĩ những việc vượt quá sức mình thì không làm, dù đó là lý tưởng của Đại thừa.Ai tu cũng có thể đạt quả vị Phật, nhưng việc đó không phải ai cũng làm được. Nói cách khác, tham vọng thành Phật liền chẳng thể nào thành. Phải thấy đúng thân phận mình và từ đó khởi tu.
Riêng tôi, từ thuở nhỏ, nhờ nương theo các bậc minh sư là Hòa thượng Trí Đức, Hòa thượng Thiện Hòa, tôi đã trưởng thành. Trong khi huynh đệ của tôi muốn làm việc lớn, vượt hơn khả năng, cuối cùng phải bỏ cuộc. Từng bước đi thật chắc, tôi tuân thủ lời dạy của Hòa thượng Thiện Hoa rằng đời người nên chia làm ba giai đoạn, giai đoạn tuổi nhỏ phải nỗ lực học cho giỏi, giai đoạn lớn làm việc tích cực và giai đoạn ba, lớn tuổi thì cần buông xả tất cả để thâm nhập thế giới Không, tuổi già mà không chịu buông bỏ thì sẽ khổ. Chúng ta cần chuẩn bị ba giai đoạn như vậy trong cuộc đời mình. Tuổi nhỏ mà làm quá sức, liệu thọ mạng của thân vật chất có thể kéo dài được hay không. Vì thế, phải có sức khỏe mới có thể học, tu, và giáo hóa chúng sinh được.
Ý thức điều này, việc đầu tiên của tôi khi bắt đầu tu ở tuổi trẻ là điều hòa cơ thể. Tôi làm việc trải qua một giai đoạn dài nhờ ít bệnh và ít bệnh vì biết điều hòa ăn uống, ngủ nghỉ. Không điều hòa được cơ thể, chắc chắn sinh bệnh thì học và làm việc cũng không được. Người tu cần biết điều hòa sinh hoạt tu học, ăn ngủ, cố gắng quá thì đầu bị đau. Thuở nhỏ, tôi hay bị nhức đầu vì thức đêm và đọc sách nhiều. Nếu tôi không biết cải thiện sinh hoạt tu học, có lẽ không được như ngày nay.
Để điều hòa sự tu tập, chúng ta có thời khóa tụng niệm, lễ bái, tham thiền; ngồi suốt không được, phải có đi, có nghỉ, giúp cho cơ thể được điều hòa. Về tuổi tác cũng vậy, tuổi còn trẻ, cơ thể đang phát triển, nếu bắt chước người lớn ăn ngọ dễ bị bệnh. Muốn ăn ngọ, phải luyện tập. Xưa kia, khi thọ giới Sa di, tôi nghĩ rằng ăn chiều có tội; vì Hòa thượng Thiện Hòa thường bảo rằng khi ăn phải sinh lòng hổ thẹn, như vậy nhịn ăn để khỏi phải hổ thẹn. Vì thế, đói bụng thèm ăn mà chỉ nuốt nước miếng hoài sẽ bào mòn bao tử. Tôi đã bị đau bao tử một thời gian khi ăn ngọ lúc còn trẻ. Một số thầy lại bày sử dụng thuốc tịch cốc, ăn một viên thuốc này sẽ không cảm thấy đói, vì nó phình hơi, nhưng cũng dẫn tới đau bao tử. Hoặc có người ăn ngọ phải ăn trưa thật nhiều để chiều khỏi đói; ăn nhiều làm cho bao tử giãn lớn, rồi không ăn khiến bao tử thun nhỏ lại, lâu ngày cũng thành bệnh.
Theo tôi, có ba thứ đói, một là đói thực, hai là đói con mắt và ba là đói tâm. Thể nghiệm lời Phật dạy, từng bước chúng ta thấy rõ. Trong đầu chúng ta không nghĩ đến thức ăn, như ham đọc sách thì quên ăn, hoặc các Thiền sư ngộ đạo, an trụ trong pháp, nên quên đói. Còn nghĩ đến thức ăn thì đói là đói tâm. Khi nghĩ nhiều đến thức ăn, dịch vị trong bao tử tiết ra làm chúng ta cảm thấy đói, nhưng chúng ta khôngăn gì thì dịch vị tác dụng ngược lại, xói mòn bao tử lại khiến chúng ta thấy đói thêm. Ngoài ra, trông thấy thức ăn thì thèm là đói con mắt, cũng kích thích dịch vị tiết ra nên có cảm giác đói.
Theo kinh nghiệm của tôi, không nhìn thức ăn, không thấy thức ăn, không nghĩ đến thức ăn, sẽ không đói. Thí dụ tôi nghe tiếng chuông báo hiệu mới biết đến giờ ăn. Áp dụng vào việc tu hành, pháp hay nhất là đóng kín sáu giác quan mà Tổ dạy rằng “bất dữ chư trần tác đối”. Nghĩa là đừng cho giác quan chúng ta tiếp xúc với sáu trần, cơ thể chúng ta trở thành bình thường thì đói thực chúng ta ăn và cũng không ăn nhiều. Số lượng thực phẩm nhiều hay ít cũng thay đổi tùy theo tuổi. Tuổi trẻ hoạt động nhiều, tiêu hao nhiều năng lượng, thì phải ăn nhiều; nhưng tuổi lớn, ít lao động, không nên ăn nhiều. Tôi khỏe mạnh vì từ lúc 25 tuổi sang Nhật học cho đến ngày nay 69 tuổi, trọng lượng cơ thể không tăng. Khi trọng lượng của thân thể sụt hay tăng, tôi làm cho cân bằng trở lại; đừng để quá mập hoặc quá ốm.
Tóm lại, trong mùa An cư, chúng ta cần thể nghiệm tinh thần Phật dạy để thân thể khỏe mạnh thì tâm mới an vui theo và tiến tu được, tức phát huy trí sáng suốt và cảm hóa được người tin theo tu hành. Thân khỏe, tâm an, trí sáng là nền tảng căn bản của hành giả bước theo dấu chân Phật để làm lợi ích cho mọi người và xây dựng xã hội hòa hợp, hạnh phúc, phát triển bền vững.
HT. Thích Trí Quảng
01:56
An lành & tỉnh giác
Hôm nay tôi rất hoan hỷ khi thấy Tăng Ni và Phật tử phát nguyện tu Thiền một tuần. Từ khi Thiền sư Nhất Hạnh về thăm Việt Nam cho đến nay, hình ảnh thân thương cùng những lời nói êm tai mát lòng của ngài vẫn còn đọng lại trong cuộc sống của chúng ta; đặc biệt là trong tuần lễ tu tập Thiền quán này.
