Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng
02:39
Tụng kinh tại trụ đá vua A Dục
- Phút riêng tư: Cho mình những phút giây tỉnh lặng để chiêm nghiệm những lời dạy của đức Phật và lời giảng của thầy qua từng thánh tích và quan trọng là quán sát nội tâm của mình để sửa đổi và thăng tiến tâm linh.
Hành hương Thánh địa Phật giáo Ấn Độ
Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012 | 02:39
Một kế hoạch dài hơn một năm được thông báo để được chiêm bái thánh tích Phật giáo tại Ấn độ là một động lực vô hình cho tất cả Phật tử cố gắng tu học, tiết kiệm tài chính, chuẩn bị tinh thần và sức khoẻ với tất cả lòng thành của mình để thực hiện ước mơ đó vì hơn 2/3 các Phật tử trong đoàn cho biết “đây là cơ hội duy nhất để được về đất Phật” vì nguyên nhân tuổi tác, tài chính, thời gian và 1/3 còn lại nghỉ mình chưa đủ phước duyên này. Như hiểu được tâm nguyện chúng tôi, đức Phật đã gia hộ cho 3/3 = 36 thành viên được cấp Visa cho chuyến hành hương đến đất Phật Phật. Chúng tôi có chút lo lắng vì đa số thành viên đều lớn tuổi cho chuyến hành trình dài và đòi hỏi sức khỏe tốt nhưng suy nghỉ đó tan mất tự lức nào khi mọi người tập trung tại sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất (lúc 18g30) với nụ cười luôn hiện trên môi và ánh mắt an lạc và làm thủ tục xuất lúc 23:45 ngày 16/02/2012. Hành trình về đất Phật được sự hướng dẫn của ĐĐ. Thích Nguyên Hạnh (Đức Trường) và Đạo tràng Pháp Hoa gồm: TT. Thích Lệ Đạt, ĐĐ. Thích Pháp Huệ, cô Hoa Huệ - Chúng trưởng chúng Quan Âm cùng 32 phật tử. Chuyến bay đáp xuống sân bay Kolkata lúc 4g sáng để làm thủ tục nhập cảnh vào Ấn độ, trải qua hơn 553km trên xe về Bồ để đạo tràng và cả đoàn rất hoan hỷ dùng cơm trưa trên xe để đến Bồ đề Đạo tràng lúc 14:00 ngày 17/02/2012.
Bồ đề đạo tràng
Chiều cùng ngày, đoàn hành hương như quên hết mệt mỏi để chuẩn bị y áo trang nghiêm vào đảnh lễ đức Phật tại Bồ đề đạo tràng là thánh địa liêng thiêng nhất của Tứ động tâm. Diện tích Bồ đề Đạo tràng khoảng 3 hecta gồm các thánh tích quan trọng như đại tháp Giác ngộ, Cây Bồ đề, Bảo tòa Kim Cang, bảy nơi đức Phật thiền tọa sau khi giác ngộ và các tháp nhỏ xung quanh. Nếu so sánh với các bảo tàng hay các địa danh lịch sử khác thì nơi đây không có sức hút đối với khách du lịch hoặc không có duyên lành với đức Phật nhưng đối với những người con Phật thì nơi đây hàm chứa cả một kho tàng trí tuệ của đạo giải thoát. Hàng ngàn Phật tử từ khắp nơi trên thế giới không ai bảo ai đều giữ thanh tịnh trang nghiêm tuyệt đối và mỗi đoàn có những thời khóa tu tập riêng, có lẻ không có một đạo tràng nào có nhiều quốc tịch với tính tự giác cao và lòng chí thành cầu đạo như tại đây, nơi đây như một trường học lớn cho tất cả mọi người với nhiều phương pháp tu tập khác nhau và đâu đó có sự xuất hiện của các vị thánh tăng đang giáo hóa. Khi quỳ dưới tôn tượng thật hiền từ của Ngài trong tháp Đại giác và chiêm nghiệm lại những lời thuyết giảng của Thầy qua từng chứng tích, chúng tôi cảm nhận đức Phật thật gần gủi và chân thật hơn bao giờ hết và thật hạnh phúc khi được đến đây như lời dạy của ngài trong kinh điển: “Này các Tỳ Kheo, sau khi ta diệt độ, tất cả Thiện nam, Tín nữ, người mà có lòng tin nơi Phật pháp nên đi đến 4 nơi linh thiêng và ghi nhớ rằng đây là Lumbini, nơi Ta Đản sanh, đây là Bodhgaya nơi Ta Thành đạo, đây là Sarnath nơi Ta chuyển Pháp luân và đây là Kushinagar nơi Ta nhập Niết bàn.” và “Này các Thầy Tỳ Kheo, sau khi Ta diệt độ, những tân Tỷ Kheo đến và hỏi giáo lý nên nói với họ về 4 nơi này và khuyên họ hành hương đến chỗ đó sẽ giúp họ thanh tịnh được các việc làm và nghiệp cũ của họ”. Hai ngày tại đây, chúng tôi đã tìm được sự an lạc cho thân tâm và tiếp nhận đầy nguồn năng lượng tâm linh để tiếp chiêm bái các thánh tích khác
Đoàn hành hương tại Bồ Đề Đạo tràng
Khổ hạnh lâm
Cuộc sống cơ cực nghèo nàn tại đây và cái tên Khổ Hạnh Lâm càng khiến cho chúng tôi bùi ngùi xúc động hơn. Đức Phật đã trải qua 6 năm tu khổ hạnh để vượt lên tất cả sự khổ hạnh thời bấy giờ như Ngài mô tả trong kinh điển “Vì Ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể Ta trở nên hết sức gầy yếu. Tay chân Ta như các lóng tre khô đầy khúc khuỷu. Hai bàn tọa của Ta trở thành giống như móng trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn Ta lộ rõ như rui cột của ngôi nhà đổ nát. Ðồng tử của Ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ dưới giếng sâu. Da đầu Ta khô héo nhăn nheo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng khô héo nhăn nheo. Nếu Ta muốn sờ da bụng thì Ta đụng nhằm xương sống vì hai thứ đã dính sát vào nhau. Nếu Ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện thì Ta ngã úp mặt xuống đất. Nếu Ta chà xát tay chân thì đám lông hư mục rụng xuống trong tay Ta”.
Thánh tích Sarnath - Vườn lộc uyển (Vườn nai)
Là thánh địa thứ 3 của Tứ động tâm, điểm nổi bật của thánh tích là tòa tháp Dhamek (tháp Chuyển Pháp Luân) uy nghi và to lớn là nơi đức Phật chuyển bánh xe pháp đầu tiên cho năm anh em A Nhã Kiều Trần Như sau khi Ngài đi bộ trên 400 km từ Bồ đề Đạo tràng băng qua sông Hằng để thành lập Tăng đoàn đầu tiên trong Phật pháp và ngôi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Buổi chiều tại vườn Lộc Uyển hôm đó thật thanh tịnh và dịu mát, thật hạnh phúc và duyên lành biết bao khi mọi người cùng quy tụ nơi đây cùng nghe lời tụng kinh của quý thầy và thiền hành tại nơi Ngài đã nói những lời pháp đầu tiên để phá tan màn đêm vô minh mở ra con đường giải thoát cho nhân loại.
Sông Hằng
Để được ngắm nhìn ánh sáng mặt trời đầu tiên trên sông Hằng, cả đoàn phải dậy thật sớm từ 5g sáng và đi bộ khoảng 1,5 km đến bờ sông, sau đó lên thuyền qua bờ bên kia với bờ cát trắng mịn trải rộng mênh mông, không khí trong lành và cái se se lạnh làm cho mọi sinh hoạt như chậm lại và thái niệm thời gian không còn tồn tại nữa. Tôi thấy mọi người như trẻ lại và không còn bất kỳ sự vướng bận lo toan nào nữa để cùng nhau đón tia nắng đầu tiên của buổi bình minh, vài nhóm đứng gần nhau để chóng lại cái lạnh, vài nhóm nhỏ chia sẻ về cảm xúc của mình ở các thánh tích, người đứng tỉnh lặng như đang thiền định và có một điểm chung dễ nhận thấy là những nụ cười hạnh phúc. Không để chúng tôi chờ lâu, tia nắng đầu tiên đã xuất hiện ở phái xa chân trời, tất cả chúng tôi cùng nhau hướng về phía mặt trời để đón nhận ánh sáng và hơi ấm đầu tiên. Khi di chuyển một chặng đường rất dài để chỉ đón mặt trời mọc, nghe có vẻ hơi trẻ con và không cần thiết nhưng nhưng mọi việc đều có cái lý của nó trên mọi chặng đường về đất Phật đều ẩn chứa một bài học nào đó mà ta phải tự cảm nhận, và chính nhờ bình minh trên sông Hằng giúp chúng tôi nhận ra hạnh phúc thật giản dị và gần gủi biết dường.
Núi Linh Thứu:
Nơi đức Phật đã thuyết những bộ kinh đại thừa quan trọng như Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Vô Lượng Nghĩa… và giai thoại nổi tiếng của thiềng tôn Niêm hoa vi tiếu khi đức Phật đưa hoa sen lên và duy chỉ có ngài Ca Diếp nhìn Phật mỉm cười. Trước khi đến được hương thất của Phật, chúng tôi đảnh lễ và chiêm bái hương thất của ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, ngài Ca Diếp, ngài A Nan, …. Hương thất đức Phật nằm phía sau núi có thể nhìn toàn cảnh núi rừng và đồng bằng mênh mông, có lẻ đây cũng là dụng ý của ngài để quan sát mọi sinh hoạt của dân chúng để thuyết giảng những thời pháp sinh động hơn và chúng đệ tử luôn được thấy ngài từ xa. Nhờ vậy, vua Tần Bà Sa La luôn hướng nhìn về nơi đó với tâm hoan hỷ và an lạc dù thân đang bị giam cầm bởi chính con ruột mình vua A Xà Thế.
Chúng con xin được về đây dâng lên tấm lòng thành và cầu mong trí tuệ của Ngài luôn dẫn dắt chúng con.
Hang Thất Diệp: nằm cách núi Linh Thứu 10km là nơi tổ chức cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất của 500 vị A Lan Hán. Để đến được nơi hang Thất Diệp, đoàn phải trải qua mấy ngàn bậc tam cấp nhưng các cô lớn tuổi vẫn quyết tâm đi bộ mà không cần ngồi võng với ý niệm rất dễ thương “đã về nơi đất Phật thì phải cố gắng đi và phải đi bộ”. Một cô trong đoàn nói với chúng tối vừa đi vừa niệm phật nơi đây như nhập tâm hơn ngày thường rất nhiều, bước đi nhẹ nhàng thanh thoát hơn và không thấy mệt dù đang đi giữa cái nắng buổi trưa.
Câu Thi Na (Kushinagar): không khí trên xe có vẻ trầm lắng hơn mọi ngày khi đến Câu Thi Na. Chúng tôi chuẩn bị y phục trang nghiêm, một vòng hoa trên cổ, một nhành hoa trên tay và mọi người thành tâm niệm danh hiệu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tiến về tháp Niết Bàn là một tòa nhà màu trắng nổi bật trong không gian tỉnh mịch để viếng đấng Từ phụ. Bên trong tháp là tôn tượng của ngài đang nằm với gương mặt hiền từ, mắt nhắm và miệng mỉm cười như đang ngủ được đắp một y vàng và một y màu đỏ nhỏ hơn phía trên do đoàn hành hương trước dâng cúng. Sau đó, chúng tôi được thầy hướng dẫn đến hành lễ tại tháp Ramabhar - nơi trỳ tà kim thân Đức Phật, những lời kinh tụng xúc động lòng người về công hạnh và con đường hoằng pháp suốt 49 năm của Ngài, hình ảnh của Tăng đoàn quỳ xung quanh kim thân trong tác phẩm Đường Xư Mây Trắng như tái hiện trong tâm trí chúng tôi, và những câu hỏi của ngài A Nan trước khi phật nhập diệt khiến nhiều người không thể ngăn được dòng nước mắt thương tiếc đấng cha lành. Những cảm xúc trái ngược của mọi người tại Câu Thi Na khiến tôi có nhiều suy nghĩ vì có cô nói với tôi “cô thấy rất bình yên và an vui dù đây là nơi Phật nhập diệt vì cô cảm nhận đức Phật còn hiện hữu”, người lại nói “không biết tại sao nước mắt cứ chảy ra mà không kiềm được” và cũng có nhiều vị tỉnh lặng bên tháp Ramabhar. Dù lý do gì thì chúng tôi cũng tự nói với chính mình sẽ cố gắng tu học tinh tấn hơn nữa để báo đáp công ơn sâu nặng của ngài.
Quê nội thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) và Lâm Tỳ Ni (Lumbini): trên đường đến thành Ca Tỳ Lê Vệ, mọi người nói đùa với nhau là đang về quê nội. Có lẽ nhờ hai tiếng “quê nội” gần gủi và thân thương đó làm cho mọi người chú ý quan sát hơn trên suốt tuyến đường và không ngừng bình luận cảnh vật hai bên giống như những đứa trẻ lần đầu được về quê. Sáng tinh mơ dịu mát và không khí thật trong lành nhưng cảnh vật hoang tàn chỉ còn những nền gạch hoang phế khiến chúng tôi bùi ngùi xúc động vì thật khó tin đây là nơi đức Phật trải qua thời niên thiếu.
