Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức Phật học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức Phật học. Hiển thị tất cả bài đăng

Ngũ căn ngũ lực

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012 | 22:18




Nhiều người chỉ lo học, nhưng ít tu, nghĩa là ít thực hành pháp Phật dạy, cho nên không đạt được kết quả tốt. Ngoài ra, trên bước đường tu, không biết vị trí của mình và không biết ứng dụng giáo pháp thích hợp với hoàn cảnh mình, nên cũng không có kết quả. Thật vậy, người xuất gia về hình thức giống nhau, nhưng phước đức và trí tuệ của mỗi người không đồng nhau, tức điểm xuất phát khác nhau. Phải nhận ra điều này, mới ứng dụng được giáo pháp đúng đắn.


Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần và Tứ như ý túc là 12 pháp căn bản trước nhất Phật dạy cho hàng phàm phu đi vào cửa Hiền Thánh. Đôi khi chúng ta cho rằng pháp này thấp, rồi bỏ qua để tìm kiếm những pháp cao hơn là điều sai lầm. Riêng tôi, thấy những người đốt giai đoạn, tiến tu vượt bậc, trở thành Tổ, tôi không dám bắt chước làm theo, vì tự xét lại bản thân mình không đủ khả năng như vậy.

Ba pháp vừa nói, Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc của Phật chỉ dạy để giúp chúng ta chuyển từ phàm phu sang Thánh vị. Vì thế, thành tựu được ba pháp này mới là người xuất gia thật sự. Pháp đầu tiên Phật dạy là Không quán, tất cả đều là không đối với người xuất gia. Đức Phật xưa kia cũng đã xả bỏ tất cả vật chất và chư vị Tổ sư nối gót theo Phật cũng thể hiện hạnh xả ly. Điển hình như Tổ Thiên Thai ở Bà Rịa đã cảm tác rằng:

Tá thạch vi tường thục thức lão Tăng cùng đáo để
Dĩ phong tác phiến, thùy tri đại đạo lạc vô cương.

Lấy vách đá làm tường, lấy gió làm quạt, Ngài đi đến chỗ “cùng đáo để” nghĩa là chỗ không còn gì bám víu trên cuộc đời; nói cách khác, Ngài đã mở được cánh cửa Không, mới thấy được ý nghĩa đích thực của giải thoát trong đạo Phật. Và Ngài đã xả ly tất cả, nên lòng rỗng rang, được thêm chữ Tĩnh, mới có niềm vui vô bờ bến (lạc vô cương).

Qua hai cánh cửa Không và Tĩnh rồi, bước qua cửa thứ ba là Tứ như ý túc. Khi tâm hoàn toàn yên tĩnh, sẽ nhận ra cái tâm của mình hay tìm được ông chủ của ngôi nhà ngũ ấm. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta cứ chấp cái nhà mà quên ông chủ, chỉ lo chăm sóc cái thân hoại diệt này mà quên mất cái tâm chân thật của mình. Ngũ uẩn thân phải chết, nhưng tâm này còn, nên phải chuẩn bị cho nó thật tốt. Tôi làm tất cả mọi việc tốt đẹp là để chuẩn bị cho đời sau được làm Bồ đề quyến thuộc của người tu, để sách tấn nhau trên bước đường giác ngộ, giải thoát. Còn cái nhà mục nát này thì sớm muộn gì cũng phải bỏ thôi. Tuy nhiên, có điều kỳ diệu, tôi ít quan tâm đến đời sống vật chất, nhưng ít bệnh hoạn. Quan tâm của tôi là quyến thuộc Bồ đề. Vì thế, ngày nào còn sức khỏe, tôi cố gắng thăm viếng, sách tấn các bạn đồng hành, đồng sự, để đời này chúng ta cùng thăng tiến đạo Bồ đề và đời sau cùng nhau tiếp tục làm đạo:

Đời này chí những đời sau
Chung lo Phật sự biết bao nhiêu tình.

