Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Hình Ảnh Những Chuyến Đi Tụung Kinh Và Từ Thiện

Written By Unknown on Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013 | 19:00

Nhuyến đi tụng kinh Pháp hoa Bổn môn cúng dường Tam bảo và từ thiện các chùa từ Nam ra Bắc từ đầu năm Quý Tỵ đến nay..

































Xuân Pháp Hoa

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012 | 20:34


Diệu Pháp Liên Hoa nghĩa là tâm sáng suốt như viên ngọc minh châu và thân trong sạch không nhiễm trần như hoa sen vươn lên từ bùn nhơ. Vì vậy, Diệu Pháp Liên Hoa tiêu biểu cho sự cao quý vô cùng của Đức Phật và cũng là lý tưởng của những người đang tiến bước trên lộ trình hướng đến quả vị Phật.


Diệu Pháp Liên Hoa nghĩa là tâm sáng suốt như viên ngọc minh châu và thân trong sạch không nhiễm trần như hoa sen vươn lên từ bùn nhơ. Vì vậy, Diệu Pháp Liên Hoa tiêu biểu cho sự cao quý vô cùng của Đức Phật và cũng là lý tưởng của những người đang tiến bước trên lộ trình hướng đến quả vị Phật.

Suy niệm về tinh thần cao đẹp ấy, tôi cho thành lập đạo tràng Pháp Hoa để kết hợp những pháp lữ đồng hành muốn nương theo kinh Pháp Hoa, cùng nhau tiến bước đến sự cao quý vô cùng của Phật quả.

Có thể khẳng định rằng bộ kinh Pháp Hoa diễn tả con người vĩnh hằng bất tử của Đức Phật. Chúng ta nương theo đó tu hành sẽ thấy được một Đức Phật thật với thọ mạng vô cùng vô tận.
Trên con đường trở về theo ánh sáng Pháp Hoa, trải qua 25 mùa Xuân của đất trời, những người tu trong đạo tràng mỗi lúc mỗi đông thêm. Và khi bạn bè cùng một chí hướng càng đông thì sẽ tạo thành thế tu hành từng bước dễ dàng hơn. Thiết nghĩ đó là hướng đi đúng đắn, để từ đó tôi đưa ra phương châm tu hành là mỗi người hãy tự xóa những gì xấu ác của chính mình, thể hiện một cách cụ thể là tránh làm mất lòng người một cách tối đa.

Theo tôi, phần nhiều người tu thất bại vì nghĩ rằng mình tốt, người xấu. Và khi nghĩ xấu cho người, thì chắc chắn người không thể nào nghĩ tốt về mình được. Trên bước đường tu, luôn ghi nhớ lời Phật dạy rằng xuất gia mà làm phiền não người thì không phải là Sa môn. Chúng ta cố tránh gây phiền lòng cho người. Nhờ đó, tạo được mối thiện cảm với nhiều người. Người kết thân với chúng ta nhiều hơn thì việc làm của chúng ta dễ thành tựu hơn, mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Cũng từ thành quả gặt hái được, tâm hồn chúng ta hoan hỷ hơn, yên tĩnh hơn, giúp chúng ta đến gần Phật hơn và nhận được sự hộ niệm của Đức Phật nhiều hơn. Phật sự từ đó dễ dàng thành tựu. Ngược lại, nếu gặp sự chống đối của nhiều người, dĩ nhiên chúng ta dễ sanh ra phiền muộn, bực tức và việc làm cũng dễ thất bại.

Đặc biệt trong những tháng cuối năm nay, tôi có duyên ra miền Bắc để mở khóa bồi dưỡng giảng sư. Với việc lập công bồi đức theo phương hướng tu hành nói trên, tôi đã tạo được một số thành quả, các thầy phía Bắc thân thiện với tôi hơn, tùy hỷ với việc làm của tôi nhiều hơn và Phật tử tề tựu về nghe pháp đông hơn, chúng hội đạo tràng phát triển đến con số không thể ngờ được chỉ trong một trong một thời gian ngắn. Nhất là Phật sự đạt được thành công một cách nhẹ nhàng, khỏi bận tâm lo lắng nhiều như khóa Hoằng pháp I, mà lại có thành quả lớn hơn gấp bội lần. Điều này một lần nữa cho thấy rằng khi chúng ta thực sự gieo được thiện cảm vào tâm người đồng hành trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, thì Phật sự theo đó tự động thành tựu.