Rời thành Ca Tỳ La Vệ, đoàn hành hương với y áo trang nghiêm để chiêm bái thứ động tâm cuối cùng là Lâm Tỳ Ni nơi đản sanh của đức Phật. Khi bước vào trong khu vườn, cảm giác bùi ngùi xúc động buổi sáng tại thành Ca tỳ la vệ tự nhiên lùi dần để đón nhận niềm hoan hỷ để chào đón sự ra đời của đấng giác ngộ. Cùng ngồi nghe thuyết giảng dưới cây Bồ đề xanh tươi tỏa bóng che mát cho khách hành hương nằm cạnh hồ nước trong lành là nơi hoàng hậu Maya đã tắm trước khi hạ sanh thái tử, bên kia hồ là ngôi đền Maya Devi lưu lại những chứng tích quan trọng là dấu chân in trên đá đánh dấu được xác định là nên đức Phật đản sanh, và trụ đá cao 6m hiên ngang tồn tại qua thời gian. Một thời kinh dưới trụ đá vua A dục để chúng tôi cùng nhau hướng tâm thành tri ân đến đấng Từ phụ.
Tụng kinh tại trụ đá vua A Dục
Thánh tích quan trọng cuối cùng – Kỳ Viên Tịnh Xá: nơi đức Phật và Tăng đoàn trải qua 24 mùa an cư do ngài Cấp Cô Độc cúng dường cho đức Phật. Trước tiên, đoàn hành hương đến đảnh lễ dưới cây Bồ đề do chính ngài A Nanda trồng để những người hành hương như nhìn thấy đức Phật khi ngài không ở đây. Thật cảm động khi chứng kiến cảnh Tăng ni Phật tử các nước trìu mến đắp những tấm y vàng lên thân cây Bồ đề như đang đắp lên thân ngài, nhiều Phật tử quỳ trong tỉnh lặng như đang lắng nghe những lời thuyết giảng của đức Phật, có Phật tử thành kính nhẹ nhàng tưới nước lên gốc và thân cây để cây Bồ đề luôn tươi tốt như cầu mong Ngài luôn dìu dắt va gia hộ. Sau đó, đoàn hành hương đến viếng Hương thất của đức Phật với những nhánh hoa đã được Phật tử Sri Lanka trải khắp nền hương thất của ngài tự lúc nào, từng người trong đoàn sếp hàng trang nghiêm để vào đảnh lễ hương thất Ngài. Tuy Kỳ viên chỉ còn lại những nên gạch cũ kỹ nhưng nơi đây vẫn toát lên vẻ trang nghiêm thanh tịnh của Tăng đoàn ngày xưa.
Ngày cuối trên đất Ấn
Ngày cuối cùng trên đất Ấn thật nhiều cảm xúc, thấy lòng mình sao lưu luyến và thương thật nhiều mảnh đất khắc nghiệt với cái lạnh cái nóng khác thường, cái nghèo tận cùng, cảnh vật đìu hiu ở đây. Chúng tôi tự nghĩ, nếu nơi đây sạch đẹp và đầy những thú vui giải trí như các thành phố thì sẽ không còn những chuyến hành hương đầy ý nghĩa về tâm linh nữa. Mười hai ngày trên đất Ấn, 36 thành viên luôn cùng đồng hành trên một chuyến xe, cùng ăn, cùng sinh hoạt với nhau là môi trường tu tập để giúp mình quán sát những vui buồn, hờn giận trong tâm mình có phát khởi hay không và những suy nghĩ không tốt đó không có điều kiện để khởi lên. Mọi người đều cảm thấy an vui, nhớ những lúc cùng nhau ăn cơm hộp giữa đồng vắng, chia sẻ muối tiêu, nước tương kho quẹt, nấm kho khô, những đêm trò chuyện về đời sống tu học và những nụ cười dễ thương chào nhau buổi sáng. Chúng con xin tri ân đức Phật, quý thầy, tất cả thành viên đã cho chúng con cơ hội tìm lại phần nào con người tâm linh của mình, thấy gần gủi và thương đức Phật thật nhiều, thương các vị Tăng ni, thương những người đã và đang vì đạo pháp mà dấn thân. Đoàn trở về Việt Nam ngày 29/02/2012 (7/3 AL)
Những thành tựu khi đi hành hương về đất Phật
- Kiến thức: Tìm hiểu về các thánh tích cả yếu tố tâm linh và lịch sử để cảm nhận sâu sắc hơn lời dạy và hành trình của đức Phật qua từng thánh tích.
- Tâm hoan hỷ: Bỏ lại tất cả tâm thức nhớ nhà, giận hờn, buồn giận với ngoại cảnh xung quanh để dành hết tinh thần an lạc hoan hỷ đối đải với mọi người và chuyên tâm tu học
- Ăn uống: mỗi quốc gia đều có khẩu vị riêng (thường khó ăn), do đó mình có thể thực tập bỏ thói quen ăn uống dễ dàng thích nghi để đảm bảo đủ sức khỏe và tâm an suốt hành trình.
Nhãn:
Tùy bút,
Văn hóa Phật giáo
02:28
Cầu Siêu Bạt Độ
Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012 | 02:28
Người xuất gia từ bỏ gia đình, không làm việc phò vua giúp nước bị coi là trái với truyền thống phong tục của người Trung Hoa thời xưa. Vì vậy, khi Phật giáo mới du nhập vào nước Trung Hoa đã bị Nho gia đả kích mạnh. Nhưng các nhà tu hành Phật giáo bấy giờ đã cố gắng tạo mối quan hệ giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, tìm cách hài hòa tư tưởng xuất thế của Phật giáo với tư tưởng nhập thế của Nho giáo.
Với tài kết hợp khéo léo của các nhà truyền giáo đã tạo thành nét đặc sắc cho Phật giáo Trung Hoa thể hiện được sự hài hòa tư tưởng Khổng Mạnh, Lão Trang của Trung Hoa với thế giới tâm linh của Ấn Độ và cũng tạo cho nền văn hóa Trung Hoa thêm phần phong phú. Xây dựng trên nền tảng như vậy, có thể nói ngày nay Phật giáo Trung Quốc đại diện cho ba nền văn minh, tư tưởng Khổng Mạnh, Lão Trang, văn minh Ấn Độ và tư tưởng Phật giáo.
Về việc báo hiếu, báo ân, truyền thống Khổng Mạnh của Trung Hoa chủ trương phò vua, giúp nước, nối nghiệp hương khói của gia đình. Quan niệm này đã tạo thành khoảng trống không thể lấp đầy đối với người đã qua đời. Thật vậy, việc siêu độ cho vong linh của người quá cố trở thành quan trọng với mọi người. Người sống làm việc, đã có công với gia đình, với xã hội, với dân tộc, với tổ quốc, nhưng khi họ chết, thì giải quyết cách nào đây. Nhớ đến nỗi khổ của họ, cần phải làm gì cho họ hết khổ. Đó là vấn đề lớn được đặt ra cho người dân Trung Hoa và nỗi ám ảnh lớn nhất với họ là hình ảnh của những người đã tập hợp quần chúng khởi nghĩa phải chết trong oán hận, trong đau khổ của chiến tranh.
Bắt nguồn từ sự bức xúc về tâm linh như thế, Phật giáo đã đưa ra thuyết siêu độ vong linh và quả tình đã đáp ứng được yêu cầu của xã hội Trung Hoa từ đời Đường. Đọc lịch sử, chúng ta còn nhớ chính vua Đường Thái Tông đã đem quân đi chinh phục nhiều nước, nhiều bộ tộc, tất nhiên đã sát hại rất nhiều người và ngay cả trong gia đình ông cũng giết hại lẫn nhau. Vì thế, ngồi trên ngai vàng hưởng thụ mọi thứ vật chất xa hoa, ông vẫn bị ám ảnh trầm trọng về cảnh tượng giết chóc do chính ông tạo ra. Bị lương tâm giày vò và sợ hãi đến cùng cực vì nhìn ở đâu cũng thấy hồn ma hiện ra đòi mạng, cho nên vào cuối cuộc đời, ông đã nhờ Pháp sư Huyền Trang làm lễ siêu độ cho tất cả hương linh của người thân thích với ông và cả những kẻ oán thù, với niềm mong mỏi rằng tất cả hương hồn đều rũ bỏ mọi ân oán để được sống an vui ở chốn thiên đường. Việc cầu siêu bạt độ cho hương linh đã xuất phát từ đời Đường như vậy và được dân chúng chấp nhận, tin theo, lưu truyền cho đến ngày nay.
Ngoài ra, ngày rằm tháng 7 là mùa mưa dầm gió bấc làm cho người ta dễ liên tưởng đến tất cả vong linh đang bị đói lạnh, hoặc khổ đau trong những cảnh giới siêu hình. Vì thế, Phật giáo Trung Hoa đã khéo kết hợp ngày rằm tháng 7 với mùa Vu lan theo kinh Vu Lan Bồn. Thật ra ngày tự tứ của chư Tăng là rằm tháng 9, nhưng các nhà truyền giáo Trung Hoa đã cho tổ chức lễ cầu siêu độ vào rằm tháng 7 cho thích hợp với phong tục của dân chúng Trung Hoa vào lễ Trung nguyên. Nhờ sự vận dụng giáo pháp thích nghi với đời sống và nếp nghĩ của người Trung Hoa, Phật giáo mới tạo được vị trí vững chắc trong lòng xã hội và tồn tại đến ngày nay.
Mọi sinh hoạt, kể cả hoạt động tín ngưỡng được chấp nhận và tồn tại đương nhiên đều có lý do của nó. Lễ cầu siêu mà người dân tổ chức cho người thân thích hay để giải oan cho người đã khuất, có thể nói quả là cần thiết đối với họ; vì không làm lễ siêu độ, không hướng tâm cầu nguyện, thì chính họ cảm thấy nặng nề, không an lòng, không được nhẹ nhàng. Cảm giác đó của con người chính là thế giới tâm linh hiện hữu thật sự và đó cũng là lý do tồn tại của các lễ trai đàn cầu siêu bạt độ.
Tuy nhiên, kết quả cầu siêu có được hay không tùy thuộc ở niềm tin của người tổ chức trai đàn và cũng tùy thuộc ở đức hạnh của người chủ trì lễ cúng tế. Nếu người tổ chức có lòng thành và người chủ trì lễ cầu siêu có đời sống tâm linh trong sáng thật sự thì có thể hóa giải mọi oan gia nghiệp chướng cho người quá cố.
Trong mùa Vu lan, muốn hồi hướng cầu siêu cho tất cả hương linh, mong rằng người tổ chức trai đàn nên có niềm tin thật sự và mời được những vị chân tu đức hạnh, thanh tịnh và giải thoát để tạo thành đạo lực gia trì cho người quá vãng siêu sanh Tịnh độ và người hiện diện tăng tiến đạo Bồ đề.
HT. Thích Trí Quảng
Nhãn:
Tùy bút,
Văn học Phật giáo
02:08
Xuân trên từng bước chân
Theo sự tuần hoàn của vũ trụ, thời tiết đổi thay qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa Xuân, muôn hoa đua nở, khí trời ấm áp, phong cảnh xinh tươi, muôn vật bừng lên sức sống sau một thời gian dài chịu đựng cái giá rét của mùa Đông. Lòng người cũng cảm nhận được niềm vui tràn đầy sức sống của đất trời, hay đó là sự ảnh hưởng tốt đẹp của thiên nhiên đối với con người.
Tuy nhiên, trước cảnh thiên nhiên vui tươi như vậy mà cũng có những người chẳng những không hòa được cùng niềm vui của đất trời; trái lại, tâm hồn họ ảm đạm, buồn bã. Tâm sự u buồn này thể hiện qua câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Xuân sang mà vẫn là Thu trong lòng.
Vì sao họ không thưởng ngoạn được cảnh Xuân như thế. Với người bình thường, phong cảnh bên ngoài vui thì lòng họ vui theo. Nhưng người không bình thường, vì tâm hồn đang sầu não quá mức, mùa Xuân vui tươi cũng trở nên tàn úa như mùa Thu. Hoặc người mải mê đuổi theo danh lợi, được mất, chẳng có thì giờ vui xuân, cái tâm tính toan làm cho cặp mắt họ bị mờ đi trước cảnh xuân xinh tươi, nói chi đến tiếp nhận được nguồn vui xuân. Hoặc người bất mãn, bực tức, thì gió xuân mát dịu cũng không hưởng được, vì đang lao mình vào cảnh hừng hực nóng bức của mùa Hạ.
Đó là những tâm trạng vui buồn của người đời đối trước mùa Xuân của vạn vật. Riêng hành giả bước theo dấu chân Phật, làm chủ được tâm mình, không bị sự tác động của ngoại cảnh. Nói cách khác, dù cảnh vật bên ngoài không còn là Xuân, mà đang là Đông giá buốt hay Hạ nóng bức, hoặc Thu ảm đạm, hành giả vẫn có cho riêng mình mùa Xuân của Đức Phật.