Tâm chúng ta yên tĩnh rồi và tìm được ông chủ của chính mình, thì nhận ra ông chủ này rất tự tại và đa năng, làm được tất cả việc khó. Vậy mà tại sao chúng ta lại không sống với ông chủ này. Một số vị nói rằng bận giữ chùa, không đi an cư được. Không nên để tâm dính cứng vô chùa như vậy, không nên tự ràng buộc mình như thế, “Cảnh tự triền nhi tự phược” thì tu suốt đời, không vào được cánh cửa đạo, rất uổng phí.

Vào Thiền, xả được tất cả những mối bận tâm vướng mắc, chân tâm chúng ta xuất hiện và chính chân tâm này mới tự tại, mà kinh Pháp Hoa diễn tả rằng các vị A la hán tâm tự tại. Thân tứ đại ngũ uẩn không tự tại được, vì còn lệ thuộc ăn uống, ngủ nghỉ. Tu hành nên tập luyện cho tâm tự tại, khi làm việc phục vụ mọi người, chúng ta hết lòng tận lực; nhưng cuối ngày, ngưng công việc, phải tập trung vài tiếng để cho tâm hoàn toàn tự tại. Nếu có điều kiện, có thể thực hiện pháp này từ ba ngày đến bảy ngày, hoặc 21 ngày, để tâm không vướng mắc bất cứ điều gì. Trong sinh hoạt hàng ngày, điều căn bản là không để tâm đến ăn uống, ngủ nghỉ; đến giờ ăn thì ăn và không nghĩ đến thức ăn ngon hay dở. Đơn giản là ăn để sống, tâm chúng ta cột vô thức ăn, tất nhiên không được giải thoát. Tập cho tâm được tự tại trong sáu trường hợp: đi, đứng, nằm, ngồi, ăn và thuyết pháp. Đi tự động, đi không tính toan, là đi Thiền hành.

Tu tập được tâm tự tại, tâm giải thoát và vận dụng được tâm giải thoát vào cuộc sống là đạt được như ý túc. Khởi tham vọng thì tâm không được như ý. Thân không sống mãi được, nhưng tâm có thể trẻ mãi. Phát hiện được chân tâm và rời vọng thức thì tuổi già nhưng không cảm thấy già, là tâm tự tại. Người tu thân bệnh, tâm không bệnh; thân già, tâm không già.

Muốn giữ được tâm tự tại, phải tập xả. Ngài Hương Hải Thiền sư diễn tả ý nghĩa của sự xả bỏ, không vướng mắc qua hình ảnh con chim bay trên bầu trời:

Nhạn quá trường không ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô vi tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm

Con chim bay ngang qua hồ nước, bóng của nó in trên mặt nước; nhưng chim bay qua rồi, mặt nước không còn lưu giữ hình ảnh của nó. Tâm người tu cũng như thế, làm mọi việc ích lợi cho cuộc đời, nhưng không có gì bám víu trong tâm, gọi là tâm gương. Tâm hoàn toàn trong sáng vì đã xả ly tất cả, còn giữ lại bất cứ thứ gì cũng đều khổ.
Thành tựu ba việc: Không, tĩnh và xả là đi vào Hiền vị, sẽ tỏa ra đạo lực cảm hóa được người. Người tìm đến gặp ta, họ được an lạc. Có những vị tu hành rất kỹ, nhưng quá chấp, không ai dám gần gũi.