Một thí dụ điển hình khác như 4 năm trước, có 20 Tăng Ni sinh miền Bắc vào học trường Cao cấp Phật học khóa 2 ở miền Nam. Họ đã trực tiếp nhận lãnh sự hướng dẫn của tôi theo tinh thần Pháp Hoa. Nay ra miền Bắc hành đạo, tôi gặp lại những vị này và được biết họ đều thành đạt trên bước đường hoằng pháp. Nhìn thấy thành quả tốt đẹp của họ trong việc xây dựng, trùng tu các tự viện khang trang và hướng dẫn tín đồ Phật tử thành công. Phải nói đó chính là niềm vui lớn của tôi, mở ra mùa Xuân Pháp Hoa đang tươi tốt ở miền Bắc.

Niềm vui ấy gợi tôi nhớ lại câu nói của Thiền sư Nhật Bản : Yutaka kokoro, utsushiku mieru. Nghĩa là tấm lòng mình mở rộng, tiêu biểu cho Diệu pháp thì tất cả đều đẹp, thể hiện thành Liên hoa.
Phải chăng Diệu pháp Liên hoa đã về với đất trời của Phật giáo miền Bắc. Tôi mong rằng Tăng Ni Phật tử phía Bắc được hưởng trọn vẹn mùa Xuân tỏa hương thơm ngát như hương thơm của hoa sen tinh khiết và tâm hồn trong sáng như viên minh châu.

Vâng, tâm hồn trong sáng như viên minh châu và việc làm tỏa hương thơm như hoa sen. Đó là tôn chỉ của hành giả Pháp Hoa đã được anh Minh Trí, trưởng ban Văn nghệ đạo tràng Pháp Hoa cảm nhận và sáng tác thành bài nhạc thường được hát dâng lên cúng dường Phật trong phần lễ Hồi hướng. Xin cùng nhau ca vang khúc hát của mùa Xuân Pháp Hoa:

Khắp muôn loài về dự Pháp Hoa hội. Đều nghe tâm trí giải thoát vui tươi. Phát tâm sâu gìn giữ pháp mãi luôn được thường còn. Chốn nhơn thiên thêm nhiều lợi lớn. Nương theo Diệu nghĩa Pháp Hoa không mê lầm. Mỗi người tự tu chứng lấy trong tâm. Dù buông hay nắm, cũng như dù thuận hay trái, sẽ nhơn đây thành Chánh giác sau này. Nghiệp chướng sâu dày bỗng nghe dần vơi. Phước trí vô lượng đến muôn ngàn nơi. Diệu Pháp Liên Hoa về trang nghiêm khắp trong cuộc đời. Niềm tin bền vững hạt sen khô đã lên mầm tươi. Thiện căn vun xới, chư Phật hộ trì. Sống trong định, phát tâm từ, độ muôn giới. Dù đi nơi nào, dẫu mấy thương đau đều theo tâm cũng hóa ra an lành.

HT. Thích Trí Quảng


Xuân Hoan Hỷ


Kinh Pháp Hoa lấy pháp làm chủ đề và Kinh Hoa Nghiêm xem Phật là trọng tâm, từ đó chúng ta kết hợp 2 bộ Kinh này sẽ hội đủ Phật pháp. Theo tôi, đó là mô hình lý tưởng để chúng ta nương theo xây dựng cuộc sống tu hành. Trên bước đường thành đạo, sau nhiều năm thuyết giảng kinh Pháp Hoa, năm nay tôi khai giảng Kinh Hoa Nghiêm. 


Do nhân duyên hội ngộ, thi sĩ Trụ Vũ nghe pháp cảm nhận đuợc và đã đề tặng bài thơ mà tôi thấy có những lý tưởng liên hệ đến Kinh Hoa Nghiêm:
Vào tâm hoan hỉ địa
Thể hiện nụ cười thơ
Trí Quảng Thiên Sư độ
Ba ngàn giọt lệ khô
Bài thơ trên đến vào thời điểm tư tưởng Hoa Nghiêm đang được truyền bá, đã gợi cho tôi liên tưởng đến mùa xuân của hành giả thâm nhập pháp giới Hoa Nghiêm. Thật vậy, tụng Kinh Hoa Nghiêm, tôi cảm nhận sâu sắc trên lộ trình hành Bồ Tát đạo từ sơ phát tâm đến thành Vô Thượng Đẳng Giác, cứ mỗi chặng đường đi qua của Bồ Tát là một mùa xuân. Từng đóa hoa xuân nở theo bước chân hoằng hóa độ sanh của các Ngài hay nói khác, những đóa hoa lòng, những nguồn vui nối tiếp nhau trong cuộc sống thanh tịnh, giải thoát, vị tha của những hành giả đang tiến dần đến Tỳ Lô Giá Na lâu các trong Hoa Tạng thế giới.