Thật vậy, sống với mùa Xuân của Đức Phật, từng bước chân đi nở hoa sen, tức cảnh vui bên ngoài hiện hữu theo bước chân hành đạo, mà đó cũng là đóa hoa thanh tịnh đã nở ra trong tâm hành giả.Hai niềm vui này hỗ tương cho nhau. Từ đó, an trú trong cảnh Xuân theo Phật, mùa Đông lạnh lẽo, hành giả vẫn luôn cảm thấy ấm áp như mùa Xuân. Riêng tôi, trải qua những mùa Đông ở Nhật Bản, tôi hành Thiền trên núi tuyết, từng bước chân đi trong tuyết trắng băng giá, vẫn cảm thấy ấm áp. Thể nghiệm này gợi cho tôi cảm nhận sâu sắc lời Phật dạy rằng khi phiền não lắng yên, hoàn cảnh khắc nghiệt bên ngoài như thế nào, hành giả vẫn có được niềm hỷ lạc. Xuân trong tâm, hay niềm an lạc phát xuất từ tâm thanh tịnh, trí sáng suốt giúp cho hành giả luôn luôn có được mối giao hòa với cảnh sống thiên nhiên một cách tự tại, tiếp nhận được sự tương thông mật thiết giữa mình với thiên nhiên, giữa mình với Phật. Chính sự gắn bó vô hình này đã tạo cho tôi sức mạnh vô biên, khiến cho từng bước chân đi trong tuyết lạnh cảm thấy hỷ lạc như đang dạo chơi trong rừng hoa anh đào rực thắm.
Mùa Xuân thiên nhiên luôn đổi thay theo định luật vô thường, hoa nở rồi tàn, cảnh đẹp rồi úa, muôn vật không thể nào giữ mãi sức sống tươi trẻ. Còn mùa Xuân của thế nhân cũng không hơn gì, bên ngoài luôn chịu sự chi phối của ngoại cảnh, bên trong luôn bị bức bách ràng buộc bởi tâm tham vọng, mê mờ, chấp trước. Vì thế, người đời hết vui đến buồn, không thể an vui lâu dài; tâm trí dao động liên tục, sự thấy biết không thể chính xác, nên khổ đau cũng nối tiếp nhau triền miên.
Chỉ có mùa Xuân của hành giả an trụ pháp Phật là vĩnh hằng bất tử, tiềm ẩn nguồn sống an lạc bất tận từ Pháp giới cho đến hiện hữu an lành, hỷ lạc ngay trong cuộc sống ở cảnh Ta bà này.
Cầu mong tất cả mọi người cảm nhận được mùa Xuân nở hoa trên từng bước chân đi, trên từng tâm niệm hướng đến cảnh giới thường trú của Đức Phật, sẽ được Đức Phật hộ niệm, phát huy được tri thức và có các thiện hữu tri thức cùng chung xây dựng cảnh giới an vui, hữu ích cho nhiều người.
HT. Thích Trí Quảng
Nhãn:
Tùy bút,
Văn học Phật giáo
00:13
Tịnh Độ
Trong kinh điển Nguyên thủy, Đức Phật nói về thế giới Niết bàn, nhưng chuyển sang kinh điển Đại thừa, cảnh giới Niết bàn được triển khai thành các mô hình Tịnh độ như Tây phương Tịnh độ của Đức Phật Di Đà, Đông phương Tịnh độ của Đức Phật Dược Sư, Tịnh độ của Duy Ma, Tịnh độ của Pháp Hoa, v.v...
Tịnh là trong sạch và độ là đất, nhưng không phải mặt đất này. Trong kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật Thích Ca dạy về tâm địa, lấy mảnh đất tâm của chúng ta làm đối tượng quán sát, tu hành. Người tu thường ví mình là người làm vườn khai thác mảnh vườn tâm của chính mình. Bắt đầu công việc canh tác mảnh vườn tâm, chúng ta nhận thấy rõ tâm mình ô uế, nên phải nỗ lực dọn dẹp cho sạch mảnh đất tâm đầy cỏ dại và đuổi hết những rắn rít ẩn núp trong ấy.Có cỏ dại là có rắn rít, hai thứ này thường hợp tác với nhau. Nói cách khác, nội chướng và ngoại ma luôn gắn liền với nhau. Thực tế cho thấy người thích uống rượu, hay thích cờ bạc, tự động có bạn rượu, bạn cờ bạc tìm đến rủ rê. Còn lòng tham, mới bị người mua chuộc, còn bực tức thì dễ bị người kích động. Nếu tâm chúng ta vắng lặng, đã dọn sạch cỏ dại, rắn rít đâu còn chỗ nương náu.
Năm 1963, với sự bồng bột của tuổi trẻ, tôi đã tham gia phong trào tranh đấu của Phật giáo, lúc ấy tự động có nhiều người chống chế độ tìm gặp tôi để kích động, mới xuống đường. Vì lòng mình nghĩ như vậy, họ mới tác động được.Nhưng khi tâm tôi đã nguội lạnh sau tám năm tu học ở Nhật trở về, cỏ dại đã dọn sạch, nên rắn rít phải bỏ đi, nghĩa là tôi không muốn đi theo con đường ấy, cho nên người khác không xúi giục được.
Trên bước đường thật tu, từng bước chân niệm Phật, chúng ta đi lần vào Tịnh độ. Dẹp được một phần phiền não, một phần Tịnh độ hiện ra, hay ta khai thác mảnh vườn tâm, dọn dẹp cỏ dại đến đâu thì đem gieo giống Bồ đề đến đó.Còn bỏ mặc, để đất trống thì cỏ dại sẽ mọc rất nhanh, ở không sẽ sanh chuyện. Vì vậy, người tu Tịnh độ thường tinh tấn, ngày đêm sáu thời niệm Phật, tụng kinh, không cho phép có thì giờ chơi hay ngủ. Tụng kinh hai tiếng, nghỉ một chút, lại tụng tiếp. Riêng tôi, đã trải qua nhiều năm thể nghiệm pháp này, tâm mới sạch, Bồ đề mới lớn mạnh, tâm trí mới chứa được pháp Phật.
Phải gấp rút trồng Bồ đề bằng cách tụng kinh, niệm Phật, sám hối, tham thiền. Và tâm Bồ đề của chúng ta vững mạnh thì ác xấu bên ngoài không tìm đến hoặc không tác hại được. Tâm nguội lạnh và người không tác động được là biết tâm mình đã sạch; được như vậy, chúng ta đi lần vào thế giới nội tâm của chính mình, đó là Tịnh độ của tâm, hay Tịnh độtheo Duy Ma.
Duy Ma nghĩa là tịnh tâm và tâm thanh tịnh thì thế giới thanh tịnh hiện ra. Tất nhiên thế giới thanh tịnh này là thế giới nội tâm, không phải thế giới bên ngoài. Nhưng muốn tâm thanh tịnh, phải hàng phục bốn loại ma là ngũ ấm ma, phiền não ma, thiên ma, tử ma.
Riêng với người tu Thiền, nếu thể nghiệm được tâm không sinh, không diệt, chứng quả Vô sanh, tức đạt đến trạng thái tâm hoàn toàn như như bất động, gọi là tâm chân như. Sống với tâm chân như, hoàn cảnh bên ngoài không thể tác động, thiên ma không quấy nhiễu được, nên đối với sinh tử, hành giả cũng không bận tâm, là tử ma không có và tất cả vui buồn vinh nhục của cuộc đời không thể tác hại, phá được phiền não ma. Khi ba thứ ma: phiền não ma, thiên ma, tử ma bị trừ khử, ngũ uẩn trở thành thanh tịnh, thì cũng chấm dứt ngũ ấm ma.
Ngũ uẩn thân ô nhiễm là chúng sinh trầm luân trong thế giới sinh diệt. Ngũ uẩn thanh tịnh thì sanh thân là Pháp thân, hay đã chuyển đổi thân sinh diệt thành không sinh diệt theo Duy Ma.
Thật vậy, ngũ uẩn thân gồm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Thức uẩn là sự hiểu biết của chúng ta có được do xúc chạm, thấy, nghe, suy nghĩ, gọi là vọng thức. Thí dụ, muốn biết một người nào đó, trước hết chúng ta quan sát hình dáng bên ngoài của họ, kế đến, muốn biết rõ hơn, phải tìm hiểu xem họ xuất thân từ trường lớp nào, làm việc ra sao, nghe người khác nhận xét về khả năng, về tánh nết của họ, về gia đình họ và cuối cùng chúng ta tổng hợp tất cả những dữ kiện này để biết họ như thế nào. Đó là cái biết bằng vọng thức theo thế gian.
Theo Phật, chúng ta không sử dụng cái biết theo vọng, nhưng biết bằng trực giác. Chúng ta không thể tin tưởng vào bề ngoài giả tạo của họ, không nghe họ nói để không mắc lừa người khẩu Phật tâm xà. Thể nghiệm pháp Phật, tập biết theo Phật, chúng ta tập chuyển đổi vọng thành chân bằng cách xả bỏ tiền ngũ thức, nghĩa là không sử dụng năm thứ biết do mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm và thân xúc chạm, cho đến chuyển đổi Mạt na thức và A lại da thức trở thành bạch tịnh thức. Trải qua quá trình thực chứng như vậy, hiểu biết theo vọng đã lắng yên, là vọng thức đã xả, thì tâm được thanh tịnh, hiểu biết sáng suốt, không suy nghĩ, tính toán mà vẫn biết chính xác, gọi là trực giác.
Riêng tôi, thường tập quán sát việc hay người bằng trực giác trước, xem có tin được không và sau đó kiểm chứng lại bằng tri thức, bằng kinh nghiệm, bằng sách vở, bằng cách tìm hiểu, v.v… Và đem so những dữ kiện thu thập được với trực giác ban đầu của chúng ta có, sẽ biết được mức độ chính xác của trực giác chúng ta ra sao. Tập cách biết như vậy, lần lần chúng ta phát huy được trực giác, gọi là tuệ giác.
Trước khi tu, sử dụng vọng thức là cái biết sai lầm dẫn đến vô số khổ đau, nên cái biết ấy được mệnh danh là vọng tưởng điên đảo. Vì nhận chân được bản chất của vọng thức là phiền não, người tu lấy trí huệ làm sinh mạng, không còn bị vọng thức chi phối, tác hại, nghĩa là đã chuyển được thức uẩn thành trí huệ, tức chuyển đổi một phần ngũ uẩn thân thành giải thoát tri kiến Pháp thân.
Thức uẩn đã dọn sạch, kế đến là hành uẩn. Hành uẩn là những tính toán hơn thiệt, nói chung, những suy nghĩ, đối phó trong tâm trí của chúng ta khi chưa tu. Nay đã có được giải thoát tri kiến là thấy biết đúng đắn, nên không còn lo lắng, sợ hãi, tính toan, đối phó. Tâm hoàn toàn thanh thản, hành uẩn theo đó tự diệt. Khi quán 12 nhân duyên, vô minh diệt thì hành diệt là nghĩa này. Vô minh diệt, tức sai lầm không có thì hành uẩn cũng diệt, lo sợ, buồn phiền tiêu tan; vì đã thấy rõ mọi việc từ nhân đến quả. Nếu chúng ta tính toán thì người cũng biết tính, nhưng chúng ta thanh thản, nhớ lời Phật dạy mọi việc đủ nhân duyên, sẽ tự động đến. Xuân đến thì hoa mới nở, quả chín mới dùng được. Bồ tát lo tu nhân tốt, quả tốt tự thành, không phải lo sợ. Nói cụ thể, suốt cuộc đời chúng ta lo phục vụ Phật pháp, không gây phiền hà, đương nhiên được tín nhiệm. Còn lo chiếm cảm tình của người, nhưng phạm nhiều lỗi lầm, chắc chắn tâm cũng đầy lo sợ, không yên.
Không làm sai trái, tâm được thanh thản, hiện ra tướng ung dung tự tại, là giải thoát Pháp thân của Hiền Thánh.Chúng ta kính lễ tam thừa tứ quả giải thoát Tăng là nghĩa này. Các ngài đã diệt hành uẩn, mới hiện tướng giải thoát. Trên bước đường tu, chúng ta thực tập pháp kinh hành, Thiền hành hàng ngày sẽ giúp cho việc chuyển đổi hành uẩn trở thành Giải thoát Pháp thân. Còn người tất bật, lo lắng, sợ hãi, có tướng đi như bị ma đuổi.
Ngoài ra, trong cuộc sống, mọi việc được chúng ta quyết định bằng suy nghĩ, tính toán thuộc về tưởng uẩn. Theo Phật, tưởng uẩn không thể đúng đắn hoàn toàn, vì bị điều kiện hóa bởi nhiều thứ. Tu hành, phá bỏ tưởng uẩn để có được trực giác cho chúng ta thấy biết chính xác, không qua suy tính, là Huệ Pháp thân.
Ngoài thức uẩn, hành uẩn và tưởng uẩn, chúng ta còn có thọ uẩn, tức hiểu biết do tiếp xúc, đọc sách, nói chung là do sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với sáu trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Từ đó tạo ra vô số tội lỗi, điên đảo đáng sợ. Vì thế, những người mới tu thường ở núi rừng, ít có người lui tới, để bớt thấy nghe thì không bị sự tác động làm cho tham và sân nổi lên. Điều này dễ nhận ra, hễ thấy nghe điều vừa ý là tâm ưa thích, tham đắm khởi lên liền; trái lại, thấy nghe việc không bằng lòng thì tâm ganh ghét, bực bội có ngay.
Vì thế, người tu phá bỏ thọ uẩn bằng cách không cho sáu giác quan tiếp xúc bên ngoài thông qua pháp tu nội quán, hoặc quán tưởng Phật pháp, tức hướng nội. Nếu không, sử dụng pháp hướng ngoại là mượn cảnh núi rừng, hình ảnh, tranh tượng để trụ tâm tu hành, gọi là thê tâm An Dưỡng hương. Dù ta ở Ta bà, nhưng không nghe nên không thấy chướng tai, không thấy nên không gai mắt. Vì đã đặt tâm ở thế giới Cực Lạc, nghe được pháp, nghe tiếng gió thổi, nhạc trời, suối reo làm cho người nghe ưa thích niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Còn ở Ta bà, người nói chúng ta nghe là bị nhức óc, buồn phiền. Ở Tịnh độ Tây phương của Phật Di Đà, nghe Bồ tát dạy, cảm thấy mát lòng, nghe A la hán luận đạo, chúng ta có được huệ giải, nghe tiếng chim hót, tiếng lá cây xào xạc cũng phát tâm tu.