Tôi không có duyên được sống chung lâu dài với Thiền sư Nhất Hạnh; nhưng tôi được gặp ngài trong thập niên 1950 ở Phật học đường Nam Việt. Và sang thập niên 1960, tôi gặp lại ngài ở Nhật Bản, đến năm 1970 thì gặp ở Pháp. Trong khoảng thời gian gặp gỡ ấy, Thiền sư chưa tổ chức những khóa tu Thiền như ngày nay. Tuy nhiên, riêng tôi có cảm giác tinh thần Thiền đã tỏa sáng nơi ngài, từ lời nói, cử chỉ, thái độ, hay những câu đối đáp của ngài về cuộc đời, cho đến sự lặng yên tỉnh giác.
Quý vị may mắn được trực tiếp nghe pháp thoại với Thiền sư, hay sống chung cùng ngài, hoặc tiếp nhận được sự truyền pháp từ ngài qua tâm hồn sâu thẳm của chính mình; đó là điều vô cùng quan trọng đối với nếp sống tu hành của thiền sinh.
Hôm nay khai giảng khóa học này, tôi trích một bài viết của Thiền sư Nhất Hạnh để đăng nguyệt san Giác Ngộ, tặng cho các thiền sinh, nhằm ôn lại những lời nói của ngài, hầu rút ra những kinh nghiệm tu hành cho chính mỗi người chúng ta.
Trong pháp thoại này, Thiền sư dẫn kinh Thủy Dụ để nhắc nhở chúng ta thái độ của người tu khi sống chung hoặc tiếp xúc với 5 hạng người khác nhau, 1- Người hành động không tốt, nhưng lời nói của họ dễ thương. 2- Người hành động tốt, nhưng lời nói khó nghe. 3- Người mà cả lời nói và hành động đều không tốt. 4- Người có lời nói, hành động và tâm đều không tốt. 5- Người có lời nói, hành động và tâm đều tốt.
Bài pháp thoại tuy ngắn, nhưng quan trọng, qua đó Thiền sư gợi cho chúng ta cách sống tốt đẹp với năm hạng người này để họ đều là những pháp lữ đồng hành với chúng ta và cùng xây dựng ngôi nhà chung của Phật giáo mang an lạc cho mọi người.
Thiết nghĩ trong cuộc sống hàng ngày, chắc chắn chúng ta đều tiếp cận với năm hạng người nói trên; nhưng vì đôi khi chúng ta xử sự không đúng, cho nên bị mất bạn quý và đánh mất cơ hội thể hiện lòng từ bi theo Phật.
Phật tại thế, trên bước đường vân du hóa độ, Ngài cũng đã nói nhiều bài pháp thoại ngắn thích hợp với từng trường hợp khác nhau để người nghe cảm nhận được và thể nghiệm trong cuộc sống. Chúng ta thấy rõ những lời Phật dạy rất sát với cuộc sống giúp cho Tăng Ni, Phật tử có phương cách sống và làm cho cuộc đời này đẹp hơn. Và chính Đức Phật cũng như các đệ tử của Ngài đã thể hiện trọn vẹn nếp sống thánh thiện; nên người ta mới tôn danh là Phật và Thánh chúng.
Nhưng sau khi Phật Niết bàn, thiếu vắng trí tuệ và tâm từ bi của Đức Thế Tôn, nên đã xảy ra nhiều việc không tốt; dẫn đến phân chia nhiều tông phái, thậm chí cùng là đệ tử của Phật mà còn bất hòa với nhau, không chấp nhận nhau, huống chi là đối với năm hạng người nói trên.
Và khi Phật giáo Ấn Độ bị mai một, chúng ta nhận thấy Phật giáo xuất hiện sáng tỏ ở Trung Hoa, đặc biệt là Thiền Đông Độ. Thiền Đông Độ ra đời rất sớm, không phải đến thời ngài Đạt Ma mới có. Người ta thường nói ngài Đạt Ma mở Thiền cho Đông Độ, nhưng kỳ thật, tư tưởng của Phật đã là Thiền và nếp sống của Phật cũng là Thiền. Chính tư tưởng và nếp sống của Phật đã thể hiện ngời sáng trong cuộc đời hành đạo của Thiền sư Khương Tăng Hội ở Việt Nam vào thời kỳ rất sớm. Chúng ta thấy Thiền sư Khương Tăng Hội lớn hơn Tổ Đạt Ma cả mấy trăm tuổi. Vì thế, với sự khai tâm của ngài Khương Tăng Hội, các bậc chân tu Việt Nam từ thời đó cũng đã thể hiện nếp sống Thiền và các ngài đã xây dựng được đạo Phật Việt Nam chúng ta thành tựu nhiều việc tốt đẹp trước khi Phật giáo đến Trung Quốc.
Nhắc đến Tổ sư Đạt Ma, chúng ta không sao quên được hình ảnh uy nghiêm của ngài ở Thiếu Lâm tự, suốt 9 năm ngồi quay mặt vô vách, toát lên đạo lực của một hành giả nhập Thiền thật là kỳ vĩ. Ngài không dạy ai cả, hay chính xác hơn, ngài chỉ dạy một người duy nhất là Huệ Khả. Đó là điều mà tôi thường suy nghĩ và muốn trao đổi với các thiền sinh hôm nay.
Đạt Ma là Tổ sư, nhưng sự thật ngài chỉ độ duy nhất một mình Huệ Khả. Đương nhiên, ngài giảng dạy cho nhiều đệ tử, nhưng chỉ có Huệ Khả cảm tâm được với ngài. Điều này khiến cho tôi suy nghĩ nhiều về pháp Thiền.
Ngày nay, tu Thiền, chúng ta tiếp nhận được trí tuệ từ Đức Phật Thích Ca, hay từ nhiều Đức Phật; nhưng kỳ thật khi chúng ta truyền sở đắc của mình cho những người khác, tôi cảm nhận rằng chỉ truyền cho một người đã khó khăn vô cùng. Nếu ở góc độ nhìn thấy Tổ Đạt Ma đào tạo được một Huệ Khả đắc đạo thì thú thật tôi trải qua thời gian tu hành 57 năm, nhưng chưa độ được một người.