Xả bỏ tất cả những gì của trần thế, tâm chúng ta hoàn toàn trong sáng, tiến sang cửa thứ tư là trồng căn lành, hay tu Ngũ căn, Ngũ lực. Phải xả được thì căn lành của chúng ta mới hiện ra và từ đây mới thật tu. Ở ba giai đoạn trước chỉ là mượn hình thức xuất gia và sử dụng phương tiện lạy Phật, tụng niệm, kinh hành để chuyên chở ba chữ Không, Tĩnh và Xả. Xả rồi, việc trần ai không còn bị vướng mắc, bụi trần không bám thì căn lành của chúng ta mới bắt đầu xuất hiện. Chúng ta không đắc đạo vì không xả được, tâm còn nghĩ này nghĩ nọ, không cách nào Phật pháp hiện ra được. Vì thế, xả hết, chúng ta giải thoát; đó mới chính là con người thật của chúng ta, còn gọi là tâm chân như, hay Phật tánh.
Thành tựu pháp Xả trọn vẹn, tâm chân như hiện lên mà kinh điển thường diễn tả là chân như duyên khởi. Thiền gọi là kiến tánh khởi tu, kinh Đại thừa gọi là căn lành bộc phát. Thật vậy, tất cả mọi việc trần lao không còn tác động, cánh cửa trần ai đóng lại, cánh cửa giải thoát mới rộng mở. Ý này nhà Thiền thường nói là sơn cùng thủy tận. Cùng lộ, bít đường, cửa giải thoát mới mở cho chúng ta đi vào bằng chân tâm, bằng Phật tánh.
Từ tâm chân như duyên khởi, hay từ kiến tánh khởi tu, thì không tu trên phương tiện nữa, nhưng tu trên thể tánh. Vì thế, mặc dù trên thực tế cuộc sống, còn sinh hoạt như mọi người, còn ăn uống, ngủ nghỉ, nhưng những việc đó hoàn toàn là phụ, họ không quan tâm đến nữa. Trong câu chuyện mà chúng ta đều biết, Ngọc Lam tu trên chân tánh, nhưng Ngọc Lâm không biết, nên chê trách Ngọc Lam “Sư huynh ăn rồi, ngủ hoài, không làm gì”. Còn ông thầy thì biết rõ, mới nói rằng ông có một học trò rưỡi; nghĩa là Ngọc Lâm chỉ có hình thức tu bề ngoài, tức chỉ tu một nửa, còn Ngọc Lam tu trên chân tánh, tu trong giấc ngủ, nói đúng hơn là dùng Thiền thay cho ngủ, cho nên ông ngồi im, nhưng đã hoạt động dưới dạng tâm. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả ý này là nhập Pháp giới, đi vào tận cùng thế giới tâm và giáo hóa bằng tâm.
Vì kiến tánh khởi tu, thì Phật, tâm và chúng sinh tuy hình thức có ba, nhưng đến giai đoạn này, ba đã trở thành một. Thí dụ dễ hiểu, tôi và sư Giác Sĩ, xét về thân vật chất là hai người khác nhau, sống xa nhau, nhưng cảm thông trên tâm, thì tôi và sư là một. Ngược lại, hai người sống gần nhau, mà tâm trí, suy nghĩ hoàn toàn khác nhau gọi là “đồng sàng dị mộng”. Tu hành đạt đến kiến tánh khởi tu, sẽ giáo hóa chúng sinh bằng tâm, kinh gọi là tâm chuyển pháp. Bấy giờ, an trụ Thiền định, đi vào Pháp giới thì “trục loại tùy hình”, nghĩa là có bao nhiêu chúng sinh ở mọi dạng hình, hành giả đều giáo hóa được và cần nói rõ rằng đó là sự giáo hóa trong Thiền định, nhưng mới thực là đạo. Còn dùng ngôn ngữ để giáo hóa chỉ là phương tiện mà thôi.

Từ bỏ thế giới vật chất, đi vào Thiền định sống với nội tâm sẽ nhận ra những điều đặc biệt mà Phật dạy rằng trong Thiền định, muốn gì được đó (Dục tam ma địa như ý túc). Thật vậy, tâm rất tự tại, trong tâm thức chúng ta muốn chiêm bái chùa nào thì chùa đó hiện ra, muốn có chùa lớn cỡ nào cũng được, v.v... Thí dụ tôi đang ở đây, nhưng nghĩ đến chùa Tổng Trì ở Nhật, tôi liền tiếp cận được Thiền sư Thiên Chơn ở đó; dĩ nhiên là giao tiếp bằng tâm. Hoặc Hòa thượng Thiện Hào viên tịch đã chín năm, nhưng tâm thức ta vẫn gặp được ngài. Đây là thế giới siêu hình, không phải thế giới vật chất. Vì vậy, bốn điều như ý (Dục như ý túc, cần như ý túc, tâm như ý túc và xả như ý túc) có dễ dàng trong Thiền định; còn trong thực tế cuộc sống, ham muốn theo thế gian thì muốn nhiều khổ nhiều, hay có đủ thứ vật chất như ý muốn mà vẫn mất như không.