Đó là những cách tu chuyển ngũ uẩn xoay trở về nội giới, hay hướng về Tịnh độ. Trải qua nhiều năm hướng nội và hướng tâm về cảnh Tịnh độ, tâm tôi sáng tỏ; hướng về kinh điển giúp tôi có hiểu biết rộng lớn. Hướng đến bên ngoài, chỉ nhận thêm nhiều phiền toái mà thôi. Tâm an trụ pháp Phật, cuộc sống của chúng ta theo đó được yên ổn, định tĩnh. Được như vậy là đã chuyển thọ uẩn thành tâm an định, thành tựu Định Pháp thân.
Có được bốn phần Pháp thân, từ Giải thoát tri kiến Pháp thân, Giải thoát Pháp thân, Huệ Pháp thân và Định Pháp thân, thì sắc thân tứ đại tự động là Phật thân. Thật vậy, thân bên ngoài chúng ta biến chuyển theo sự tác động của nội tâm bên trong. Thực tế chúng ta thấy người giải thoát thì có tướng giải thoát, người buồn phiền tất nhiên hiện tướng héo hon; không thể khác.
Hành giả Pháp Hoa đúng nghĩa thì thân như hoa sen, tâm như ngọc ma ni, nghĩa là họ đã thành tựu định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến Pháp thân, làm lợi ích cho nhiều người. Ai xúc phạm đến người này, tự chuốc họa vào thân; vì họ tiêu biểu cho Phật. Nói đơn giản, những người tốt trên cuộc đời được nhiều người kính trọng mà chống đối họ thì tự mang họa. Đừng hiểu lầm ý này và nghĩ rằng mình tụng kinh Pháp Hoa, ai đụng tới mình sẽ bị tai họa.
Theo tinh thần kinh Duy Ma và Pháp Hoa, chuyển đổi ngũ uẩn sanh thân thành ngũ phần Pháp thân là sự chuyển đổi từ tâm mà thân thay đổi theo; vì khi phiền não bị loại bỏ rồi, bệnh tật cũng tự tiêu tan. Người chất chứa nhiều nỗi uất hận, phiền muộn trong lòng, mắc bệnh trầm uất là tất yếu. Tâm yên ổn, thân trở thành khỏe mạnh và thân có được 32 tướng tốt cũng phát xuất từ tâm thanh tịnh tuyệt đối. Nếu có thân hiện đời xấu xí, do túc nghiệp đời trước mà thành, thì trải qua quá trình tu hành, chúng ta chuyển hóa lần ngũ uẩn sanh thân như trên đã nói, cũng sẽ phần nào được thân tốt đẹp trong đời này và đời sau cũng tốt hơn nữa.
Và khi sanh thân đã chuyển đổi thành Pháp thân, Ta bà liền trở thành Tịnh độ. Thật vậy, vì tâm và thân tốt đẹp hoàn toàn, kinh Pháp Hoa diễn tả tâm họ là Thiền, thân làm giống Phật, giảng pháp chân thật, khai thị nhứt thừa, được Phật xoa đầu và trao y bát … Người đó ở nơi nào thì nơi đó cũng biến thành an lành, nghĩa là Tịnh độ hiện ra theo sự hiện hữu thanh tịnh của họ. Nói dễ hiểu, chúng ta tu hành, phá được một phần vô minh, phiền não, sẽ chứng được một phần Pháp thân. Ta giúp đỡ một người thăng hoa, họ sẽ trở thành pháp hữu của ta và sẽ lần sống chết với ta, thì họ chính là một phần Pháp thân của ta. Nhưng nếu vô minh nổi dậy, làm cho người buồn phiền, họ sẽ xa lánh ta, là biến Pháp thân thành phiền não. Phật dạy rằng Ngài tự tại giải thoát trong cảnh khổ đau của chúng sinh, còn chúng sinh lại khổ đau triền phược trong cảnh giải thoát của Phật. Giải thoát và khổ đau như hai mặt của một bàn tay, chỉ khác nhau ở thân khẩu ý do trí tuệ chỉ đạo hay do vô minh sai khiến. Ý này là đỉnh cao của Pháp Hoa khó thâm nhập được. Phật cũng khẳng định rằng tinh ba Pháp Hoa khó hiểu, khó vào. Làm sao chuyển đổi được người xấu thành người tốt, chuyển cảnh ô nhiễm của Ta bà thành cảnh Tịnh độ là điều không đơn giản chút nào.
Vì sự khó khăn vô cùng này, Đức Phật mới mở cánh cửa phương tiện để giới thiệu cho chúng ta Tịnh độ Tây phương của Phật Di Đà. Đức Phật Thích Ca dạy rằng cách đây mười muôn ức thế giới có Phật A Di Đà đang giáo hóa ở cõi Tịnh độ Tây phương, ở đó chỉ toàn là bậc thượng thiện nhân và nhân dân không hề biết khổ não, chỉ hưởng niềm vui cùng tột nên gọi là Cực Lạc.
Sự thật đức Phật vẫn hằng hữu, không mất, nhưng chúng sinh với đôi mắt nghiệp, chỉ thấy Phật nhập diệt, không thấy Phật bất tử thì làm sao tu. Phật chỉ vắng bóng trên cuộc đời, không còn sắc thân. Nếu Phật lưu lại mãi trên thế gian này, ngài e ngại những đứa con mất bản tâm sẽ ỷ lại vào ngài, không lo tu. Thực tế Phật tại thế, người ta kính Phật trọng Tăng, người lười biếng núp bóng Phật để hưởng thụ. Vì vậy, Phật nhập diệt, hay diệt Hóa thành để họ cảm thấy bơ vơ, nỗ lực tu hành, mới thấy được Phật hằng hữu là Phật Báo thân và Phật Pháp thân. Ý này tôi nhận thấy rõ, năm 1963, tu sĩ bị bắt bớ tù đày, nên ít người muốn đi tu. Nhưng năm 1964, số người thọ giới một lần hơn 500 người tại Việt Nam Quốc tự; vì lúc đó tu hành được hưởng nhiều quyền lợi, như không phải đi lính, không tốn tiền học phí, v.v… Và đến năm 1975, thầy tu hoàn tục rất nhiều, vì ở chùa khổ.
Trong hoàn cảnh gian khổ, những người tốt tự phấn đấu, vượt khó, đi lên được; nhưng cũng có những người bỏtu. Vì tâm đại từ bi thương xót tất cả chúng sinh, đức Phật mới mở cánh cửa phương tiện. Đối với người dở, không thể tự lo, Phật khuyến khích họ nỗ lực vượt qua 500 do tuần đường hiểm sẽ đến cõi Tịnh độ của Phật Di Đà hoàn toàn tốt đẹp, có ao thất bảo, có hàng cây bảy báu …. Ở Ta bà tu hành, một đồng Phật cũng không cho giữ, nhưng ở Cực Lạc của Phật Di Đà toàn là vàng bạc, châu báu, cái gì tốt nhất đều có, đời sống an vui cùng cực. Phật đã giới thiệu một mô hình Tịnh độ toàn mỹ toàn bích cho người hướng tâm đến. Kinh Pháp Hoa gọi đó là Bảo sở, nhờ hướng tâm đến mục tiêu đó mà mọi người cố gắng tu, vượt đường hiểm sinh tử.
Có thể nói kinh Di Đà là biến thể của kinh Pháp Hoa, cũng có tên là Phật Sở Hộ Niệm kinh giống như Pháp Hoa.Chỉ khác nhau ở điểm, kinh Pháp Hoa triển khai pháp chân thật, còn kinh Di Đà triển khai pháp phương tiện. Đức Phật Thích Ca vì những người yếu kém, cần nương tựa mới tu được, Ngài mở ra phương tiện môn. Đối với họ, có thầy, có bạn, có chùa mới tu được. Còn theo Pháp Hoa, ở ngoài đồng trống, ở gò mã, hay ở ngã tư đường, cũng tu được. Nhưng thử nghĩ có mấy người làm được như kinh Pháp Hoa dạy. Vì vậy, phải dùng phương tiện và thế giới Cực Lạc là phương tiện Thánh cư độ của Phật Di Dà, giống như Phật Thích Ca dùng phương tiện thị hiện ở Ta bà vậy.
Kinh Di Đà nhằm gợi ý, đưa ra thế giới lý tưởng để chúng ta phấn đấu tu hành. Từ đây qua Tây phương, hoặc qua Bảo sở quá dài xa, phải đi suốt 500 do tuần đường hiểm. Vì thế, nhiều người muốn đi tắt cho nhanh. Ở Ta bà ô nhiễm phiền não, nhưng chúng ta trụ tâm, không phiền não, liền có Tịnh độ; đó là con đường đi tắt. Nhưng mười người đitheo đường tắt này thì có đến chín người bị chết, vì là đường hiểm sinh tử mà.
Cụ thể hóa cho dễ hiểu, như xưa kia người Trung Hoa sang An Độ cầu pháp, nhưng đắc pháp, trở về được thì không có mấy người. Trên đường đi, phải trải qua biết bao nhiêu là sa mạc hiểm nguy. Vì thế, tu hành theo con đường tắt cũng được, nhưng với điều kiện phải có bản lĩnh, có trí tuệ, có phước đức, mới vượt được sinh tử. Đó chính là pháp tu Thiền, nhưng người đắc Thiền, thành Tổ, thành Phật rất hiếm. Con đường khó khăn vô cùng này được thể hiện trong truyện Tây Du Ký, Tam Tạng đi thỉnh kinh ở Đông độ, phải có ngựa thần, có Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng với nhiều phép thần thông bảo vệ, phải có chiếc y nạm châu báu của Bồ tát Quan Am cho để giữ gìn mạng sống, mặc vào không bị lửa đốt cháy, thì mới đem kinh về được.
Vì vậy, nếu thiếu những điều kiện tối cần thiết, phải đi xa hơn, là đi sang Tây phương Cực Lạc. Tuy xa, nhưng tương đối an toàn hơn, không phải là đường hiểm sinh tử. Chỉ cần hướng tâm về đức Phật Di Đà, lắng nghe pháp âm của Phật và Bồ tát ở đó là đến được. Đường xa, nhưng đặc biệt là đi bằng tâm, nên đi rất nhanh, không phải đi bằng thân.Cho nên Phật khuyên chúng ta phải gá tâm vào Cực Lạc thì chỉ một niệm tâm là đến Cực Lạc liền.
Tôi đã áp dụng pháp này, thân ở đây, nhưng tâm gắn vào cõi Tịnh độ. Từng bước chân đi niệm Phật, tâm nghĩ đến Phật, hình dung ra Phật hiện hữu trước mặt, thì có cảm giác đang sống trong Cực Lạc, trần duyên quên hết, đối với Ta bà không còn bận tâm nữa. Mọi việc thuận nghịch, khổ vui đều ở ngoài ta. Thể nghiệm được một phần nhỏ pháp này ở Ta bà sẽ hiện ra cho chúng ta một tiểu Tịnh độ là nhân gian Tịnh độ thành hình. Vì thế, sống trong cảnh tranh chấp, dầu sôi lửa bỏng, họ vẫn an lành. Còn để tâm ở cảnh ô trược, chắc chắn phiền não bao vây, không tu được.
Tóm lại, tâm chúng ta an trụ trong cảnh thanh tịnh của Cực Lạc thì thế giới này cũng thanh tịnh, an vui theo. Tuy cách xa mười muôn ức Phật độ, nhưng trong khảy móng tay liền sang đến Tịnh độ và trong khảy móng tay là hội nhập lại Ta bà độ chúng sinh. Tâm đặt ở Cực Lạc, học cách suy nghĩ, cách sống của Phật, Bồ tát, La hán, Thánh chúng Liên Trì hải hội, tâm chúng ta sáng tỏ theo sự giáo dưỡng của các Ngài. Tâm quay trở về Ta bà, làm nơi nương tựa an ổn, giải thoát cho mọi người thăng hoa đạo đức và tri thức.
Ngoài thức uẩn, hành uẩn và tưởng uẩn, chúng ta còn có thọ uẩn, tức hiểu biết do tiếp xúc, đọc sách, nói chung là do sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Từ đó tạo ra vô số tội lỗi, điên đảo đáng sợ. Vì thế, những người mới tu thường ở núi rừng, ít có người lui tới, để bớt thấy nghe thì không bị sự tác động làm cho tham và sân nổi lên. Điều này dễ nhận ra, hễ thấy nghe điều vừa ý là tâm ưa thích, tham đắm khởi lên liền; trái lại, thấy nghe việc không bằng lòng thì tâm ganh ghét, bực bội có ngay.