Khởi đầu lộ trình Bồ Tát, theo Kinh Hoa Nghiêm, trước tiên hành giả nhận được nguồn vui phát xuất từ niềm tin chân thành hướng về Tam Bảo. Chính vì tầm quan trọng căn bản của niềm tin mà đức Phật đã khẳng định rằng: "Niềm tin là mẹ sanh ra tất cả công đức". Ở đây cần ghi nhận niềm tin không có nghĩa là mê tín hay cuồng tín vì cuồng tín và mê tín đều là trạng thái của những người thiếu suy nghĩ, không có trí tuệ, thường đưa đến hành động tội lỗi. Niềm tin theo kinh Hoa Nghiêm đặt trên căn bản tri tánh hay hiểu biết hướng về chân lý. Từ tận đáy lòng hành giả cảm thấy khao khát một cái gì vượt lên trên thực tại bình thường, cộng thêm nhân duyên căn lành giữa hành giả và Phật tạo thành một sự thu hút tình cảm khiến hành giả phải hướng tâm về Ngài và muốn làm được như Ngài. Khi tín tâm sanh ra từ thế giới Phật, tự nhiên tâm hành giả đổi khác nhiễm ô tự lắng đọng, chỉ còn niềm an lạc thanh thoát dâng tràn trong tâm. Tiếp nhận được sự thanh tịnh này, tầm nhìn cũng bắt đầu đổi khác. Hành giả không còn thấy bằng suy nghĩ tính toán của vọng thức nhưng thấy bằng trực giác hay bằng trực trí tuệ nên không thấy giống người thường nữa, một cái thấy mà Thiền sư thường nói: thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông. Bằng thức phân biệt, chúng ta chia ra núi sông nhưng đưa về lý tánh tuyệt đối thì không còn người, núi, sông. Hành giả thâm nhập thế giới Không, một loại hình thế giới của người đạt Bát Nhã ba la mật.

Duyên nào thế giới vô hình thuần lý đó lâu ngày nên tham vọng tình cảm, trần lao nghiệp chướng cũng tan biến theo, mọi vật trên cuộc đời không còn sức hấp dẫn nữa. Từ đây hành giả có một thế giới quan viên để sống, thế giới của lý tánh mà kinh Hoa Nghiêm gọi là Lý Pháp giải, tạo nên nguồn vui kỳ diệu, nguồn vui không còn lệ thuộc ngoại cảnh hay tha nhân, nguồn vui mãnh liệt khó mà giải bày cho người ngoại cuộc. Từ lẽ sống riêng tuyệt đẹp của thế giới này, hành giả nhìn ra cuộc đời thấy tất cả đều dễ thương, từ những hạt mưa rơi hay một nụ chồi non cho đến con sâu cái kiến đều chứa chan sức sống, giữa nó và hành giả như có mối liên hệ gắn bó hỗ tương. Vơ٩ tầm nhìn nhất quán theo Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật không còn giới hạn ở sanh thân loài người Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã trở thành Tì Lô Giá Na Pháp Thân vô cùng tận có thể biến chiếu vào tất cả các loài hữu tình và vô tình, chẳng hạn như khi ngắm cảnh thanh bình, tâm bồ đề chúng ta được khơi dậy, Ngài Nhật Liên gọi là vô tình thuyết pháp. Hoặc nhìn đàn cá tung tăng trong dòng suối Giải Oan, chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng theo, nghe tiếng chim hót, lòng chúng ta chợt thanh thản, đó là cá chim thuyết pháp như trong Kinh Di Đà diễn tả. Dưới kiến giải của Hoa Nghiêm cá, chim, cây, cảnh đã làm cho hành giả phát tâm, nói khác là Tỳ Lô Giá Na Phật đã hiện thân trong các loài đó hay các loài đó đã tiếp nhận tác động của Tỳ Lô Giá Na Phật vì trên mặt pháp tánh tất cả đều đồng một thể. Ảnh hưởng của Tỳ Lôi Giá Na Phật vào sanh thân của loài người chúng ta cũng vậy, niềm tin chúng ta lớn thì Phật gia bị lớn, niềm tin nhỏ thì nhận sự gia bị nhỏ và không có niềm tin thì chẳng bao giờ thấy Phật. Phật tùy sát na tâm hiện và mất là Tỳ Lô Giá Na Phật không thấy bằng mắt nhưng chúng ta phát tâm thì Phật hiện , thối tâm thì Phật biến mất, cũng giống như dòng điện không nhìn thấy nhưng máy nổ thì biết có điện. Kinh Hoa Nghiêm chỉ cho chúng ta pháp thân Tỳ Lô Giá Na biến chiếu hay Đại Nhật Như Lai tất ví Phật như tia nắng mặt trời, tất cả loài hấp thụ ánh sáng mặt trời mà tồn tại, cũng vậy chúng ta tu hành phát tâm bồ đề là do tiếp thu Phật lực từ Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na. Trên lập trường Hoa Nghiêm phát tâm bồ đề nhìn ra cuộc đời đối với hành giả, sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của tất cả các loài không có gì không phải là Phật, tất cả đang tuần tự tiến về Vô Thuợng.