Một người đắc đạo tìm được một người thừa kế để truyền tâm pháp của mình cho họ quả là việc không đơn giản chút nào. Tôi hy vọng các vị thiền sư đắc được một pháp nào cũng tìm được một người tương ưng để truyền trao cho thế hệ kế tiếp cũng quý giá vô cùng. Chỉ được một người, nhưng rất xứng đáng.
Kinh nghiệm cho tôi thấy rõ, người đắc Thiền có thể độ người khác; nhưng chưa đắc pháp mà muốn độ người thì khó khăn vô cùng. Tôi đã tham vấn Thiền sư Kono ở Kobe, Nhật Bản. Ngài tu Thiền thuộc dòng Lâm Tế. Ngài dạy tôi rằng muốn độ đệ tử, phải tìm được đệ tử thật sự cảm tâm mình, đồng hạnh nguyện với mình, cùng đi trên một tuyến đường với mình, cùng suy nghĩ theo một hướng với mình. Thử nghĩ xem tìm được một người có đủ tiêu chuẩn như thế có dễ hay không ?
Có người tôi gặp nhận thấy có nhiều điểm đồng nhau, nhưng sau vài câu chuyện, đã thấy họ khác rồi. Vậy mà tìm được một người đồng với mình, đi suốt quãng đường tu với mình, gần là đi tới hết cuộc đời này và xa là đến thành Phật, quả là khó khăn không thể nói hết. Nhưng không tìm được người đồng hành như vậy thì chúng ta có chia sẻ được với những người khác hay không?
Tất nhiên là chia sẻ được, nhưng đó là sự chia sẻ không đồng, mà phải chia sẻ theo năm phương cách như Thiền sư Nhất Hạnh đã nói trong bài pháp thoại về cách sống với năm hạng người mà chúng ta gặp gỡ, tiếp xúc trong cuộc sống. Sự chia sẻ theo cách này đã được Thiền sư Nhất Hạnh thực hiện rất rõ trong việc dạy Thiền. Ngài đã dạy Thiền cho những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Do Thái, v.v…; không phải chỉ dạy cho người theo đạo Phật.
Có thể khẳng định rằng thiền sư đắc đạo, nhưng không tìm được người đồng hành thì coi như dòng Thiền chấm dứt ngay điểm đó. Thật vậy, nghiên cứu Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam , chúng ta nhận thấy ngài Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn truyền tâm ấn cho ngài Pháp Loa và tiếp theo, ngài Pháp Loa truyền cho ngài Huyền Quang. Thiền đến đây là chấm dứt. Không phải ngài Huyền Quang không có đệ tử, vì lúc đó Phật giáo đời Trần đang ở thời kỳ cực thạnh; nhưng mà vẫn phải chấm dứt.
Đi khắp thiên hạ tìm bạn đồng hành, đồng sự quả thật khó vô cùng. Tham vấn Thiền sư Nhất Hạnh, ngài cũng từng nói với tôi như thế, khó tìm được người có thể chia sẻ. Nhưng may mắn thay, Thiền sư đã tổ chức được làng Mai, làng Hồng và các khóa tu mà anh em hôm nay đang thừa hưởng.
Cái khó của tu Thiền không phải ngồi khó, thiền hành khó, pháp thoại khó; nhưng khó ở chỗ tìm được mối tâm giao. Truyền thông bằng tâm giao được thì không nói, không thiền hành cũng cảm thông với nhau, hiểu nhau tường tận.
Khi tôi thực tập Thiền ở thiền viện của ngài Kono, ngài trải bồ đoàn trước mặt tôi và ngồi đối diện với tôi để dạy Thiền. Nhưng qua hơn hai tiếng đồng hồ, hai thầy trò ngồi đối mặt nhau mà không nói lời nào. Sau đó, ngài hỏi tôi “Hiểu chưa”. Tôi trả lời chưa, thì ngài bảo rằng pháp thoại chấm dứt chừng đó. Trong nhà Thiền, tìm tri thức hiểu nhau không qua ngôn ngữ, cử chỉ là điều rất quan trọng. Chúng ta còn nhớ hình ảnh rất tuyệt vời, Đức Phật tuy không nói lời nào, nhưng ngài cũng cầm hoa sen đưa lên để gợi ý cho Ca Diếp tỏ ngộ. Hoặc chúng ta nói những pháp thoại để gợi ý cho đại chúng. Còn trường hợp của ngài Kono dạy tôi, chẳng những không có pháp thoại, còn không biểu lộ cử chỉ, mà bảo mình hiểu. Không hiểu thì đi về. Đơn giản như vậy thôi.
Một thiền sư khác mà tôi đến đảnh lễ, xin ngài chỉ dạy Thiền. Ngài chỉ nói rằng phải thêm 30 năm tham cứu nữa. Thế là tôi ra về với hành trang là câu “30 năm tham cứu nữa”.
Tìm một cuộc sống yên tĩnh để có sự tỉnh thức bên trong, sự sáng tỏ bên trong mà giữa ta và thầy hiểu nhau không qua lời nói, không qua cử chỉ, mới thật sự thâm nhập vào thế giới Thiền. Nhưng người đạt đỉnh cao như thế để nuôi dưỡng được dòng pháp Phật muôn đời về sau phải nói là hiếm có người làm được.
Nhưng thực tế chẳng lẽ khó như vậy thì không dạy Thiền hay sao? Dĩ nhiên tất cả các thiền sư khác cũng dạy Thiền, nhưng phải biết đều là phương tiện. Các ngài đưa ra những pháp hành khác nhau cũng giúp được cho người ở một chừng mức nào đó để thăng hoa cuộc sống, để làm tươi mát những cơn bực tức, buồn phiền của con người. Đó chính là xã hội Thiền vậy.
Tôi mong rằng tất cả thiền sinh đều hưởng được hương vị này, nghĩa là dịu mát được tâm hồn, dập tắt được sự tức giận, phiền muộn, trầm uất, khổ đau v.v... Tôi nghĩ rằng quý vị sẽ thực tập được pháp Thiền theo hướng này, trong 7 ngày tu ở đây mọi người đều đạt được sự tỉnh giác ở một mức độ nào đó.
Riêng tôi, lấy pháp trì kinh, lạy Phật thay cho Thiền, cũng làm tươi mát được tâm mình, nên tôi thường dạy người khác pháp hành này. Gặp việc khó xử, tôi thường lạy Phật liên tục cũng cảm thấy lòng nhẹ đi và đôi khi lóe lên những tia sáng giúp tôi giải quyết mọi việc tốt đẹp.