Vì thế, người tu phá bỏ thọ uẩn bằng cách không cho sáu giác quan tiếp xúc bên ngoài thông qua pháp tu nội quán, hoặc quán tưởng Phật pháp, tức hướng nội. Nếu không, sử dụng pháp hướng ngoại là mượn cảnh núi rừng, hình ảnh, tranh tượng để trụ tâm tu hành, gọi là thê tâm An Dưỡng hương. Dù ta ở Ta bà, nhưng không nghe nên không thấy chướng tai, không thấy nên không gai mắt. Vì đã đặt tâm ở thế giới Cực Lạc, nghe được pháp, nghe tiếng gió thổi, nhạc trời, suối reo làm cho người nghe ưa thích niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Còn ở Ta bà, người nói chúng ta nghe là bị nhức óc, buồn phiền. Ở Tịnh độ Tây phương của Phật Di Đà, nghe Bồ tát dạy, cảm thấy mát lòng, nghe A la hán luận đạo, chúng ta có được huệ giải, nghe tiếng chim hót, tiếng lá cây xào xạc cũng phát tâm tu.
Đó là những cách tu chuyển ngũ uẩn xoay trở về nội giới, hay hướng về Tịnh độ. Trải qua nhiều năm hướng nội và hướng tâm về cảnh Tịnh độ, tâm tôi sáng tỏ; hướng về kinh điển giúp tôi có hiểu biết rộng lớn. Hướng đến bên ngoài, chỉ nhận thêm nhiều phiền toái mà thôi. Tâm an trụ pháp Phật, cuộc sống của chúng ta theo đó được yên ổn, định tĩnh. Được như vậy là đã chuyển thọ uẩn thành tâm an định, thành tựu Định Pháp thân.
Có được bốn phần Pháp thân, từ Giải thoát tri kiến Pháp thân, Giải thoát Pháp thân, Huệ Pháp thân và Định Pháp thân, thì sắc thân tứ đại tự động là Phật thân. Thật vậy, thân bên ngoài chúng ta biến chuyển theo sự tác động của nội tâm bên trong. Thực tế chúng ta thấy người giải thoát thì có tướng giải thoát, người buồn phiền tất nhiên hiện tướng héo hon; không thể khác.
Hành giả Pháp Hoa đúng nghĩa thì thân như hoa sen, tâm như ngọc ma ni, nghĩa là họ đã thành tựu định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến Pháp thân, làm lợi ích cho nhiều người. Ai xúc phạm đến người này, tự chuốc họa vào thân; vì họ tiêu biểu cho Phật. Nói đơn giản, những người tốt trên cuộc đời được nhiều người kính trọng mà chống đối họ thì tự mang họa. Đừng hiểu lầm ý này và nghĩ rằng mình tụng kinh Pháp Hoa, ai đụng tới mình sẽ bị tai họa.
Theo tinh thần kinh Duy Ma và Pháp Hoa, chuyển đổi ngũ uẩn sanh thân thành ngũ phần Pháp thân là sự chuyển đổi từ tâm mà thân thay đổi theo; vì khi phiền não bị loại bỏ rồi, bệnh tật cũng tự tiêu tan. Người chất chứa nhiều nỗi uất hận, phiền muộn trong lòng, mắc bệnh trầm uất là tất yếu. Tâm yên ổn, thân trở thành khỏe mạnh và thân có được 32 tướng tốt cũng phát xuất từ tâm thanh tịnh tuyệt đối. Nếu có thân hiện đời xấu xí, do túc nghiệp đời trước mà thành, thì trải qua quá trình tu hành, chúng ta chuyển hóa lần ngũ uẩn sanh thân như trên đã nói, cũng sẽ phần nào được thân tốt đẹp trong đời này và đời sau cũng tốt hơn nữa.
Và khi sanh thân đã chuyển đổi thành Pháp thân, Ta bà liền trở thành Tịnh độ. Thật vậy, vì tâm và thân tốt đẹp hoàn toàn, kinh Pháp Hoa diễn tả tâm họ là Thiền, thân làm giống Phật, giảng pháp chân thật, khai thị nhứt thừa, được Phật xoa đầu và trao y bát … Người đó ở nơi nào thì nơi đó cũng biến thành an lành, nghĩa là Tịnh độ hiện ra theo sự hiện hữu thanh tịnh của họ. Nói dễ hiểu, chúng ta tu hành, phá được một phần vô minh, phiền não, sẽ chứng được một phần Pháp thân. Ta giúp đỡ một người thăng hoa, họ sẽ trở thành pháp hữu của ta và sẽ lần sống chết với ta, thì họ chính là một phần Pháp thân của ta. Nhưng nếu vô minh nổi dậy, làm cho người buồn phiền, họ sẽ xa lánh ta, là biến Pháp thân thành phiền não. Phật dạy rằng Ngài tự tại giải thoát trong cảnh khổ đau của chúng sinh, còn chúng sinh lại khổ đau triền phược trong cảnh giải thoát của Phật. Giải thoát và khổ đau như hai mặt của một bàn tay, chỉ khác nhau ở thân khẩu ý do trí tuệ chỉ đạo hay do vô minh sai khiến. Ý này là đỉnh cao của Pháp Hoa khó thâm nhập được. Phật cũng khẳng định rằng tinh ba Pháp Hoa khó hiểu, khó vào. Làm sao chuyển đổi được người xấu thành người tốt, chuyển cảnh ô nhiễm của Ta bà thành cảnh Tịnh độ là điều không đơn giản chút nào.
Vì sự khó khăn vô cùng này, Đức Phật mới mở cánh cửa phương tiện để giới thiệu cho chúng ta Tịnh độ Tây phương của Phật Di Đà. Đức Phật Thích Ca dạy rằng cách đây mười muôn ức thế giới có Phật A Di Đà đang giáo hóa ở cõi Tịnh độ Tây phương, ở đó chỉ toàn là bậc thượng thiện nhân và nhân dân không hề biết khổ não, chỉ hưởng niềm vui cùng tột nên gọi là Cực Lạc.
Sự thật Đức Phật vẫn hằng hữu, không mất, nhưng chúng sinh với đôi mắt nghiệp, chỉ thấy Phật nhập diệt, không thấy Phật bất tử thì làm sao tu. Phật chỉ vắng bóng trên cuộc đời, không còn sắc thân. Nếu Phật lưu lại mãi trên thế gian này, Ngài e ngại những đứa con mất bản tâm sẽ ỷ lại vào Ngài, không lo tu. Thực tế Phật tại thế, người ta kính Phật trọng Tăng, người lười biếng núp bóng Phật để hưởng thụ. Vì vậy, Phật nhập diệt, hay diệt Hóa thành để họ cảm thấy bơ vơ, nỗ lực tu hành, mới thấy được Phật hằng hữu là Phật Báo thân và Phật Pháp thân. Ý này tôi nhận thấy rõ, năm 1963, tu sĩ bị bắt bớ tù đày, nên ít người muốn đi tu. Nhưng năm 1964, số người thọ giới một lần hơn 500 người tại Việt Nam Quốc tự; vì lúc đó tu hành được hưởng nhiều quyền lợi, như không phải đi lính, không tốn tiền học phí, v.v… Và đến năm 1975, thầy tu hoàn tục rất nhiều, vì ở chùa khổ.
Trong hoàn cảnh gian khổ, những người tốt tự phấn đấu, vượt khó, đi lên được; nhưng cũng có những người bỏtu. Vì tâm đại từ bi thương xót tất cả chúng sinh, Đức Phật mới mở cánh cửa phương tiện. Đối với người dở, không thể tự lo, Phật khuyến khích họ nỗ lực vượt qua 500 do tuần đường hiểm sẽ đến cõi Tịnh độ của Phật Di Đà hoàn toàn tốt đẹp, có ao thất bảo, có hàng cây bảy báu... Ở Ta bà tu hành, một đồng Phật cũng không cho giữ, nhưng ở Cực Lạc của Phật Di Đà toàn là vàng bạc, châu báu, cái gì tốt nhất đều có, đời sống an vui cùng cực. Phật đã giới thiệu một mô hình Tịnh độ toàn mỹ toàn bích cho người hướng tâm đến. Kinh Pháp Hoa gọi đó là Bảo sở, nhờ hướng tâm đến mục tiêu đó mà mọi người cố gắng tu, vượt đường hiểm sinh tử.
Có thể nói kinh Di Đà là biến thể của kinh Pháp Hoa, cũng có tên là Phật Sở Hộ Niệm kinh giống như Pháp Hoa. Chỉ khác nhau ở điểm, kinh Pháp Hoa triển khai pháp chân thật, còn kinh Di Đà triển khai pháp phương tiện. Đức Phật Thích Ca vì những người yếu kém, cần nương tựa mới tu được, Ngài mở ra phương tiện môn. Đối với họ, có thầy, có bạn, có chùa mới tu được. Còn theo Pháp Hoa, ở ngoài đồng trống, ở gò mả, hay ở ngã tư đường, cũng tu được.Nhưng thử nghĩ có mấy người làm được như kinh Pháp Hoa dạy. Vì vậy, phải dùng phương tiện và thế giới Cực Lạc là phương tiện Thánh cư độ của Phật Di Dà, giống như Phật Thích Ca dùng phương tiện thị hiện ở Ta bà vậy.
Kinh Di Đà nhằm gợi ý, đưa ra thế giới lý tưởng để chúng ta phấn đấu tu hành. Từ đây qua Tây phương, hoặc qua Bảo sở quá dài xa, phải đi suốt 500 do tuần đường hiểm. Vì thế, nhiều người muốn đi tắt cho nhanh. Ở Ta bà ô nhiễm phiền não, nhưng chúng ta trụ tâm, không phiền não, liền có Tịnh độ; đó là con đường đi tắt. Nhưng mười người đitheo đường tắt này thì có đến chín người bị chết, vì đây là đường hiểm sinh tử.
Cụ thể hóa cho dễ hiểu, như xưa kia người Trung Hoa sang Ấn Độ cầu pháp, nhưng đắc pháp, trở về được thì không có mấy người. Trên đường đi, phải trải qua biết bao nhiêu là sa mạc hiểm nguy. Vì thế, tu hành theo con đường tắt cũng được, nhưng với điều kiện phải có bản lĩnh, có trí tuệ, có phước đức, mới vượt được sinh tử. Đó chính là pháp tu Thiền, nhưng người đắc Thiền, thành Tổ, thành Phật rất hiếm. Con đường khó khăn vô cùng này được thể hiện trong truyện Tây du ky, Tam Tạng đi thỉnh kinh ở Đông Độ, phải có ngựa thần, có Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng với nhiều phép thần thông bảo vệ, phải có chiếc y nạm châu báu của Bồ tát Quan Âm cho để giữ gìn mạng sống, mặc vào không bị lửa đốt cháy, thì mới đem kinh về được.
Vì vậy, nếu thiếu những điều kiện tối cần thiết, phải đi xa hơn, là đi sang Tây phương Cực Lạc. Tuy xa, nhưng tương đối an toàn hơn, không phải là đường hiểm sinh tử. Chỉ cần hướng tâm về Đức Phật Di Đà, lắng nghe pháp âm của Phật và Bồ tát ở đó là đến được. Đường xa, nhưng đặc biệt là đi bằng tâm, nên đi rất nhanh, không phải đi bằng thân.Cho nên Phật khuyên chúng ta phải gá tâm vào Cực Lạc thì chỉ một niệm tâm là đến Cực Lạc liền.
Tôi đã áp dụng pháp này, thân ở đây, nhưng tâm gắn vào cõi Tịnh độ. Từng bước chân đi niệm Phật, tâm nghĩ đến Phật, hình dung ra Phật hiện hữu trước mặt, thì có cảm giác đang sống trong Cực Lạc, trần duyên quên hết, đối với Ta bà không còn bận tâm nữa. Mọi việc thuận nghịch, khổ vui đều ở ngoài ta. Thể nghiệm được một phần nhỏ pháp này ở Ta bà sẽ hiện ra cho chúng ta một tiểu Tịnh độ là nhân gian Tịnh độ thành hình. Vì thế, sống trong cảnh tranh chấp, dầu sôi lửa bỏng, họ vẫn an lành. Còn để tâm ở cảnh ô trược, chắc chắn phiền não bao vây, không tu được.
Tóm lại, tâm chúng ta an trụ trong cảnh thanh tịnh của Cực Lạc thì thế giới này cũng thanh tịnh, an vui theo. Tuy cách xa mười muôn ức Phật độ, nhưng trong khảy móng tay liền sang đến Tịnh độ và trong khảy móng tay là hội nhập lại Ta bà độ chúng sinh. Tâm đặt ở Cực Lạc, học cách suy nghĩ, cách sống của Phật, Bồ tát, La hán, Thánh chúng Liên Trì hải hội, tâm chúng ta sáng tỏ theo sự giáo dưỡng của các Ngài. Tâm quay trở về Ta bà, làm nơi nương tựa an ổn, giải thoát cho mọi người thăng hoa đạo đức và tri thức.
HT. Thích Trí Quảng
Nhãn:
Tùy bút,
Văn học Phật giáo
00:40
Theo Phật, từ khởi nguồn, bản chất của tình thương hoàn toàn trong sạch, không nhiễm ô, không có tội phước; nhưng vì chúng sinh sống trong sinh tử luân hồi, thân tâm bị nghiệp, phiền não và hoàn cảnh chi phối, cho nên tình cảm thương yêu đáng lẽ làm cho người ta an vui, hạnh phúc, lại làm cho đời sống nội tâm con người chuốc lấy phiền muộn, bất an. Ví dụ như sự thương hại làm cho người ban phát tình thương trở nên kiêu căng, còn người được thương thì bị mặc cảm, buồn tủi … Hoặc tình yêu nam nữ, hay tình yêu của những người đồng phái có tính chất khát ái, ích kỷ, lợi dụng, nô lệ hóa; cho nên tình thương của họ phát triển thành tình đam mê ái dục, ghen tuông, hận thù, giết chóc … làm khổ lẫn nhau. Ngài Trí Giả gọi tình thương theo thế gian như vậy là ái kiến đại bi. Ái kiến là tình thương bị hoàn cảnh và nghiệp nhân tác động xấu, khiến người ta hành xử lệch lạc, sai lầm, kết thành cái quả bất tịnh, khổ đau; còn đại bi là tình thương trong sáng, rộng lớn, chân thật, hướng thượng.