Trụ tâm trong niềm tin ở Tỳ Lô Giá Na Phật, ở thế giới Phật, ở sự chung sống hài hòa hổ tương của muôn loài hành giả tận hưởng niềm vui thanh thoát. Tín tâm của hành giả từng bước phát triển từ sơ tín trải qua 10 cấp bậc khác nhau, giúp cho hành giả huân tập công đức cho đến thành tựu tín tâm kiên cố bất hoại của Thập tín là niềm tin vững chắc tuyệt đối không gì lay chuyển được như Ngài Anan bạch với Phật: "Dù hư không có mòn, nguyện của con cũng không bao giờ thay đổi".

Khi có nguồn vui nơi tín tâm, trụ được tâm, bất ngờ bắt đầu tiếp thu pháp Phật, lòng hành giả lại nở ra nguồn vui sống trong Pháp. An trụ chánh pháp, hành giả tự cảm thấy vui, một nguồn vui lặng lẽ thầm kín niềm an lạc phát triển lần trong tâm giúp cho hành giả vui trong thanh tịnh, hoàn toàn khác với thú vui theo động loạn bên ngoài của chúng sanh và cũng khác hẳn với người tụng ngàn bộ kinh mà vẫn không vui. Vui vì chạy theo vật chất bên ngoài thì càng vui họ càng mau cạn túi và lại càng phải khổ nhiều hơn. Vui lệ thuộc tha nhân hay vật chất thì có nó chúng ta vui, mất nó chúng ta khổ, nói chung bám vào thú vui trần tục để sống, ta không bao giờ thỏa mãn và đời đời ờ trong sanh tử. Ngược lại người tu hành cả ngồi yên càng vui, nói khác hành giả tiến sâu vào thiền định sống với pháp, hoàn toàn thanh tịnh vượt thức nhiểm, nhận được nguồn vui sâu xa vô tận của chính tâm hồn mình. Đặt tâm vào pháp Phật, say mê đọc tụng kinh điển theo dõi bước chân hành đạo của các Bồ Tát, Phật huệ phát sinh hành giả quan sát cuộc sống thấy được chân lý. Mỗi ngày như pháp tu hành, niềm vui lớn dần theo sự thấy biết mở rộng, bất ngờ chẳng còn gì trên đời này đáng cho hành giả quan tâm thậm chí đến ý niệm thời gian cũng trở thành vô nghĩa như Thiền sư Thuyền Lão nở nụ cười hàm tiếu, nhẹ nhàng khai ngộ cho vua Lý Thánh Tông: "Đản tri kim nhựt nguyệt, thùy thức cựu xuân thu". Hạnh phúc tuyệt diệu cảm nhận từ dòng Pháp lưu xuất không thể nào diễn tả cho người khác hiểu được: "Mùi Thiền trong ấy nào ai biết" Vâng, "múi Thiền trong ấy" là lực hấp dẫn, thu hút vua Trần Thái Tôn bất kể mạng sống, băng rừng trèo non lội suối lên Yên Tử an trụ trong cuộc sống tâm tưởng siêu đẳng quá đẹp, chẳng màng đến ngai vàng, bỏ nó như bỏ chiếc giày rách.

Từ thế giới hiện tượng, hành giả từng bước thoát ly cuộc đời, đi sâu vào Thiền quán để đến thế giới lý tánh tiếp nhận được niềm vui thấy Phật, vui sống Pháp tánh, vui trong Thiền. Và từ thế giới lý tánh mang theo cả nỗi niềm thanh thản an vui ấy trở lại cuộc đời hành đạo, đem tặng cho tha nhân nguồn vui của tri thức và giải thoát. Đó là pháp tu hồi hướng mà đức phật dạy các Bồ Tát. Về phần hồi hướng có 10 pháp nhưng chúng ta gom lại thành 3 tụ điểm chính.