Vào thế giới tâm linh mới có bốn điều kỳ diệu. Hơn thế nữa, Phật dạy các vị Bồ tát thâm nhập Hoa Tạng thế giới còn có trùng trùng điều như ý, chứ không phải chỉ có bốn. Đạt được Tứ như ý túc trong Thiền định, mới phát triển căn lành chúng ta. Đến đây nhận ra được điều Phật dạy rằng con người có năng lực thật kỳ vĩ, đó là ngũ căn. Nếu không phát hiện và không sử dụng được năm căn lành này, quả là uổng phí. Ngũ căn, hay năm điều cần phát triển: tín, tấn, niệm, định và huệ để chúng ta trở thành vạn năng như Đức Phật. Phật đã phát huy trọn vẹn năm căn lành này.

Căn lành xuất hiện, chúng ta sẽ đối diện với Phật. Căn lành chưa được khơi dậy, ta và Phật còn cách ly, thì ta và người đối mặt nhau. Thí dụ đơn giản như tôi đang hiện diện trước quý sư và quay lưng với Phật; nhưng khi tôi trở về chùa, các sư không còn trước mặt tôi nữa; lúc ấy, nếu tôi sống với tâm chân như, Phật liền xuất hiện trước mặt. Thiết nghĩ các vị cao tăng, những bậc chân sư đi hành đạo khắp nơi, giữa các ngài và Phật chắc chắn có sự gần gũi mật thiết. Thiếu mối tương quan sâu xa với Phật, chúng ta không bao giờ dám dấn thân hành đạo.

Riêng tôi, trên bước đường tu, giáp mặt với Phật để nghe Phật dạy và đặt trọn niềm tin nơi Phật, từ đó bên cạnh luôn có Phật và làm việc cho Phật, tôi cảm thấy an ổn vô cùng. Tôi thường nghĩ rằng nếu bây giờ có Phật ở đây, Ngài sẽ dạy điều gì. Không phải lặp lại y khuôn những việc của các trưởng lão hàng ngàn năm trước. Đối với năm anh em Kiều Trần Như đã đắc quả vị A la hán, Phật mới bảo mỗi vị đi một phương hành đạo; nhưng với các Tỳ kheo chưa đắc đạo mà bắt chước đi mỗi người một hướng, thì rõ ràng có người bị ngoại đạo hại, có người bị cọp bắt.

Căn lành trước nhất là niềm tin (Tín) rất quan trọng; cần cân nhắc đừng để rơi vào mê tín hay cuồng tín. Nếu mê tín, sẽ bị người lợi dụng niềm tin để dẫn ta đi vào đường tà, nguy hiểm. Người có căn lành, niềm tin của họ hoàn toàn khác với người không có căn lành. Không có căn lành, niềm tin thường được thúc đẩy bởi tham vọng. Thí dụ người mê tín muốn điều gì đó, ham muốn này phát xuất từ lòng tham, khiến họ mờ mắt, mới nhờ thầy bói, thầy bùa. Những ông thầy tà liền khai thác ham muốn ấy, bày vẽ đủ kiểu, làm cho người này tan gia bại sản, khổ đau.
Đối với chúng ta, có niềm tin là chánh tín phát xuất từ Thiền định; cho nên cách nhìn của chúng ta sáng hơn. Vì vậy, kinh Hoa Nghiêm dạy rằng niềm tin sinh ra tất cả công đức. Không tin, luôn nghi ngờ và lo sợ, sẽ chẳng làm được gì. Người có căn lành đặt niềm tin vào năm điều: tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin nhân quả.