Tất cả các pháp môn phương tiện dùng cho việc tu hành, mỗi thiền sư có một cách khác nhau; nhưng tựu chung đều làm tươi mát tâm hồn. Còn việc cao xa hơn nữa là thâm nhập Phật huệ thì dành cho hàng thượng căn thượng trí. Hôm nay, không có Thiền sư Nhất Hạnh ở đây để chỉ dạy trực tiếp. Mong các anh em tự nỗ lực, trước nhất là làm tươi mát được cuộc sống của chính mình và các bạn đồng tu. Kế đến là tìm được sự tâm giao giữa các bạn đồng tu. Vì nếu không hiểu nhau, không thương nhau, không giúp đỡ nhau được thì việc tu hành không còn ý nghĩa. Quý vị từ bốn phương trời đến đây, hãy sử dụng cơ hội sống chung với nhau trong khóa tu này để tìm hiểu và thấy được những điểm tốt đẹp của nhau mà bổ sung cho việc tu hành của chính mình. Được như vậy đã là sự đóng góp lợi lạc cho đạo pháp và cộng đồng xã hội.
Cầu mong tất cả những thiền sinh hiện diện trong khóa tu này luôn được an lành, tỉnh giác và tạo được mối tâm giao thân thương với các pháp lữ đồng hành trong suốt khóa tu và trên suốt lộ trình tự hành hóa tha.
HT. Thích Trí Quảng
01:44
Sống trong tỉnh giác
Mùa An cư, Giáo hội chúng ta chủ trương thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học. Điều này cũng là truyền thống của Phật giáo đã có từ thời Đức Phật tại thế. Thật vậy, khi Đức Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, Ngài nhận chân rằng điều Ngài chứng ngộ khó có thể chỉ thẳng cho người còn bị ngũ ấm ngăn che, phiền não ràng buộc. Vì thế, Phật định nhập Niết bàn; nhưng vì lòng thương tưởng của Ngài đối với chúng sinh vô cùng tận, khiến Ngài nhớ lại lời thệ nguyện rằng khi thành tựu quả vị Vô thượng Bồ đề, Ngài sẽ cứu khổ chúng sinh, Đức Phật mới trở lại cuộc đời để giáo hóa độ sinh. Và việc giáo hóa của Phật có điều đặc biệt mà Tăng Ni cần suy nghĩ để áp dụng cho được kết quả tốt đẹp.
Bắt đầu việc độ sinh, trước nhất, Đức Phật từ Bồ đề đạo tràng đi đến Lộc Uyển, giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như. Điều này gợi nhắc chúng ta rằng Đức Phật cũng chỉ giáo hóa người có duyên với Ngài thôi; vì nghe được, tin được, hiểu được và thực hành được giáo pháp không đơn giản. Đương nhiên chỉ những người có duyên với Phật mới có thể lãnh hội tinh thần Ngài dạy. Ý này được kinh Pháp Hoa khẳng định rằng Xá Lợi Phất là đệ tử có trí tuệ bậc nhất còn phải dùng niềm tin để thâm nhập Phật đạo. Không phải người trí thức là có thể tin và thực hành giáo pháp.
Chúng ta không sinh cùng thời với Phật, nhưng có duyên lớn với Ngài, nên được xuất gia trong chánh pháp và tuân thủ lời Phật dạy trên bước đường tu hành, phiền não trần lao của chúng ta phải mòn lần, trí tuệ phải phát sinh.
Lần này, chúng tôi viếng thăm Tăng Ni tỉnh Hải Dương an cư kiết hạ; rất tiếc không còn những bậc thạch trụ tòng lâm. Tuy nhiên, tỉnh nhà chúng ta đào tạo được nhiều Tăng Ni trẻ tiếp nối sự nghiệp của bậc tiền nhân là điều đáng mừng; đặc biệt đối với tôi chủ trương trẻ hóa lãnh đạo thì điều này càng quý hơn nữa. Tôi mong rằng Tăng Ni trẻ kế thừa được sự nghiệp của Giáo hội chúng ta đã xây dựng và nỗ lực phát huy nhiều hơn nữa để làm lợi ích cho cuộc đời, tốt đẹp cho đạo pháp. Trái lại, nếu Tăng Ni trẻ không được hướng dẫn, không thực tập đúng Chánh pháp, dễ phạm sai lầm sẽ gây tai hại cho đạo pháp vô cùng.
Riêng bản thân tôi làm được việc trong thời tuổi trẻ nhờ luôn tuân theo sự giáo dục đúng đắn của các bậc Hòa thượng thân giáo sư. Ngày nay, ở nơi đây không có các bậc thạch trụ tòng lâm, các anh em phải tự lực, tự suy nghĩ, dấn thân; cho nên khó tránh khỏi những lỗi lầm. Vì vậy, tôi mong anh em cần đọc tụng kinh điển. Nói đến đọc tụng kinh, nhiều người cũng dễ phạm sai lầm là chấp chặt văn tự. Đọc tụng kinh điển để nhận ra nghĩa lý sâu xa Phật dạy tiềm ẩn trong kinh và nương theo cốt lõi đó mà tu hành thì kết quả mới cao. Còn chấp từ câu, từ chữ và vướng mắc với văn tự, sẽ mất nhiều thời gian tu học, nhưng kết quả không cao. Không đặt vấn đề phải học kinh điển thật lâu, dù chỉ học một tháng, thậm chí một ngày, nhưng điểm chính yếu là phải để tâm suy nghĩ yếu nghĩa để ứng dụng thì sẽ gặt hái thành quả tốt đẹp; không suy nghĩ, học suốt đời cũng chẳng được kết quả bao nhiêu. Vì thế, tôi học kinh Pháp Hoa, tìm hiểu ý sâu xa mà Phật muốn dạy và rút gọn thành Bổn môn Pháp Hoa dùng làm hành trang tu tập. Tôi tâm đắc ý của Ngài Nhật Liên dạy rằng không thể bỏ văn kinh, nhưng hiểu được yếu nghĩa kinh quan trọng hơn. Với tinh thần tóm thâu yếu nghĩa, tôi đọc kinh Vô Lượng Nghĩa xem ý gì quan trọng nhất mà chúng ta phải ghi nhớ trong tâm.