Trước hết, hành giả tu hồi hướng pháp giới chúng sanh nghĩa là hồi hướng cho những người có thiện căn công đức, có nhân duyên vì chúng ta không thể làm được cho tất cả. Ở bước đầu giáo hoá chúng sanh, hành giả chỉ lo cho những người có cảm tình, hết lòng với mình, nuôi dưỡng tâm bồ đề họ vì tự biết những người nhiệt tình này có nhân duyên căn lành từ đời trước nên phải giáo dưỡng họ để làm nhân cho đời sau tiếp tục tu hành. Hồi hướng nhằm bảo toàn tốt số quyến thuộc nồng cốt xong, hành giả mở rộng vòng thứ 2, hồi hướng cho những người không thân không thù. Những người này nhận thấy quyến thuộc của ta tu có kết quả, thấy pháp tu của ta đúng nên hướng tâm về cầu học, bấy giờ ta mới nghĩ đến giúp đỡ họ. Ở giai đoạn 2, việc giáo hóa tương đối dễ hơn bước thứ nhất vì đã có thêm sức mạnh của quyến thuộc. Theo tôi, điều này chúng ta nên lưu tâm. Trên thực tế tôi thấy nhiều người không có quyến thuộc nhưng ham làm chuyện bao đồng nên thường thất bại chuốc lấy đau khổ. Chúng ta cần ghi nhớ trên bước đường tu hành, bản thân chúng ta phải thành tựu ở mức độ nào rồi mới dìu dắt quyến thuộc đi lên và quyến thuộc vững rồi, chúng ta mới mở rộng vòng đai cảm tình ra Pháp giới. Khi thành phần nòng cốt đủ mạnh và người khách quan cũng được nương nhờ phát triển, bấy giờ thành phần chống đối, ngoại đạo, kẻ ác không thể hại được ta, được như vậy ta mời thể hiện trọn vẹn hồi hướng pháp giới chúng sanh từ hẹp đến rộng.

Tuy nhiên, trong lúc tu hồi hướng cho chúng sanh, hành giả đã thực hành Pháp hồi hướng cho Vô Thượng Bồ Đề của chính mình. Thật vậy, hai pháp hồi hướng này tác động hỗ tương lẫn nhau. Nhờ tiếp cận giáo hóa chúng sanh hành giả mới có nhận thức đúng về loại hình chúng sanh trên cuộc đời biết được căn tánh hành nghiệp của chúng và hóa giải được thì phước đức trí tuệ của hành giả theo đây tăng trưởng, nuôi lớn Báo Thân, tiến gần đến phật quả. Vì vậy Kinh Hoa Nghiêm dạy quả Bồ Đề thuộc về chúng sanh, không có chúng sanh, Bồ Tát không thể thành tựu tâm Bồ đề, không thể thực hiện hạnh Bồ Tát. Đức Phật ví Bồ tát hành đạo không có chúng sanh giống như trồng cây trong hư không. Trong giai đoạn tu Thập Trụ, Thập Hạnh, không khác gì trồng cây trong hư không. Nay đến giai đoạn tu Thập Hồi Hướng phải đem cây trồng xuống đất. Đất chỉ cho chúng sanh, hành giả đem hạt giống bồ đề gieo vào mảnh đất tâm chúng sanh nhưng chúng sanh không có nghiệp và phiền não giống như đất không có phân và nước thì cây cũng không lên được. Từ đó, Bồ Tát hành đạo phải tiếp xúc với nghiệp và phiền não của chúng sanh. Chính 2 thứ này là đối tượng cho hành giả trắc nghiệm xem khi bị nghiệp hoặc, phiền não chúng sinh đổ trút lên, ta có bị mê đắm, ô nhiễm theo hay không. Va chạm thực tế phũ phàng mà hành giả vẫn bình thản, không khởi sân si là biết có Phật xuất hiện hay sen nở trong bùn. Trên tinh thần này, chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não là ân nhân của Bồ tát, từ đó nhận chân được mặc dù làm việc cho chúng sanh nhưng thực là phát triển trí khôn và đạo đức cho chính mình, giúp Bồ Tát mau thành Vô Thượng Đẳng Giác.