Vì vậy, Đức Phật dạy trên bước đường tu, trong giai đoạn đầu, chúng ta nên cắt bỏ ái kiến, vì nó làm trở ngại cho tình thương trong sáng. Người tu cắt ái ly gia là từ bỏ gia đình thế tục và cắt bỏ ái kiến để nuôi dưỡng tình thương thuần khiết, chân thật, hướng thượng, rộng lớn. Cắt bỏ ái kiến tức bỏ ái nghiệp và phiền não là chính.
Đức Phật dạy Thanh văn tu hành, trong sạch hóa tâm, gạn lọc ái kiến, dứt hết phiền não bằng cách quán sát mọi việc, mọi người trên cuộc đời này là Không, không có gì đáng bận tâm. Vì vậy mà nhiều người tưởng lầm rằng người tu không có tình thương. Không phải người tu không có tình thương, nhưng ở giai đoạn tu Thanh văn, nếu sử dụng tình thương thì sẽ khó tiến tu; vì tình thương làm cho chúng ta phải cưu mang cái nghiệp của người khác, trong khi trí tuệ và phước đức chúng ta còn yếu kém, không thể gánh vác thêm nghiệp. Biết rõ tình thương không giúp ích gì được cho người, mà chỉ làm khổ người và mình, nên cắt bỏ ái kiến này, nhưng giữ lại cốt lõi của tình thương là tâm từ bi. Kinh Pháp Hoa gọi đó là thệ nguyện an lạc, nghĩa là bây giờ chúng ta chưa giúp được người, nên hẹn lại khi nào thành tựu đạo quả sẽ trở lại cứu giúp chúng sinh. Xưa kia, Đức Phật trên bước đường tìm chân lý, chưa đạt được Vô thượng Chánh đẳng giác, Ngài cũng từng thệ nguyện sẽ cứu độ tất cả chúng sinh hữu duyên.
Trên bước đường tu, chúng ta quán pháp Không, trở thành vô tâm, để trở về với tâm trong sáng, thuần tịnh gọi là bạch tịnh thức. Từ bản thể thanh tịnh đó, chúng ta mới phát tâm đại bi, tức tình thương cao tột thuần khiết thương yêu muôn loài một cách bình đẳng. Nhờ gạn lọc phiền não nhiễm ô, tâm trở thành thanh tịnh, trong sáng, tương thông được với tâm thánh thiện của chư Phật, chư Bồ tát, thì tình thương của chúng ta cũng được phát huy theo hướng cao quý của các Ngài. Bấy giờ, lưu xuất từ bản thể thuần khiết mà nhìn xuống thế giới sinh diệt khổ đau của chúng sinh, chúng ta cũng khởi tâm đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như Đức Phật và chư Bồ tát vậy. Đó là tình thương trong sáng, không có ái kiến, không nhiễm ô, chỉ muốn cứu giúp tất cả mọi người mà không có đòi hỏi nào cho riêng mình; khác với trước kia, thương người nhưng muốn người phải lệ thuộc mình, buộc người phải làm lợi cho mình, nên mình và người đều bực tức, phiền muộn, khổ đau.
Câu chuyện sau đây nói lên năng lực kỳ diệu của tình thương trong sáng mà Đức Phật đã hướng dẫn các vị Tỳ kheo thực tập để hóa giải tâm sân hận và nỗi sợ hãi. Một hôm, Đức Phật bảo một nhóm tu sĩ vào rừng Thiền định. Rất nhiều vong linh ở trong khu rừng đó đã nổi giận vì sự có mặt của các tu sĩ này; vì thế, họ đã hiện ra những hình dáng ghê sợ với mùi hôi thúi và những tiếng gào thét kinh khủng để dọa nạt và đuổi các vị này ra khỏi khu rừng. Các tu sĩ đã hoảng sợ và chạy về xin Đức Phật cho đến khu rừng khác để Thiền định. Đức Phật dạy những vị này phải trở lại khu rừng đó để thực tập từ bi quán. Kết quả là năng lượng từ bi của các vị tu sĩ đã cảm hóa được các vong linh một cách nhẹ nhàng. Họ đã chuyển đổi tâm sân hận thành sự săn sóc, phục vụ các vị Tỳ kheo này một cách nhiệt tình.
Tóm lại, tâm của Đức Phật và chư Bồ tát hoàn toàn thuần khiết, vô ngã vị tha và việc làm của các Ngài trên cuộc đời chỉ nhằm phục vụ chúng sinh với tất cả tấm lòng thương yêu vô bờ bến. Các Ngài đã dồn tâm trí và năng lực vào việc giúp người trưởng thành, thăng hoa tri thức, đạo đức, tạo thành quyến thuộc Bồ đề mỗi ngày nhiều hơn, phát triển Tịnh độ của các Ngài tốt đẹp hơn, rộng lớn hơn. Tất cả những công đức vô lượng này thành tựu nhờ phát xuất từ tâm đại bi, tức tình thương cao tột thuần tịnh của bậc đại giác.
Ngày nay bước theo dấu chân Phật, chúng ta ý thức sâu sắc rằng bản chất của tình thương hoàn toàn trong sáng, chỉ vì nghiệp tham sân si và hoàn cảnh bên ngoài tác động, tình thương của con người bị biến chất, nhiễm ô, dẫn đến hành động sai lầm, khổ đau. Để trở về bản thể của tình thương thuần khiết, cao thượng, chúng ta thể nghiệm giáo pháp Phật, sẽ thanh tịnh hóa được thân tâm, cho đến phát huy được tâm thuần tịnh, từ đó lưu xuất tình thương trong sáng, rộng lớn như Đức Phật và chư Bồ tát. Và khi chúng ta thành tựu quả vị Phật, tình thương cao quý tột đỉnh này sẽ tỏa ra năng lực cảm hóa chúng sinh trong mười phương Pháp giới một cách kỳ diệu, vượt ngoài không gian và thời gian. Vâng, đó chính là tâm đại bi của Đức Phật Thích Ca trải qua hơn 25 thế kỷ đã, đang và mãi mãi vẫn là chỗ nương tựa thật sự bình an, giải thoát và tràn đầy hỷ lạc cho cả nhân loại.
Bản chất của tình thương
Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012 | 00:40
Tình thương là chất liệu sống của con người, nói chung là của tất cả hữu tình chúng sinh. Nếu không có tình thương nuôi dưỡng, chúng ta khó sống tốt đẹp. Vì thế, tình thương rất quan trọng, rất cần thiết cho sự sống mọi người trên cuộc đời này.
Tuy nhiên, sự sống của mỗi người phát triển theo lực tác động của nghiệp nhân quá khứ và hiện tại của chính họ, đồng thời cũng chịu sự chi phối của gia đình, của xã hội, cho nên cuộc sống của mỗi người lại phát sinh thêm nhiều nghiệp mới. Thật vậy, thực tế cho thấy khi con người sinh ra, tâm hồn trẻ thơ rất hồn nhiên trong sáng, nhưng từ khi biết tiếp xúc với cuộc đời, tình thương trong sạch này đã bị hoàn cảnh xã hội và các nghiệp tập bao bọc lại, khiến người ta luôn sống với những gì xã hội tác động, sống với những gì nghiệp lực thúc bách. Từ đó, tình cảm trong sáng của tình thương chân thật đã bị biến dạng, trở thành tình cảm xấu ác như tham lam, hung dữ, si mê, cố chấp, vụ lợi, kiêu ngạo, đố kỵ, ganh ghét, v.v…
Theo Phật, từ khởi nguồn, bản chất của tình thương hoàn toàn trong sạch, không nhiễm ô, không có tội phước; nhưng vì chúng sinh sống trong sinh tử luân hồi, thân tâm bị nghiệp, phiền não và hoàn cảnh chi phối, cho nên tình cảm thương yêu đáng lẽ làm cho người ta an vui, hạnh phúc, lại làm cho đời sống nội tâm con người chuốc lấy phiền muộn, bất an. Ví dụ như sự thương hại làm cho người ban phát tình thương trở nên kiêu căng, còn người được thương thì bị mặc cảm, buồn tủi … Hoặc tình yêu nam nữ, hay tình yêu của những người đồng phái có tính chất khát ái, ích kỷ, lợi dụng, nô lệ hóa; cho nên tình thương của họ phát triển thành tình đam mê ái dục, ghen tuông, hận thù, giết chóc … làm khổ lẫn nhau. Ngài Trí Giả gọi tình thương theo thế gian như vậy là ái kiến đại bi. Ái kiến là tình thương bị hoàn cảnh và nghiệp nhân tác động xấu, khiến người ta hành xử lệch lạc, sai lầm, kết thành cái quả bất tịnh, khổ đau; còn đại bi là tình thương trong sáng, rộng lớn, chân thật, hướng thượng.
Vì vậy, Đức Phật dạy trên bước đường tu, trong giai đoạn đầu, chúng ta nên cắt bỏ ái kiến, vì nó làm trở ngại cho tình thương trong sáng. Người tu cắt ái ly gia là từ bỏ gia đình thế tục và cắt bỏ ái kiến để nuôi dưỡng tình thương thuần khiết, chân thật, hướng thượng, rộng lớn. Cắt bỏ ái kiến tức bỏ ái nghiệp và phiền não là chính.
Đức Phật dạy Thanh văn tu hành, trong sạch hóa tâm, gạn lọc ái kiến, dứt hết phiền não bằng cách quán sát mọi việc, mọi người trên cuộc đời này là Không, không có gì đáng bận tâm. Vì vậy mà nhiều người tưởng lầm rằng người tu không có tình thương. Không phải người tu không có tình thương, nhưng ở giai đoạn tu Thanh văn, nếu sử dụng tình thương thì sẽ khó tiến tu; vì tình thương làm cho chúng ta phải cưu mang cái nghiệp của người khác, trong khi trí tuệ và phước đức chúng ta còn yếu kém, không thể gánh vác thêm nghiệp. Biết rõ tình thương không giúp ích gì được cho người, mà chỉ làm khổ người và mình, nên cắt bỏ ái kiến này, nhưng giữ lại cốt lõi của tình thương là tâm từ bi. Kinh Pháp Hoa gọi đó là thệ nguyện an lạc, nghĩa là bây giờ chúng ta chưa giúp được người, nên hẹn lại khi nào thành tựu đạo quả sẽ trở lại cứu giúp chúng sinh. Xưa kia, Đức Phật trên bước đường tìm chân lý, chưa đạt được Vô thượng Chánh đẳng giác, Ngài cũng từng thệ nguyện sẽ cứu độ tất cả chúng sinh hữu duyên.
Trên bước đường tu, chúng ta quán pháp Không, trở thành vô tâm, để trở về với tâm trong sáng, thuần tịnh gọi là bạch tịnh thức. Từ bản thể thanh tịnh đó, chúng ta mới phát tâm đại bi, tức tình thương cao tột thuần khiết thương yêu muôn loài một cách bình đẳng. Nhờ gạn lọc phiền não nhiễm ô, tâm trở thành thanh tịnh, trong sáng, tương thông được với tâm thánh thiện của chư Phật, chư Bồ tát, thì tình thương của chúng ta cũng được phát huy theo hướng cao quý của các Ngài. Bấy giờ, lưu xuất từ bản thể thuần khiết mà nhìn xuống thế giới sinh diệt khổ đau của chúng sinh, chúng ta cũng khởi tâm đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như Đức Phật và chư Bồ tát vậy. Đó là tình thương trong sáng, không có ái kiến, không nhiễm ô, chỉ muốn cứu giúp tất cả mọi người mà không có đòi hỏi nào cho riêng mình; khác với trước kia, thương người nhưng muốn người phải lệ thuộc mình, buộc người phải làm lợi cho mình, nên mình và người đều bực tức, phiền muộn, khổ đau.
Câu chuyện sau đây nói lên năng lực kỳ diệu của tình thương trong sáng mà Đức Phật đã hướng dẫn các vị Tỳ kheo thực tập để hóa giải tâm sân hận và nỗi sợ hãi. Một hôm, Đức Phật bảo một nhóm tu sĩ vào rừng Thiền định. Rất nhiều vong linh ở trong khu rừng đó đã nổi giận vì sự có mặt của các tu sĩ này; vì thế, họ đã hiện ra những hình dáng ghê sợ với mùi hôi thúi và những tiếng gào thét kinh khủng để dọa nạt và đuổi các vị này ra khỏi khu rừng. Các tu sĩ đã hoảng sợ và chạy về xin Đức Phật cho đến khu rừng khác để Thiền định. Đức Phật dạy những vị này phải trở lại khu rừng đó để thực tập từ bi quán. Kết quả là năng lượng từ bi của các vị tu sĩ đã cảm hóa được các vong linh một cách nhẹ nhàng. Họ đã chuyển đổi tâm sân hận thành sự săn sóc, phục vụ các vị Tỳ kheo này một cách nhiệt tình.