Trước khi nói Pháp Hoa, Đức Phật nhập Vô Lượng Nghĩa xứ định và nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Như vậy, để bước vào thế giới Pháp Hoa, chúng ta mang theo hành trang là Vô Lượng Nghĩa kinh. Đó chính là sự tổng hợp 49 năm thuyết pháp của Phật bằng ngôn ngữ, bằng trí tuệ và bằng tình thương đối với cuộc đời. Nói cách khác, nhắc đến Vô Lượng Nghĩa kinh nghĩa là nhắc đến toàn bộ pháp Phật, tất nhiên rất nhiều, nhưng có thể nói rằng không ngoài ba việc quan trọng chính yếu là trí tuệ, đạo đức và tình người.
Trên nền tảng của yếu nghĩa như thế, Tăng Ni học Vô Lượng Nghĩa và thể hiện Vô Lượng Nghĩa kinh bằng cách phát huy trí tuệ, thấy biết đúng đắn những việc xảy ra để hướng dẫn mọi người và mình cùng làm những việc ích lợi cho cuộc đời; đồng thời tạo được sự gắn bó thân thương giữa người với người.
Nhập Vô Lượng Nghĩa xứ định nghĩa là áp dụng Thiền quán, tức sống trong tỉnh giác để chúng ta soi rọi mọi việc làm của Phật, từ đó thấy được hướng đi đúng đắn của chính mình trên cuộc đời này.
Kinh Pháp Hoa diễn tả rằng khi Phật nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ định thì trời mưa hoa Mạn Đà La, đại Mạn Đà La, Mạn Thù Sa, đại Mạn Thù Sa. Chúng ta nghĩ bốn loại hoa trời này rơi xuống thật cũng được; nhưng riêng tôi, thường suy nghĩ về ý nghĩa của tên các loài hoa này. Mạn Đà La là ý lạc hoa, nghĩa là khi Phật xuất hiện, thuyết pháp, Ngài luôn làm cho mọi người an lạc. Thể hiện tinh thần này, chúng ta có thể thuyết bất cứ pháp nào, nhưng phải làm cho người anvui; không làm được như vậy, coi như không thuyết pháp được. Thậm chí Thiền Tăng không nói gì, nhưng người trông thấy các Ngài liền được an lạc là các Ngài đã nói được 84.000 pháp và đã trấn áp được phiền não trần lao của con người.
Thiết nghĩ nhận được yếu nghĩa sâu xa trong kinh điển và ứng dụng vào đời sống tu hành hàng ngày, cùng với việc truyền bá Chánh pháp, đó mới là việc quan trọng chính yếu của hàng đệ tử xuất gia. Các Tăng Ni tỉnh nhà tuy còn trẻ tuổi, nhưng tương đối làm được một số việc lớn lao. Chúng tôi kỳ vọng các anh em nỗ lực sử dụng sức lực trẻ trung để phát triển trí tuệ, đạo đức và làm lợi ích cho đời, tốt đẹp cho đạo theo tinh thần Vô Lượng Nghĩa của Phật dạy trong kinhPháp Hoa.
Riêng đối với Phật giáo thành phố Hải Phòng, tôi được biết năm nay Ban Trị sự Phật giáo thành phố chúng ta sẽ tổ chức viếng thăm và làm lễ cầu siêu tất cả anh hùng liệt sĩ cùng đồng bào tử nạn tại Trường Sơn. Đó là việc làm có ý nghĩa đối với Phật giáo và đất nước chúng ta. Ngoài ra, để việc tu hành đạt hiệu quả cao, điều tất yếu là trong mùa an cư, Tăng Ni cần tăng trưởng đạo lực, tuệ lực và thể lực của hàng xuất gia.
Được biết đời sống của quý vị ở nơi đây rất cực nhọc; vì thế, nhiều người ốm đau, hoặc thể lực yếu kém, cho nên việc hành đạo phải khó khăn. Tôi nhắc nhở quý vị nhớ lời Phật dạy rằng chúng ta tu hành cần thể hiện nếp sống của Trung đạo, nghĩa là không nên làm việc quá sức, nhưng cũng không nên buông trôi. Làm bất cứ việc gì cũng phải tùy theo hoàn cảnh, tùy theo khả năng và sức khỏe của chúng ta; có như vậy công việc mới không bị trở ngại.
Tăng Ni tu hành, lấy trí tuệ làm đầu; nhưng thể lực cũng khá quan trọng. Ngoài trí lực, còn cần thể lực và đạo lực; có đủ ba yếu tố này mới làm được việc. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, tuy tuổi đã cao, sức khỏe có giảm, nhưng trong suốt mùa an cư năm nay, bằng xe ô tô, tôi đã đi suốt lộ trình dài, đến thăm viếng và giảng dạy tại các trường hạ thuộc các tỉnh thành phía Nam và các tỉnh miền Tây Nguyên, rồi tiếp tục đi thăm các trường hạ miền Trung. Sau đó đi qua đường Trường Sơn để đến các trường hạ phía Bắc. Trải qua đoạn đường dài cả ngàn cây số, mà vẫn bảo đảm được sức khỏe của Tăng Ni, Phật tử tháp tùng theo Ban Hoằng pháp. Được như vậy, vì chúng tôi biết kết hợp khi nào nên đi, lúc nên tạm nghỉ. Nhận thấy sức khỏe yếu thì phải dừng chân, đừng để quá sức, sinh bệnh.
Tu hành tuy cực nhọc, nhưng phải bảo đảm sức khỏe chúng ta tốt; đó là việc căn bản của người tu. Làm thế nào để có sức khỏe tốt ? Trong mùa an cư, chúng ta cần kiểm điểm cuộc sống hàng ngày của chính mình. Tổ Thiên Thai dạy rằng muốn khỏe mạnh, phải biết sắp xếp ba việc chính là ăn uống, ngủ nghỉ và tu học.
Theo tinh thần Đại thừa, mỗi người có túc nghiệp khác nhau, dẫn đến nhu cầu vật chất không giống nhau.Túc nghiệp là nghiệp nhân đời trước đã tạo và kết thành quả báo trong đời này, không thể thay đổi liền trong một sớm một chiều. Người có cơ thể khỏe mạnh nhờ túc phước đời trước, còn người ốm yếu, bệnh hoạn liên miên vì túc nghiệp đời trước. Cả hai người này tuy cùng là Tỳ kheo tu hành, nhưng sinh hoạt phải khác nhau. Thật vậy, người có phước thìăn uống đơn giản vẫn khỏe. Người ốm đau phải tránh những thức ăn không thích hợp. Tuy nhiên, cần lưu ý trong thời đại của chúng ta, có nhiều thức ăn chay chế biến chứa nhiều độc tố rất hại cho cơ thể. Tôi không dùng thực phẩm chế biến vì ngại đưa vào cơ thể chất độc hại mà không thải ra được sẽ là mầm mống bệnh tật. Tôi nhắc Tăng Ni nên tránh những thức ăn gây bệnh, hoặc không thích hợp với cơ thể mình.