Tu hành theo Phật mà không tin Tam bảo thì làm sao tiến tu được. Trước hết và trên hết, chúng ta đặt trọn niềm tin ở Đức Phật và giáo pháp của Ngài đã truyền trao. Tuy nhiên, Đức Phật lịch sử đã cách chúng ta hơn 2.500 năm; vì thế, việc cảm được Phật, hiểu được Phật rất khó và ứng dụng pháp Phật có kết quả hoàn toàn lại khó hơn.
Kinh Pháp Hoa dạy rằng Phật thực là Phật tâm không vào Niết bàn, nhưng không phải ai cũng thấy Phật. Phật luôn hằng hữu, nhưng giữa ta và Phật muốn thông được với nhau, phải phá bỏ bức màn ngăn cách là ngũ ấm ma, phiền não ma, thiên ma, tử ma. Thật vậy, trên bước đường tu, ta thường bị người không đắc đạo tác động. Họ dạy ta những điều sai lầm và lấy cái sai đó tự ràng buộc, làm khổ mình. Vì thế, cần tìm thầy hiền bạn tốt gần gũi, học hỏi; đừng đến với thầy tà bạn xấu, họ làm ta dao động thêm. Ngoài ra, phiền não trong lòng chúng ta có sẵn, nên khi bị tác động, phiền não liền nổi dậy, tâm ta không yên được thì không thể thấy Phật được. Các vị Tổ sư thường ví tâm như mặt nước sông hồ, nếu trong suốt và phẳng lặng, trăng mới in bóng lên được. Tâm chúng ta cũng vậy, không phiền não, Phật sẽ xuất hiện nơi tâm ta, ta và Phật không có khoảng cách. Đó là thấy Phật bằng tâm, tâm thanh tịnh, Phật hiện; tâm vọng động, Phật biến mất.

Trong khoảng thời gian này, ta tìm học Phật lịch sử qua trung gian thầy, Tổ của chúng ta; nhưng chúng ta tìm Phật thật qua thực tập Thiền quán. Nhờ Thiền quán, chúng ta cắt bỏ lần phiền não và thiên ma, nên tâm lần lắng yên, thì mức độ thấy Phật của chúng ta rõ ràng hơn. Có giáo sư ví dụ tâm chúng ta như cái tivi. Khi tâm chúng ta đầy đủ ngũ ấm ma, phiền não ma, ngoại ma, giống như màn hình tivi bị nhiễu sóng, chỉ thấy toàn là hột lấm tấm, không có hình ảnh và âm thanh ồn ào, không nghe được tiếng nói. Nhưng nếu chúng ta phá được một phần phiền não, sẽ nghe được âm thanh, nhưng không rõ và thấy được hình ảnh, nhưng hình cũng bị giựt. Đó là ví dụ về cái thấy Phật lờ mờ bằng niềm tin, không thấy bằng mắt. Ta tin có Phật, nhưng không biết Phật ở đâu. Ta tu được, vì tin Phật đang gia hộ cho mình. Do sự tu tập, điều chỉnh thân tâm của chúng ta, hạn chế được phiền não và ngũ ấm ma, nên thấy Phật lờ mờ bằng niềm tin, thì bắt đầu bắt được làn sóng của Phật. Từ đó, nỗ lực Thiền định công phu, điều chỉnh cho làn sóng tâm đúng với tần số của Phật, ta sẽ nghe được Phật, thấy được Phật.

Như vậy, từ bắt đầu thấy Phật bằng niềm tin, cảm được Phật và đi sâu vào Thiền định, thấy Phật bằng tâm. Khi tâm thanh tịnh, tâm ta và Phật ngang nhau, thấy Phật trong Thiền định và xả định, thì Phật biến mất, nhưng niềm tin Phật luôn hộ niệm vẫn sống động trong ta. Niềm tin Phật xuất phát từ Thiền định như thế chính là căn lành. Còn người không thấy được Phật bằng niềm tin, cũng như không Thiền định công phu để thấy Phật thực, dễ rơi vào mê tín, hoặc chỉ tu một thời gian, sinh ra chán nản, xa đạo lần cho đến không tu nữa.