Tóm lại, tâm của Đức Phật và chư Bồ tát hoàn toàn thuần khiết, vô ngã vị tha và việc làm của các Ngài trên cuộc đời chỉ nhằm phục vụ chúng sinh với tất cả tấm lòng thương yêu vô bờ bến. Các Ngài đã dồn tâm trí và năng lực vào việc giúp người trưởng thành, thăng hoa tri thức, đạo đức, tạo thành quyến thuộc Bồ đề mỗi ngày nhiều hơn, phát triển Tịnh độ của các Ngài tốt đẹp hơn, rộng lớn hơn. Tất cả những công đức vô lượng này thành tựu nhờ phát xuất từ tâm đại bi, tức tình thương cao tột thuần tịnh của bậc đại giác.
Ngày nay bước theo dấu chân Phật, chúng ta ý thức sâu sắc rằng bản chất của tình thương hoàn toàn trong sáng, chỉ vì nghiệp tham sân si và hoàn cảnh bên ngoài tác động, tình thương của con người bị biến chất, nhiễm ô, dẫn đến hành động sai lầm, khổ đau. Để trở về bản thể của tình thương thuần khiết, cao thượng, chúng ta thể nghiệm giáo pháp Phật, sẽ thanh tịnh hóa được thân tâm, cho đến phát huy được tâm thuần tịnh, từ đó lưu xuất tình thương trong sáng, rộng lớn như Đức Phật và chư Bồ tát. Và khi chúng ta thành tựu quả vị Phật, tình thương cao quý tột đỉnh này sẽ tỏa ra năng lực cảm hóa chúng sinh trong mười phương Pháp giới một cách kỳ diệu, vượt ngoài không gian và thời gian. Vâng, đó chính là tâm đại bi của Đức Phật Thích Ca trải qua hơn 25 thế kỷ đã, đang và mãi mãi vẫn là chỗ nương tựa thật sự bình an, giải thoát và tràn đầy hỷ lạc cho cả nhân loại.
HT.Thích Trí Quảng
Nhãn:
Tùy bút,
Văn học Phật giáo
20:55
Sau đó, với trí tuệ siêu tuyệt, Đức Phật đã chỉ dạy các vị La hán đệ tử mỗi người nên đi một hướng để truyền bá Chánh pháp. Có thể khẳng định rằng chỉ có người đắc Thánh quả mới có khả năng diễn dương Chánh pháp và thay Phật độ đời. Chúng ta sinh ra đời cách Phật quá xa, nên việc đắc Thánh quả vô cùng khó khăn, nhưng nếu chúng ta không tuyên thuyết pháp Phật thì giáo pháp không tồn tại được. Vì vậy, chúng ta nỗ lực tu hành, có được những sở đắc, mới chia sẻ cho nhau để cùng thăng tiến trên con đường đạo hạnh. Thiết nghĩ giáo pháp Phật tuy có nhiều pháp môn, nhưng không ngoài ba điều chính yếu là giới, định và tuệ. Dù chúng ta tu theo tông phái nào, pháp môn nào mà rời giới, định, tuệ, chúng ta đã biến Chánh pháp của Phật trở thành tà pháp.
Hiểu biết của Phật và hiểu biết của chúng ta cách nhau quá xa. Ta không thể hiểu Phật thì làm sao Ngài truyền cho chúng ta và chúng ta không được Phật truyền thì làm sao tu. Nghĩ đến sự khó khăn vô cùng như vậy, Đức Phật muốn vào Niết bàn. Bấy giờ, Phật mới nghe lời khuyên của chư Phật mười phương và lời thỉnh cầu của Phạm Thiên, Ngài mới trở lại thế giới hiện thực ở Ta bà và dùng trí phương tiện để giáo hóa độ sanh. Đức Phật có vô số phương tiện, mà theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm là “Đại dụng tại tiền, quyền tại thủ”. Trí Bát nhã nhìn thấu suốt Pháp giới là đại dụng; cho nên mở trí này ra thì bao la cả thái hư. Nhưng “Quyền tại thủ” là mặc dù có trí tuệ, nhưng nếu thiếu phương tiện huệ thì cũng bó tay. Vì vậy, người tu phải có trí Bát nhã trước, rồi mới có phương tiện huệ. Có phương tiện huệ thì nhìn thấy sự thật, thấy ta đang ở Niết bàn hay đang ở địa ngục, ở Ta bà hay ở Tịnh độ. Phật tu chứng Niết bàn, hưởng được quả của Niết bàn là thường, lạc, ngã, tịnh, hoàn toàn an ổn. Nhưng Phật chứng Niết bàn đồng với chư Phật mà Ngài còn có thân tứ đại của Phật Thích Ca.
Giới Định Huệ
Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012 | 20:55
Theo lịch sử Phật giáo, khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến Lộc Uyển giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như đắc quả vị A la hán, sau đó, Ngài tiếp tục độ 50 thanh niên dòng họ Da Xá cũng đắc La hán.
Dưới sự hướng dẫn, thương yêu, đùm bọc của Phật, tâm các vị này liền trở nên thanh tịnh và chứng Thánh quả một cách dễ dàng. Thật vậy, chính từ thân tâm của Đức Phật đã tỏa ra lực cảm hóa một cách kỳ diệu khiến cho người thấy phải kính trọng và phát tâm tu theo Ngài, và gia đình trưởng giả Da Xá là giới tại gia đầu tiên đã tiếp nhận được năng lượng cảm hóa vi diệu của Phật, họ liền phát tâm sống đời phạm hạnh theo Phật.
Một người muốn học, muốn tu và muốn truyền bá Chánh pháp, phải tu giới và từ giới chuyển hóa thành đức hạnh, thì người này nói năng hay yên lặng vẫn là Chánh pháp. Thực tế cho thấy những vị không học nhiều, nhưng chuyên tu có đức hạnh thì dễ dàng thuyết phục người và giữ gìn Chánh pháp dài lâu. Hòa thượng khai sơn chùa Bửu Thiền này không có điều kiện học nhiều, nhưng ngài giữ giới tu hành rất nghiêm minh.
Giới quan trọng nhất trong đời tu của chúng ta. Khi chuyển hóa được giới thành đức hạnh, sẽ có được sức cảm hóa người một cách kỳ diệu, làm cho người được an lạc. Thật vậy, xưa kia, Tỳ kheo Mã Thắng vâng lời Phật dạy đi vào thành Vương Xá trong sự yên lặng, trong sự tỉnh giác. Xá Lợi Phất, người lãnh đạo giáo phái Bà la môn thời bấy giờ trông thấy Mã Thắng, nét ung dung tự tại của ngài đã thu hút Xá Lợi Phất đi theo về tịnh xá. Mã Thắng và Xá Lợi Phất đều đi trong yên lặng, nhưng tâm của Mã Thắng và tâm của Xá Lợi Phất đã truyền thông với nhau trong sự tĩnh lặng. Về đến tịnh xá, Đức Phật thấy Xá Lợi Phất, chỉ nói đơn giản rằng “Lại đây, Tỳ kheo”. Một lời nói đơn sơ như vậy, nhưng toát ra năng lực của Chánh pháp khiến cho Xá Lợi Phất liền đắc quả A la hán. Vì vậy, Chánh pháp chúng ta khó nắm bắt, khó thực hành và khó truyền cho người khác. Chỉ hành giả nào ở cùng một tần số với người nói Chánh pháp thì mới nghe được, nhận được mà thôi.
Ngày nay, chúng ta tu trong giáo pháp Phật không phải chỉ dùng lời nói suông, nhưng đó là giáo pháp mà chúng ta tu chứng được trong thân tâm thanh tịnh, từ đó mới phát sinh trí tuệ gọi là Thiền. Thiền có nghĩa là sự sáng suốt trong tâm yên tĩnh, trong tâm trong sạch là giới đức. Và từ Thiền, người ta mới phát hiện được Diệu Pháp Liên Hoa; nghĩa là người tu được giới đức, thân và tâm thanh tịnh như hoa sen (Liên Hoa) không bị nhiễm trần và trong thân tâm thanh tịnh đó có viên ngọc quý là Diệu Pháp.
Có thể khẳng định rằng mọi pháp tu của Phật đều nhằm làm cho thân và tâm hành giả được thanh tịnh và phát sinh trí tuệ; không có pháp nào hơn pháp nào. Chúng ta trì tụng Diệu Pháp Liên Hoa thường nghĩ rằng đó là bộ kinh để chúng ta tu đắc đạo, nhưng quên rằng Diệu Pháp Liên Hoa phát xuất từ tâm thanh tịnh của Tỳ kheo mới có viên ngọc bên trong là trí tuệ. Vì vậy, trên bước đường tu, làm sao cho thân tinh khiết như hoa sen không nhiễm trần, không có gì trên cuộc đời này hấp dẫn chúng ta, chi phối chúng ta được. Và muốn tu cho thân tâm thanh tịnh như hoa sen, không thể rời bỏ 37 trợ đạo phẩm. Chúng ta tụng Pháp Hoa mà không thực tập 37 trợ đạo phẩm thì không thể chuyển thân ô uế thành hoa sen, không thể chuyển tâm phiền não thành viên ngọc trí tuệ.
Thực hành 37 trợ đạo phẩm, chúng ta đạt đến đỉnh cao là Bát chánh đạo và Bát chánh đạo chính là sự thể hiện của thân và tâm thanh tịnh; nói cách khác, thân khẩu ý thanh tịnh là Bát chánh đạo. Thân chúng ta có chánh nghiệp và chánh mạng. Vì vậy, nếu không có nghề nghiệp chân chánh và cuộc sống chân chánh sẽ bị người đời đánh giá thấp, thì người này không thể là Thánh.
Thân thanh tịnh trước nhất chỉ cho thân tứ đại ngũ uẩn do xã hội đánh giá chúng ta thanh tịnh hay không, đánh giá chúng ta là người tốt hay không. Còn chúng ta tốt ở trên mây, mà ở đây không tốt thì cũng coi như không tốt. Trước kia, tôi cũng lầm tưởng rằng trên bước đường tu, mình bất chấp dư luận xã hội; nhưng thật ra dư luận xã hội cũng quan trọng. Đầu tiên, chúng ta phải thanh tịnh trong xã hội chúng ta sống thì mới được an ổn. Nếu bị người coi không tốt, coi là tệ nạn, làm sao yên được. Người đánh giá chúng ta tốt, thì họ mới bảo vệ chúng ta, từ đó đời sống vật chất yên ổn mới tiến đến đời sống tâm linh thanh tịnh là định và huệ.
Vì vậy, thân thanh tịnh sẽ phát được huệ và huệ phát thì lời nói của chúng ta luôn khế lý và khế cơ. Khế lý và khế cơ rất khó đi đôi với nhau, vì hai điều này luôn mâu thuẫn nhau. Thật vậy, khế cơ là phù hợp với căn cơ, trình độ của chúng sinh, nhưng căn cơ chúng sinh thì không đồng mà chúng ta đi theo căn cơ chúng sinh thì làm sao phù hợp được với chân lý.
Chính vì vậy mà chúng ta chỉ khế lý khi chúng ta tu giới định tuệ và tuệ sanh, Đại thừa gọi là Bát nhã ba la mật; nghĩa là chúng ta tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, nhưng phải sanh được Bát nhã, hay có trí tuệ, chúng ta mới thấy được chân lý và chân lý này là chân lý phổ biến, thì tất cả muôn sự muôn vật chúng ta thấy nó muôn màu muôn vẻ. Khi Đức Phật tu ở Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài chứng Bát nhã ba la mật trước, từ đó Ngài quan sát trình độ căn cơ của chúng sinh hoàn toàn sai khác, cho nên nếu nói cho người này nghe được thì người kia không bằng lòng. Vì vậy, Phật nhận thấy pháp của Ngài chứng là chân lý quá cao siêu mà trình độ của mọi người đang bị nghiệp chướng ngăn che, không thể thấy, không thể nghe được. Bấy giờ, Phật mới nghĩ đến độ thứ bảy là phương tiện (Kinh Hoa Nghiêm nói thập độ là muốn nói ý này), nghĩa là có trí tuệ nhưng thiếu phương tiện huệ thì không thể làm được.
Chúng ta cũng có hai phần là phần chân linh phát triển, nhưng vẫn tồn tại thân vật chất này, nói rõ là thân vật chất này đang ở trong xã hội loài người. Mỗi người tu chúng ta đều có sở đắc riêng, nếu theo Nguyên thủy, chúng ta có sơ quả đến tứ quả; theo Bồ tát đạo thì có sơ địa đến thập địa, cho đến Đẳng giác. Nghĩa là mỗi người đều có một pháp để an trụ và sống an lạc trong đó. Có thể nói ban ngày chúng ta sống ở Ta bà trong thân tứ đại ngũ ấm, nhưng ban đêm chúng ta Thiền định thì đó là thế giới riêng của chúng ta. Gần như tất cả người tu đều có tâm đắc này. Sống ở Ta bà có đủ thứ, ta tùy thuận theo đó mà sống, thì đó chỉ là phương tiện; còn tâm linh chúng ta thì ai biết, ai hiểu được.
Vua Trần Thái Tông đã nói lên ý này rằng:
Phong đã tùng quang nguyệt chiếu đình
Tâm đầu cảnh sắc cộng thê thanh
Cá trung tư vị vô nhơn thức
Đương dữ sơn Tăng lạc cộng minh.