Ngoài ra, vấn đề ngủ nghỉ, sinh hoạt cũng quan trọng không kém. Thời khóa tu của chúng ta trong mùa hạ, ít nhất cũng phải có sáu thời, nhưng trong sáu thời khóa tu này, phải điều chỉnh cơ thể thích nghi theo. Thiết nghĩ cần tập luyện cho quen; đối với tôi, phải giữ sáu thời hoặc ba thời, nhưng nên có gia giảm. Nếu đại chúng sức khỏe yếu kém quá, chúng ta có thể giảm bớt thời khóa để bắt đầu từ thấp lên cao. Trong một ngày đêm, chúng ta có ba thời khóa tụng niệm là công phu sáng sớm, công phu chiều và quả đường. Nhưng còn cần thêm hai thời nữa mà không làm hao tổn sức lực, là một thời tu tập Thiền quán và một thời pháp đàm, tức học giáo lý. Hai thời “Thiền thực và Pháp thực” chính là món ăn tinh thần rất cần thiết và có lợi vô cùng cho người tu. Không học giáo lý và không tham thiền, trí tuệ không thể phát sinh và tâm hồn không thể yên tĩnh được, thì không phải là Sa môn.
Trong sinh hoạt tu hành, khi thể lực tổn hao, chúng ta ngồi thiền nghĩa là tự điều chỉnh cơ thể chúng ta, điều chỉnh hô hấp và nhịp tim và để cơ thể hoàn toàn nghỉ ngơi. Tôi làm việc nhiều, nhưng ít mệt là nhờ thực hiện pháp này. Sau một ngày làm việc, tôi thường dành một, hai tiếng để tinh thần và cơ thể được nghỉ ngơi, thì nhân lúc nghỉ ngơi này, chúng ta đưa Thiền vào, một là thiền ngồi, hai là thiền đi, xưa gọi là tọa thiền và hành thiền. Vì nếu ngồi liên tục, cơ thể mệt mỏi và buồn ngủ, nên chúng ta đứng lên, đi kinh hành. Tuy nhiên, lúc ngồi hay đi, chúng ta đều quán chiếu cuộc sống hàng ngày của chính mình và những việc xảy ra xung quanh mình. Buổi tối, trong thời tọa thiền hay kinh hành, tôi tự suy nghĩ trong một ngày đã làm việc gì, đi thăm tỉnh nào, tiếp xúc với ai và phản ứng của Tăng Ni từng địa phương, của Giáo hội, của xã hội đối với tôi như thế nào. Tôi kiểm chứng để đánh giá kết quả, để rút kinh nghiệm cho bản thân mà tự điều chỉnh việc hành đạo sắp tới. Có quán chiếu như vậy, trí tuệ mới phát sinh; vì thực tế có thấy nghe mới cho chúng ta suy nghĩ và nhận thức. Tuy hiểu biết đó là trí tuệ hữu lậu, nhưng cũng không làm chúng ta xa rời thực tế và giúp chúng ta thấy biết mỗi ngày đúng đắn hơn, từ đó có những xử sự thích hợp nhất.
Và nếu sau này, sự tu chứng Thiền quán của quý thầy cao hơn thì có thể sử dụng vô lậu trí hay vô lậu huệ như Hòa thượng Chủ tịch của chúng ta. Thật vậy, Hòa thượng Trí Tịnh đã trải qua cuộc đời tu hành khá dài, nhưng ngài ít tiếp xúc với bên ngoài. Ngài chỉ chuyên dịch kinh, đọc kinh, niệm Phật, tham thiền; mặc dù ngài gánh vác nhiều chức vụ rất quan trọng. Chính công phu chuyên tu đã tạo cho ngài có trực giác, tức trí tuệ vô lậu; nhờ đó, Hòa thượng không đi hành đạo bên ngoài, không nhìn, không nghe, mà vẫn có giải pháp đúng đắn, thích nghi cho từng vấn đề của Phật giáo cả nước.Với tài đức như vậy, ngài đã và đang lãnh đạo được Giáo hội chúng ta bình yên và phát triển trong suốt chặng đường dài hơn 20 năm.
Nếu quý thầy có điều kiện được sống yên tĩnh và chỉ sống với pháp Phật, sẽ không cần sử dụng hiểu biết phân biệt nữa, thì trí tuệ vô lậu từ chơn tâm quý vị xuất hiện. Đó là trực giác, là hiểu biết không cần suy nghĩ tính toán mà rất chính xác. Đức Phật và chư vị Tổ sư thâm nhập Thiền quán và chứng đắc trí vô lậu, nên nhìn sự vật biết được quá khứ, hiện tại, vị lai; biết đời trước của người, biết mối quan hệ của họ với các Ngài như thế nào và hiện đời họ tìm đến để làm gì, thì các Ngài theo đó mà hành xử một cách tốt đẹp. Điển hình như Tổ Phi Lai đã thấy tiền kiếp của ngài là vị tướng đời nhà Nguyễn. Ngài đã từng đi đánh Campuchia, giết chết nhiều người. Kiếp này ngài là cao tăng, nhưng trong thiền định, thấy một người Miên chặt đầu ngài. Khi xả thiền, ngài gọi thầy tri sự đến và dạy rằng sau này ngài phải trả quả báo như vậy thì đừng thắc mắc; vì đó là túc nghiệp của ngài. Quả nhiên, khi người Miên nổi dậy, người đàn ông thường công quả trong chùa mỗi ngày đã vác rựa đến chặt đầu ngài. Anh này là Phật tử thân cận nhất lại chặt đầu ngài với lý do đơn giản là vì thương ngài quá, nếu không giết ngài mà để cho người khác giết thì uổng!