Tuy nhiên nếu chỉ giới hạn pháp tu hồi hướng trong phạm vi phát triển trí giác và xây dựng quyền thuộc để làm lợi ích cuộc đời, sẽ dẫn hành giả đạt đến địa vị của Chuyển Luân Thánh Vương mà thôi. Đối với Phật đạo, Pháp tu thứ 3 quan trọng hơn cả là Pháp hồi hướng Chơn Như Thật Tướng. Giai đoạn trước phải học mới giỏi, có giúp đời mới được kính trọng, nhưng đến đây Phật dạy hành giả nâng lên một nấc, phải xả bỏ tất cả chúng sanh và kinh nghiệm học hỏi, nói chung tất cả công đức tạo được đều phải xóa sạch. Có người nghĩ rằng tạo công đức không dễ nhưng tạo rồi lại bỏ thì thà đừng làm còn hơn. Tuy nhiên, đức Phật dạy mặc dù chúng ta xả bỏ nhưng không mất và nếu không xóa bỏ phước hữu lậu sẽ không thể nào có quả Bồ Đề. Ngài dạy bỏ bằng cách chuyển đổi pháp hữu lậu hữu vi thành pháp vô lậu vô vi vì số vốn phước đức trí tuệ vô lậu tích lũy luôn gắn liền với đời sống tâm linh, hành giả tái sanh nơi nào nó cũng đi theo và tạo đủ những điều kiện ưu việt. Từ trên pháp giới hay Chơn Như Thật Tướng trở về hiện thực, ở bất cứ thế giới nào, hành giả cũng an lành, sanh trong dòng dõi cao quý, có nhiều người thương mến và nhiều của cải, có sẵn hạt giống trí tuệ, nhờ đó hành giả dễ dàng hành Bồ Tát đạo và nhanh chóng đạt đến Phật quả. Trường hợp điển hình như Phật Thích Ca do tu hạnh Bồ Tát từ vô thỉ kiếp nên sanh ra làm Thái Tử, có hảo tướng, khỏe mạnh phi thường, bản chất thông minh vượt trội hơn người cùng vô số Thanh Văn Bồ Tát thị tùng hỗ trợ.
Thành tựu pháp tu hồi hướng mới bắt đầu đăng địa Bồ Tát và trong phần Thập Địa của Bồ tát, giai đoạn sơ địa còn gọi là Hoan Hỉ địa. Đứng ở vị trí Hoan Hỉ địa, bồ tát giáo hóa chúng sanh bằng niềm tin kiên cố và tâm hoan hỉ của người đã an trụ trong Phật pháp và đầy đủ công đức. Tiếp nhận tâm hoan hỉ hay nguồn vui thanh tịnh từ chơn tâm Bồ Tát thông qua chơn tâm của tha nhân niên họ nhìn thấy hình dáng, nghe được ngôn ngữ, âm thanh, biết việc làm của Bồ Tát đều phát tâm hoan hỉ thanh tịnh theo. Đó là cách giáo hóa nhẹ nhàng đúng pháp của Bồ Tát nên Ngài Kim Cang Tạng khuyên tất cả Bồ Tát sơ địa phải gắng gìn giữ tâm hoan hỉ cho kiên cố, không gì phá vỡ được, có như vậy mới tiếp tục vững bước dấn thân hành 4 pháp nhiếp và 6 pháp ba la mật.

Trước thềm năm mới, dõi theo bước chân Bồ Tát trong vườn Xuân đạo hạnh của Hoa Tạng thế giới, tôi cầu nguyện cho Tăng Ni Phật Tử tiếp nhận được tâm hoan hỉ và đời đời kiếp kiếp gìn giữ tâm này vững chắc để chúng ta mãi mãi an trú trong niềm vui thấy Phật, vui sống trong pháp và vui làm lợi ích chúng sanh.
Nam Mô Thường Hoan Hỉ Bồ Tát Ma Ha Tát

讧 Đẳng Giác. Từ kiến giải này, Tam Bảo của Hoa Nghiêm lấy tâm làm chính-Đức Phật dạy tâm chúng ta có thể sanh tất cả pháp giống như tất cả hoa màu đều sanh ra từ đất. Sanh từ tâm nên hành giả điều chỉnh mảnh đất tâm xong thì trồng pháp nào sẽ có pháp đó. Phát khởi lên niềm tin huớng về Tam Bảo, trong tâm hành giả đã có Tam Bảo hội nhập đầy đủ, tuy 3 nhưng thực là một, từ bản tâm thanh tịnh an vui hiện ra tướng giải thoát là Phật, từ bản tâm thanh tịnh an vui nên ngôn từ lưu xuất ra là pháp và tâm thanh tịnh an vui phát sinh ra mọi sự hòa hợp là Tăng.
HT. Thích Trí Quảng

Xuân Nhâm Ngọ


Bước sang mùa Xuân năm Nhâm Ngọ, tự nhiên gợi tôi liên tưởng đến tiểu Bạch long. Đó là một con rồng biến thành con ngựa trắng để đưa ngài Huyền Trang đi sang Tây Trúc thỉnh kinh.