“Tư vị” trong tâm giải thoát của ngài thì ai biết được, chắc chắn chỉ có nhà vua, hay người tu chứng hưởng thụ được mà thôi; vì vua Trần Thái Tông đã thức suốt đêm với Đại Đăng quốc sư mà ngài không hề mệt mỏi, chán nản. Ngày nay chúng ta tu, cố tập một đêm không ngủ, nhưng lại phải tìm chuyện để nói. Một đêm thức trắng là sống trong Thiền định mới không mệt và tâm hoàn toàn sáng, nên họ hiểu nhau được. Tâm Trần Thái Tông muốn ở lại núi để tu với Đại Đăng quốc sư, nhưng Trần Thủ Độ nói nếu bệ hạ ở trên núi thì triều đình cũng dọn lên núi. Đại Đăng mới khuyên vua rằng “Tâm bệ hạ thanh tịnh thì ngồi trên ngai vàng cũng thanh tịnh, như vậy ngài và ta đã tương giao với nhau rồi”.
Thông thường muốn tâm thanh tịnh phải ở trong núi sâu, nhưng Đại Đăng dạy rằng tâm thanh tịnh là ngọc ma ni thì để vào chỗ nào cũng có công năng lắng được nước trong, tức làm cho tâm người khác thanh tịnh. Nghe lời dạy của Đại Đăng, tâm thanh tịnh của nhà vua đã tương thông với Đại Đăng, cho nên từ đó, vua đã chuyển đổi ngai vàng thành Niết bàn, nghĩa là tất cả mọi chống đối, phiền hà trong triều đình tự động hóa giải.
Tâm thanh tịnh tác động cho người buồn phiền gặp ta, họ cũng thanh tịnh theo. Tác động của pháp hành này đã có từ buổi gặp gỡ đầu tiên giữa Xá Lợi Phất và Mã Thắng vào thời Phật còn tại thế và pháp hành đó cũng đã được thể hiện ở nước ta từ thời vua Trần Thái Tông gặp Đại Đăng quốc sư. Đó là điều mà chúng ta cần suy nghĩ.
Từ tâm thanh tịnh, huệ phát sinh, thấy được mình đang ở đâu và sử dụng trí phương tiện để xác định ta đang đối diện với Tỳ kheo, hay với ngoại đạo. Nếu đang ở Niết bàn, Cực lạc thì không có gì để nói; nhưng chúng ta đang ở trong xã hội của Ta bà; nghĩa là ở Nhà lửa thì phải giải quyết bằng trí tuệ phương tiện, không thể ở chùa Bửu Thiền mà nói chuyện chùa Phổ Quang.
Vì vậy, khi tôi sang Ý dự hội nghị trong nhà thờ, tôi tự xác định mình đang ở trong Tòa thánh La Mã và đang đối diện với Hồng y; đừng mơ màng mà tưởng rằng mình đang đối diện với tín đồ Phật giáo. Và từ sự nhận biết chính xác như vậy mà dùng phương tiện huệ để lý giải Phật pháp sao cho người nghe hiểu và chấp nhận được. Tôi trao đổi với những vị này rằng chúng ta ở thế kỷ XX, các tôn giáo nên hiểu biết lẫn nhau và chia sẻ cho nhau, không phải đối lập nhau; vì mỗi tôn giáo đều có nét hay riêng. Bấy giờ, các Hồng y rất hoan hỷ đáp rằng chúng tôi cũng tập Thiền. Và gặp Hồng y Phạm Minh Mẫn ở TP.HCM cho biết ông cũng học Thiền. Thiết nghĩ pháp Phật có vô số điều hay có thể giúp người ta thăng hoa cuộc sống thì họ cũng phải tìm học và chúng ta sử dụng pháp thích hợp với họ để chia sẻ.
Với trí phương tiện, chúng ta biết mình đang ở đâu và ở thời đại nào. Nếu ở thời kỳ thần quyền mà chúng ta bác bỏ vấn đề cúng bái, thì dễ chuốc họa vào thân. Thực tế cho thấy xưa kia, chư vị Tổ sư của chúng ta hoằng pháp đến những vùng mà dân địa phương thờ bà Hỏa, bà Thủy, các Ngài cũng đốt nhang thăm họ, chứ không bài bác. Nhưng sau khi có sự hiện diện của các vị Tổ sư, dân chúng nhận thấy rõ rằng bà Hỏa hay bà Thủy không thể trả lời những thắc mắc của họ, trong khi các nhà sư giải đáp được tâm trạng của họ. Vì vậy, nhà sư hay con người đóng vai trò quyết định; cho nên kinh Pháp Hoa khẳng định rằng Phật pháp tồn tại trong con người, khi nào con người còn tin Phật pháp thì Phật pháp tồn tại, gọi là thế gian tướng thường trụ. Nếu con người không tin Phật pháp nữa thì Phật pháp sẽ bị hoại diệt.
Dùng trí phương tiện để thấy được con người ở thời kỳ nào chỉ hiểu biết như vậy và chấp nhận như vậy, thì mình nói khác, họ sẽ không nghe. Cho nên, Phật tử có việc buồn phiền, đến gặp Thánh Tăng thanh tịnh, họ được thanh tịnh theo; hay gặp vị có trí tuệ, đưa ra lời giải đáp giúp họ yên tâm.
Nhưng nếu không là Thánh Tăng hay không có trí tuệ, mà chỉ có phàm Tăng, chúng ta giải quyết bằng cách nào? Chúng ta cũng tụng kinh, lạy Phật, cầu nguyện thì họ cũng được yên tâm. Thật vậy, tôi thường làm như vậy; vì mình không phải là Thánh, nên không làm cho họ an lạc được, nhưng họ nghĩ mình cầu nguyện được nên nhứt thời họ yên tâm, còn kết quả cao hay thấp chưa biết.
Vì vậy, nếu đệ tử Phật tự bác bỏ, chê bai lẫn nhau là phạm sai lầm lớn; vì tất cả đều là phương tiện độ đời, người dùng phương tiện này, người có phương tiện khác. Thực tế chúng ta thấy trên lộ trình tự hành hóa tha, có vị Thiền sư bốc thuốc, chữa bệnh, có vị dạy về nông nghiệp, có người cầu đảo kêu mưa làm gió. Tất cả những phương tiện mà đệ tử Phật sử dụng tuy khác nhau, nhưng đều nhằm mục tiêu làm an lạc cho người.
Có những phương tiện sử dụng được ở thời kỳ thần quyền, nhưng đến thời kỳ văn minh, không được người trí thức chấp nhận, nên chỉ sử dụng được giới hạn. Ví dụ như vấn đề cúng sao chiếu mạng để được bình yên, điều này vẫn còn một số người tin theo. Thiết nghĩ bằng tuệ giác, chúng ta có cái nhìn khác. Trong cuộc sống con người, vấn đề thần giao cách cảm ngày nay vẫn được khoa học chấp nhận, dù không chứng minh được. Nói cách khác, bằng tánh linh mà người ta có thể bắt gặp được từ trường của người khác khi hướng về họ. Giả sử như từ trường của tôi mạnh, mà tôi nghĩ đến Thượng tọa Bửu Chánh, khiến cho sư này phải cảm thấy sốt ruột, muốn về thành phố gặp tôi. Đối với người tu, thực tập điều này không khó. Vì vậy, trên bước đường tu, từ trường hay niềm tin của chúng ta hướng về một vị La hán nào, Ngài sẽ tới với ta. Riêng tôi rất thích thú với sở đắc này, mỗi ngày tôi lạy Phật, tụng kinh là hướng tâm, hay đưa từ trường đến với Phật, thì cảm nhận được niềm an lành kỳ diệu, tất nhiên đó không phải là mê tín. Trong thế giới vô hình bao la, có những điều mà chúng ta không thấy được bằng mắt, nhưng bằng niềm tin thanh tịnh, chúng ta tiếp nhận được.
Trên bước đường hành đạo, dùng trí phương tiện thấy biết điểm đứng của mình và thời kỳ mình đang sống. Đang ở Ta bà thì điều quan trọng là chúng ta phải chấp nhận Ta bà là Nhà lửa đang cháy đỏ. Kinh Pháp Hoa gọi là tam giới vô an du như hỏa trạch. Ý này có gì mới hay không? Hoàn toàn không có gì mới cả, vì ý này đã phát xuất từ kinh Nguyên thủy. Phật thuyết Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thí dụ, nhưng thật ra Phật đã thuyết về Nhà lửa cho ba anh em Ca Diếp khi Ngài đến độ họ.
Thật vậy, từ khi Đức Phật từ giã 60 Tỳ kheo thuộc dòng họ Da Xá và bảo mỗi người đi một phương để giáo hóa và bằng trí tuệ, Phật thấy nhân duyên của Ngài với 1.000 tu sĩ đạo thần lửa. Ngài mới quyết định đến gặp Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp là giáo chủ ngoại đạo nổi tiếng thời bấy giờ. Ông luôn tự coi mình là Thánh, vì ông được 500 đồ chúng quá tôn sùng ông là Thánh. Đức Phật khởi tâm đại bi đến độ ông, vì thấy ông có trí tuệ, nhưng vấp phải sai lầm mà trở thành tăng thượng mạn sẽ hủy diệt cuộc đời ông. Vì vậy, Phật đến đó một mình với một bình bát, xin tá túc ở tu viện của ông này một đêm, nơi đây chuyên thờ rắn và nuôi rắn hổ mang. Ông Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp thấy vậy nghĩ rằng lão Cồ Đàm đã tới số rồi. Đức Phật muốn cứu ông, nhưng ông lại muốn giết Phật. Hai tâm này hoàn toàn trái ngược nhau mà chỉ có Phật mới hóa giải được. Còn chúng ta phải cẩn thận, nếu người muốn giết thì ta phải tránh; vì mình không có khả năng độ mà đến độ họ là chết liền, ví như không biết bơi mà xuống sông cứu người vậy.
Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp xếp đặt cho Phật vô ở trong cái miếu có thờ rắn chúa. Ông đã luyện cho rắn giết người, nhưng Phật thản nhiên ngồi thiền và Ngài trải tâm từ đến con rắn chúa khiến nó phải phủ phục dưới chân Phật. Đó là bài pháp vô ngôn mà Đức Phật đã thể hiện chẳng những cảm hóa được loài rắn, mà chỉ sau một đêm Thiền định, Ngài không nói gì, còn độ được Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp và 500 tu sĩ ngoại đạo là đệ tử của ông và cảm hóa luôn hai người em của ông là Già Da Ca Diếp và Nan Đề Ca Diếp cùng 500 đệ tử của hai ông này.
Sau khi giáo hóa được 1.000 đệ tử bằng tâm từ, Đức Phật mới nói rằng thế giới này là Nhà lửa; đó chính là bài pháp mà Ngài đã nói ở thôn Ưu Lầu Tần Loa. Và sang kinh Pháp Hoa, Phật mới nói đến Nhà lửa trong phẩm Thí dụ.
Trước khi theo Phật, ba anh em Ca Diếp sùng bái thần lửa, vì họ tin rằng lửa quyết định mọi sinh hoạt trên cuộc đời và lửa có thể hủy hoại cuộc sống của mọi loài. Nhưng khi trở thành đệ tử Phật, ba vị này được Phật khai tâm, đã chuyển đổi nhận thức lửa bên ngoài thiêu đốt muôn loài thành lửa tam độc tham sân si bên trong mỗi con người. Chính lửa tham sân si mới có sức mạnh đốt cháy được thân tâm con người. Quy y theo Phật, các vị này tỏ ngộ, không còn khiếp sợ lửa bên ngoài do si mê mà sùng bái Thần lửa nữa. Nhưng nhờ thực tập pháp Phật, các vị này đã đoạn diệt được lửa tham sân si, cho nên, họ được tự do, tự tại trong cuộc sống này, gọi là đạt được Hữu dư y Niết bàn, đắc quả A la hán. Như vậy, Đức Phật đã lấy thực tế cuộc sống mà thuyết pháp, thể hiện tinh thần kinh điển Đại thừa thường khẳng định rằng Phật pháp bất ly thế gian giác.
Từ sự tinh tấn đoạn diệt lửa tham sân si theo kinh Nguyên thủy để ra khỏi Nhà lửa, hình ảnh Nhà lửa được kinhPháp Hoa triển khai thành Nhà tam giới ví như là một căn nhà cũ mục, trong đó có đủ các loài rắn rít, côn trùng tự giết nhau, nhằm chỉ tất cả chúng sinh trôi lăn trong Nhà lửa tam giới hỗn độn này cũng do tam độc tham sân si mà tự tranh giành giết hại lẫn nhau. Vì vậy, Phật nói thế giới này không có gì an lạc, hạnh phúc cả, Ngài mới dạy phương cách thoát ly Nhà lửa tam giới bằng ba xe là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. Lên được ba xe này thì đến được bãi đất trống tiêu biểu cho trí Bát nhã. Bấy giờ, hành giả ra vào Nhà lửa tam giới hoàn toàn tự tại. Nói cách khác, hành giả ra mà không ra, vẫn ở trong tam giới, nhưng không bị lửa tam độc tham sân si đốt cháy, mà trái lại, hành giả có năng lực cảm hóa các loài, giúp mọi người chuyển đổi lửa tam độc của chính họ thành từ bi, trí giác. Như vậy, ý nghĩa Nhà lửa từ kinh Nguyên thủy được kinh Pháp Hoa triển khai sâu xa hơn, diễn dịch khác hơn.
Chúng tôi mong rằng sau ba tháng an cư kiết hạ, mỗi hành giả đều có được sở đắc riêng làm hành trang trên con đường giải thoát cho mình và làm phúc lạc cho trần gian
HT. Thích Trí Quảng
Nhãn:
Tùy bút,
Văn học Phật giáo