Chỉ ở trong thiền định, chúng ta mới thấy được túc trái oan gia. Mọi việc xảy ra trong ta và chung quanh ta, nếu bình tâm sống trong thiền định, ta mới nhận thấy rõ ràng. Riêng tôi, khi tĩnh tâm, thường quan sát phản ứng trong nội tâm tôi là gì thì kiểm chứng lại việc xảy ra trên thực tế, thấy đúng như điều hiện lên trong lòng tôi. Thiết nghĩ khi chưa chứng được Túc mạng minh, bằng cảm tính của tâm thanh tịnh, chúng ta cũng có thể nhận biết suy nghĩ, tâm tư của người đến với ta. Họ có thiện cảm hay ác cảm với ta, đến giúp hay đến hại ta. Không nhận ra điều này, dễ bị mắc lừa.
Thực tế cho thấy một số thầy bị lừa vì thường ngày mải lo sinh hoạt bên ngoài nhiều, mà thiếu phần quan trọng của người tu là hạ thủ công phu. Ví dụ chỉ lo cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, xây chùa, bán hàng, v.v… Lo nhiều những việc như vậy, chẳng mấy chốc sẽ rơi vô thế tục. Vì làm công việc nhiều, chúng ta càng cần nhiều người giúp đỡ, làm công việc càng lớn, chúng ta càng cần nhiều tiền bạc. Chính sự yêu cầu của chúng ta về người giúp đỡ và về tiền bạc là điểm yếu của ta mà kẻ lừa đảo sẽ dễ dàng nhận thấy, trong khi chính ta lại không thấy, cho nên mới bị họ lừa. Thấy chúng ta xây chùa, chắc chắn cần tiền, họ sẽ tìm đến dùng mọi cách, nói đủ kiểu để dụ dỗ. Nghe mà thiếu suy nghĩ, động lòng tham, nhất định bị mắc lừa ngay. Có một số người bị lừa một cách đơn giản như sau. Họ tìm đến nói rằng có mấy tấn hàng ở ngoại quốc gởi về, nhưng thiếu tiền đóng thuế. Thầy cho mượn mấy chục triệu, lấy được hàng, bán rồi, con sẽ cúng thầy một tỷ để xây chùa. Nghe vậy cảm thấy mừng vì có tiền xây chùa, khỏi phải lo. Nếu thầy không có tiền cho mượn thì dễ thôi, thầy vay mượn Phật tử, rồi sẽ trả lại sau. Kết quả thảm hại thế nào có lẽ quý vị đã biết. Một số thầy ở ngoại quốc thì bị lừa cách khác. Kẻ lừa đảo gọi điện thoại báo tin thầy đã trúng độc đắc mấy chục ngàn đô, hãy đưa mấy ngàn đô cho họ đóng thuế rồi họ sẽ đem tiền trúng số đến giao. Nếu thấy mình không cần tiền, nhưng biết chùa mình vắng vẻ, cần người công quả, cần người tu, thì kẻ gian dùng cách đến xin công quả. Vì thiếu trí tuệ, nghe có người phụ giúp, mừng lắm, vội vàng nhận liền. Họ vào chùa ở vài ngày, dò xét xem có tiền hay đồ đạc gì quý thì chờ cơ hội ăn cắp rồi bỏ trốn. Mình cần cái gì, họ dùng cái đó để dụ, khiến mờ mắt, quyết định sai lầm. Nếu tu hành sáng suốt, dễ nhận ra những cách lừa đảo như thế.
Tăng Ni phải nỗ lực gia công Thiền quán. Chưa chứng Tam minh, hay chưa đắc Túc mạng, cũng phải có tầm nhìn tương đối sáng suốt, để không bị người đời lừa gạt. Tâm an, trí sáng mới có thể hành Bồ tát đạo, giúp người bớt khổ đau và góp phần lợi ích cho cộng đồng xã hội, xứng đáng là đệ tử Phật, thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp trên thế gian lợi lạc cho mọi người. Cầu nguyện Phật gia hộ tất cả Tăng Ni và Phật tử luôn sống trong tỉnh giác và trong ánh sáng từ bi của Phật.
HT. Thích Trí Quảng
01:40
Tùy Duyên
Theo lời Phật dạy, Tăng Ni phải cấm túc an cư để thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức. Đó là truyền thống của Phật giáo chúng ta từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi về sau, giá trị này không bao giờ thay đổi. Vì không thúc liễm thân tâm, không trau giồi giới đức, dù có học rộng đến đâu và làm việc gì chăng nữa, nguồn gốc cũng là phiền não trần lao và phải trôi lăn trong luân hồi sinh tử mà thôi.
Sau khi Đức Phật thành đạo, tâm Ngài hoàn toàn trong sáng, trí tuệ hoàn toàn sáng suốt, thấy biết chính xác ba đời nhân quả, gọi là chứng được tam minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh. Nói cách khác, tam minh là do huân tập giới, định, huệ mà có. Kinh nghiệm tu chứng này được Đức Phật truyền dạy cho các đệ tử. Người trực tiếp nghe Phật dạy đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như, nương theo đó tu hành dưới sự dìu dắt của Phật, chẳng bao lâu các ngài đắc quả vị A la hán.
Thực tế quả A la hán nghĩa là phát sinh được trí tuệ, thấy việc đáng làm, nơi nên đến, điều nên nói, người nên dạy. Đó chính là điều căn bản mà chúng ta cần thực hiện trên bước đường tu. Vì thế, Phật dạy rằng người thấy biết ba đời nhân quả, hay thấy lý nhân duyên, tùy theo đó giáo hóa độ sinh, thì khó khăn nào cũng vượt qua được. Khi Phật tại thế, Ngài và Thánh chúng thể hiện trọn vẹn tinh ba của lý nhân duyên trên bước đường truyền bá Chánh pháp, nên các ngài đã gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp vô cùng.
Đến khi Phật Niết bàn, nhân tâm ly tán, phiền não chi phối. Người chưa đắc quả vị nào, tâm chưa thanh tịnh mà tự nghĩ rằng đã đắc quả, đã thanh tịnh; chưa xứng đáng làm thầy sa môn mà nghĩ mình trên thiên hạ. Đó là sai lầm lớn trong giáo đoàn dẫn đến sự phân chia thành các bộ phái. Có thể nói vì không có Phật chỉ đạo, mỗi người tự chấp ngã, chấp pháp, không thể có cái nhìn sáng suốt, hòa hợp, thống nhất, cứ theo kiến chấp thấy mình đúng, người sai. Phiền não nhân đây phát sinh trùng trùng duyên khởi. Và phiền não khởi lên thì chướng duyên xảy đến càng nhiều, làm cho đạo Phật bắt đầu suy yếu.