Kể từ khi ngài Huyền Trang phát tâm đi thỉnh kinh, Ngài đã luôn gặp khó khăn. Từ khởi điểm, có thể nói Ngài đã dấn thân trên con đường cát bụi gió mưa bằng con người trần tục cùng với những phương tiện vật chất mang theo bên mình. Nhưng từng bước chân tiến lần đến kho tàng Pháp bảo, Ngài lần lượt bỏ lại phía sau tâm hồn trần tục của mình và kể từ đó, Ngài mới trở thành người thoát tục thực sự và có đời sống hành đạo đúng nghĩa.


Thật vậy, khi những phương tiện vật chất của vua Đường ban cho Ngài để sử dụng trên đường đi thỉnh kinh hoàn toàn mất hết, thì đời sống tâm linh của Ngài mới phát triển được. Đầu tiên, ngài Huyền Trang cảm hóa được Tôn Ngộ Không. Nhân vật này tiêu biểu cho chơn tâm lưu lộ, nên Ngài đặt tên đệ tử là Ngộ Không, nghĩa là nhận ra ý nghĩa tánh Không trong đạo Phật. Từ tánh Không đó mới xuất hiện được con người giác ngộ, mà kinh Lăng Nghiêm diễn tả là “Không sanh đại giác trung”. Hình ảnh Tôn Ngộ Không kề cận bên ngài Huyền Trang trên đường đi thỉnh kinh có thể hiểu rằng từ khi ngộ tánh Không, ngài Huyền Trang mới có người bạn đồng hành giúp đỡ trong suốt đoạn đường thỉnh kinh là Ngộ Không.

Và trên đường đi, Ngài đã gặp một tai nạn, con ngựa đen mà Ngài cỡi đã bị tiểu Bạch long nuốt mất. Nhưng Ngài không khuất phục trước tình huống xấu. Nhờ tâm linh ngộ được tánh Không mà Huyền Trang đã chiến thắng Long vương tam thái tử và biến tam thái tử (là tiểu Bạch long) thành con ngựa trắng để đưa Ngài tiếp tục đoạn đường khó khăn còn lại. Ngựa trắng từ rồng con hóa thân ngoan ngoãn chở Huyền Trang ngược xuôi qua nghìn dặm sơn khê đã thể hiện ý nghĩa rằng Ngài đã thành công trong việc chinh phục và biến đổi sự chống đối thành phương tiện hành đạo cho Ngài.

Ngựa đen được Huyền Trang biến thành ngựa trắng tiêu biểu cho sạch nghiệp. Tâm không và nghiệp sạch thì từ đây, Huyền Trang mới thực sự đi được con đường tâm linh đến chùa Đại Lôi Âm, Tây Trúc thỉnh kinh và nhất là thỉnh được bộ kinh bạch tự, tức nắm bắt được chân lý. Nhưng người trần lao nghiệp chướng ở Đông độ làm thế nào nghe và hiểu được chân lý mà Huyền Trang đã nắm bắt. Vì vậy, Bồ tát Di Lặc nhắc rằng ở Đông độ không thể đọc kinh không văn tự. Ngài Huyền Trang phải nhờ A Nan đổi thành kinh văn tự để mang về Đông độ. Điều này nói lên ý nghĩa từ chân thật hiện ra phương tiện. Ngộ tánh chứng chân thật, nhưng không thể phổ biến điều chân thật cho người hiểu, nên phải dùng phương tiện. Từ chân lý không có văn tự phải diễn dịch thành ngữ ngôn văn tự, thể hiện bằng cuộc sống bình thường gần gũi với người ở trên cuộc đời để giáo hóa họ. Chân lý hiện hữu ở Tây Thiên, Đại Lôi Âm, nhưng trở về Đông độ chỉ cho xã hội loài người thì phải dùng văn tự để diễn tả cho người hiểu.

Và trải qua hàng ngàn năm, những bộ kinh viết trên giấy trắng mực đen đã được người người truyền cho nhau. Cho đến ngày nay, chúng ta tiếp nhận được giáo pháp của Đức Phật lưu truyền thì phải hiểu đó là phương tiện của Phật, không phải pháp chân thật. Những gì chân thật hay chân lý không nói được, người nào chứng thì chỉ có họ tự biết, kinh thường ví như chỉ người uống nước mới biết được mùi vị của nó, người ngoại cuộc không thể biết. Những gì biết và hiểu được đều nằm trong phương tiện.
Người biết nương phương tiện của Phật để tu hành, từng bước mới xóa được nghiệp của mình. Và muốn xóa nghiệp, điều quan trọng là phải nhận ra tánh Không của vạn pháp, nghĩa là tất cả pháp không thực, còn chấp pháp thực hữu sẽ khổ suốt đời.

Nhận ra tánh Không của muôn sự, muôn vật, nghiệp mình mới sạch, ba nghiệp thân khẩu ý liền thanh tịnh. Và nghiệp thanh tịnh thì chơn tánh của mình hiện ra.