Tuy nhiên, trên dòng lịch sử tồn tại của Phật giáo dài lâu cả ngàn năm, có những thời kỳ mà các vị Thánh Tăng xuất hiện, hoặc có những bậc chân tu tuân thủ ý Phật dạy. Tâm trí các ngài sáng suốt, thấy được lý nhân duyên; nhờ vậy việc tu hành thăng hoa và việc giáo hóa độ sinh được thành công, làm cho Phật giáo hưng thạnh.
Thực tế lịch sử cho thấy khi Phật giáo bị suy vong ở Ấn Độ, nhưng ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Tạng, Việt Nam… Phật giáo được hưng khởi. Vì chư vị Tổ sư đã thấy rõ lý đạo và áp dụng giáo pháp vào cuộc sống một cách đúng đắn; tùy theo nếp nghĩ, nếp sống của dân chúng từng nơi khác nhau mà giáo hóa. Kết quả là vua chúa thời đó đã ân triêm pháp nhũ và đại đa số quần chúng thấm nhuần Phật pháp, bớt khổ đau, được an vui; nói chung pháp Phật đã làm vơi đi sự oi bức của trần thế. Từ đó, phát sinh quan niệm đem Cực Lạc của Phật Di Đà đặt ngay tại thế giới này. Đó cũng chính là tinh thần Thiền tông của Phật giáo Việt Nam, có thể nói khởi đầu từ Phù Vân quốc sư dạy vua Trần Thái Tông rằng trong núi không có Phật, Phật vốn hiện hữu trong tâm con người, nếu biết đem tâm Phật đặt vào tâm mình. Nói cách khác, đem bốn tâm từ bi hỷ xả của Phật để vào tâm mình thì tâm mình đã có Phật và tâm có Phật rồi, mình ở đâu là có Phật ở đó và có Tịnh độ hiện ra nơi đó.
Trên bước đường tu, chúng ta phải nhận rõ ý này. Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng người nào đem từ bi hỷ xả để vào lòng và xử sự với nhau bằng bốn tâm này là Phật đã hiện hữu trong người đó, cho nên người đó xứng đáng để chư Thiên và loài người cung kính cúng dường. Trên bước đường tu, chúng ta không gặt hái được kết quả tốt đẹp, vì không biết đóng những cánh cửa để cho phiền não tràn vào. Theo Phật dạy, những cánh cửa đó là sáu căn: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ý vọng tưởng. Nếu mở sáu cửa này, chúng ta không thể tiếp cận được Phật, Bồ tát, Thánh Tăng, mà lại tiếp cận với những điều xấu và những thứ xấu này huân tập vào tâm, làm chúng ta buồn phiền, khổ đau.
Như vậy, đem điều phiền não vào lòng sẽ phá hư tất cả công đức mà chúng ta tu tạo được. Thực tế cho thấy nhiều người mới phát tâm tu, rất dễ thương; nhưng vì họ chưa đắc đạo, trải qua một thời gian tiếp xúc với cuộc đời, để cho vui buồn vinh nhục của trần thế len vào tâm, làm hư tâm.
Chính vì thế mà Giáo hội chúng ta chủ trương thúc liễm thân tâm, nghĩa là đóng kín sáu giác quan, không cho tiếp xúc với trần duyên. Tu hành trong mùa an cư là đóng những cánh cửa này lại. Tôi thể hiện ý này qua câu “Trần duyên thuận nghịch tâm không thiết”. Thực tế là từ ngày rằm tháng Tư đến ngày rằm tháng Bảy âm lịch mỗi năm, vào mùa An cư kiết hạ, những cánh cửa này tôi đã khóa kín. Gặp nghịch duyên thì có cách tu theo nghịch, thuận duyên thì có cách tu theo thuận. Thật ra, thuận duyên không phải lúc nào cũng tốt cho chúng ta; lắm lúc nó cũng có mặt không lợi, vì phiền não cũng dễ phát sinh từ thuận duyên. Vì vậy, khi gặp thuận duyên, tức có những điều tốt lành, may mắn, được kính trọng, v.v... Bấy giờ, chúng ta tu bằng cách ngăn ngừa tâm không tốt phát sinh, điển hình là tâm kiêu mạn. Thật tu, càng được kính trọng càng phải khiêm tốn, để nuôi lớn đạo đức của mình. Người không xứng đáng mà được kính trọng thường ưa hãnh diện và khi hãnh diện rồi mà không được kính trọng nữa thì phiền não phát sinh liền.
Theo kinh nghiệm của riêng tôi, điều cần thiết là các thầy Tỳ kheo luôn bình thản trước mọi việc thạnh suy của cuộc đời. Lãnh trách nhiệm của Giáo hội giao phó, hoạt động của Ban Hoằng pháp Trung ương phải nói là ở giai đoạn đầu gặp điều thuận lợi thì ít mà đương đầu với nghịch duyên, khó khăn thì thật nhiều. Chúng tôi cố gắng thực hành hạnh tinh tấn và kham nhẫn để ngăn chặn phiền não phát sinh, giữ tâm thanh tịnh. Nhờ thể nghiệm pháp này trên bước đường hành đạo lâu ngày thành quen, gặp nghịch duyên, tôi không khởi tâm buồn giận. Ý này đã được Đức Phật khẳng định đối với hành giả Pháp Hoa rằng khi bị chống đối, phá hại cũng không lo buồn, sân hận và khi được trời người cung kính cúng dường thì cũng không vui mừng, cho đến nếu bị Dạ xoa sát hại cũng không sợ hãi. An trụ tâm thanh tịnh như thế thực là đệ tử Phật, mới có khả năng làm sứ giả Như Lai.
Tôi mong rằng dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Đường chủ và chư tôn đức trong Ban Chức sự trường hạ Tổ đình Kim Liên, cùng với truyền thống tốt đẹp của Tổ đình chúng ta, đặc biệt nhất là được sự gia hộ của cố Đại lão Hòa thượng Pháp chủ sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư Tăng Ni trường hạ Tổ đình Kim Liên có được tâm thanh tịnh, trí sáng suốt, thành tựu mọi Phật sự, xứng đáng kế thừa sự nghiệp của các bậc tiền nhân để lại, làm phúc lạc cho nhân gian, nhất là tỉnh Ninh Bình chúng ta.
HT. Thích Trí Quảng