Như vậy, nương pháp phương tiện của Phật để tu hành, nhưng phải chứng được pháp chân thật. Nói cách khác là mượn phương tiện Phật để hóa giải  nghiệp chướng trần lao của chính mình mới thực là tu. Những người tu không kết quả là do sai phạm căn bản này. Ví dụ Phật dạy tu giới định huệ. Trước tiên, phải giữ giới. Nhưng cần hiểu rằng thực chất người đạt được giới thể thanh tịnh là do chứng pháp Không, tức thân khẩu ý thanh tịnh. Cốt lõi từ Không trong tâm nên hiện ra lời nói và hành động không tham, không giận, không vì quyền lợi gì cả. Lời nói và việc làm được như vậy là tu giới. Vì vậy, bước ban đầu người tu không giữ được giới vô tham, vô sân, vô si thì họ tu cách nào cũng sanh trần lao nghiệp chướng.

Đoạn trừ tham sân si trong tâm, không khởi niệm gì như ngài Huyền Trang chỉ quyết một lòng đi đến Tây Trúc cầu pháp tối thượng, bỏ mặc mọi thứ, kể cả mạng sống cũng không màng, nên tâm Ngài hoàn toàn thanh tịnh, mới nhận ra được tánh Không. Người tu chân chánh luôn từ bỏ thực sự của cải, danh vọng, quyền lợi... thậm chí ý niệm tham sống sợ chết cũng không còn, nên họ đắc đạo dễ dàng.

Vì vậy, trên bước đường tu hành, chúng ta nương theo giới luật để hết tham sân si, tức giới đã rửa sạch tâm mình, mới tiến trên đường đạo được. Giới định huệ chưa có mà vào đời hành Bồ tát đạo thì liền biến pháp Bồ tát thành việc thế gian, không thể đắc đạo. Thí dụ ta chưa hết tham sân si mà giáo hóa người. Họ không nghe lời thì ta buồn phiền, tức giận là bị đọa. Pháp phương tiện của Phật nhằm rửa sạch lòng trần, giúp tâm ta thành thanh tịnh, ngộ được tánh Không và dùng tánh Không đó để cảm hóa người. Lúc ấy, ta có làm gì cũng biến thành bạch nghiệp.

Với kinh nghiệm tu hành như vậy, ngài Huyền Trang trở về Đông độ viết bộ Thành Duy thức luận triển khai về sự chuyển hóa tâm thức của con người. Bước ban đầu, Ngài dạy chuyển A lại da thức trở thành bạch tịnh thức là thức hoàn toàn trong sạch, nghiệp chướng bên trong không còn. Có bạch tịnh thức rồi thì liền lúc đó tiền ngũ thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) trở thành sở tác trí hay phương tiện giáo hóa chúng sanh. Trước kia chúng ta thấy người hay việc không vừa ý thì sanh tâm bực bội, nhưng nay nhờ  ngũ thức này mà thấy được căn tánh, hành nghiệp của chúng sanh đúng như thật, nên không còn khởi niệm ưa ghét, mới giáo hóa được.

Thật vậy, cũng thân xác đó, nhưng nay là thân phước đức, miệng nói lời đạo đức và ý trong sạch theo Phật. Đó là sự chuyển đổi vọng thức thành phương tiện trí  và ý thức trở thành diệu quan sát trí, thấy được căn tánh hành nghiệp chúng sanh. Cao hơn nữa, thấy được các loài bình đẳng trên chơn như môn, nên biến thức chấp ngã chấp pháp thành bình đẳng tánh trí. Và cuối cùng, bạch tịnh thức thanh tịnh, nên Bồ tát huân tu được tất cả công đức lành, tạo thành đại viên cảnh trí, tức pháp giới tạng thân. Muôn sự muôn vật đều hiện rõ trong đại viên cảnh trí và Bồ tát tùy theo đó mà giáo hóa, nên không có sai lầm. Đó là tầm giáo hóa bao la vô tận của Đức Phật, nên tuy không thấy Ngài giáo hóa mà thực sự đã giáo hóa được vô số chúng sanh trong pháp giới.

Bước sang mùa Xuân Nhâm Ngọ, tôi mong ước Tăng Ni Phật tử ngộ được tánh Không, chuyển đổi tàng thức ô nhiễm thành bạch tịnh thức, cỡi được ngựa trắng và tiếp nhận được vô tự chân kinh của Đức Phật để tu hành, giáo hóa chúng sanh, đền trả được công ơn cao dày của Đức Phật và pháp giới chúng sanh.
HT. Thích Trí Quảng
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com