Cần khẳng định rằng người có niềm tin ở Phật và vào định, thấy Phật thì khi ra định, chắc chắn họ sẽ xử sự tốt và rất tinh tấn trên bước đường tu. Vì vào Thiền định, họ thấy Phật, tiếp nhận được sự an lành tuyệt vời, cho nên cuộc đời này đối với họ chỉ là chốn tạm bợ. Họ hiện hữu trên cuộc đời, để trải nghiệm Bồ tát hạnh, làm những điều tốt lành cho mọi người, không mong cầu gì cho bản thân mình, nên hoàn thành mục tiêu rồi, nhẹ nhàng ra đi, để lại sự tiếc thương và lòng quý mến của mọi người dành cho họ. Những người không có chỗ đi, không có chốn về, không nhận ra Phật và thế giới Phật, mới phải ở đây bám vào thế giới này, hơn thua tranh giành để sống. Ví như quý vị có tịnh xá tốt đẹp hơn nơi này thì sau ba tháng an cư, làm mọi việc thật tốt xong, sẽ về tịnh xá của mình, không có gì thắc mắc. Còn người cố bám trụ vào đây, sẽ gây ra nhiều việc rắc rối. Thế giới Thường Tịch Quang của Phật dĩ nhiên tốt đẹp vô cùng so với thế giới phương tiện mà chúng ta đang sống. Vì thế, vào Thiền định, hành giả tu trong thế giới Phật tốt hơn thế giới này quá nhiều và tiếp nhận được vô số điều hoàn mỹ. Xả Thiền, rời thế giới Phật, hành giả trở lại cuộc đời này, chia sẻ công đức đã nhận được từ Phật cho mọi người, là mắt sáng cho đời, là bóng mát cho người nương tựa, khiến Trời người phát tâm cúng dường là thế. Ngược lại, tu hành không đạt kết quả tốt, vì không sống trong Thiền định, không vào thế giới Phật, bản thân dày đặc phiền não, không tự cởi trói cho mình, còn giúp được ai. Thực tế cho thấy, những đạo tràng mà đại chúng tu hành không nghiêm túc, thường có nhiều tranh chấp xảy ra; trái lại, đạo tràng thanh tịnh, người tu có đức hạnh sẽ đóng góp được nhiều cho đạo.

Với niềm tin Đức Phật là bậc sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn và tận cùng nguồn tâm, chúng ta tiếp cận được với Phật, thì theo sự cảm tâm đó mà chúng ta hành đạo. Đức Phật đã thành tựu trọn vẹn những giáo pháp mà Ngài chỉ dạy và chư vị Tổ sư cũng đã thể nghiệm được tinh ba của pháp Phật; vì thế chúng ta tin rằng từng bước, cũng có thể tu tạo hạnh đức như các Ngài.

Ngoài việc tin tuyệt đối ở Phật, ở giáo pháp của Ngài dạy, niềm tin vào Tăng bảo là đoàn thể hòa hợp, thanh tịnh cũng rất cần thiết. Ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của đoàn thể Tăng già, suốt cuộc đời tu hành của tôi luôn gắn liền với Giáo hội, từ Giáo hội Tăng già Nam Việt trước kia, cho đến Giáo hội Phật giáo Thống nhất và Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay. Không có Giáo hội, một mình tôi không thể làm được. Từ niềm tin vào Giáo hội, mới dành mọi công sức và trí tuệ cho việc chung của tập thể đến quên mình là đạt vô ngã vị tha. Trên bước đường hành đạo, gặp việc phiền toái, có lúc khởi tâm muốn bỏ, nhưng nhớ lại bỏ nửa chừng là mình mất trắng, tôi cố gắng kham nhẫn để duy trì nếp sống lý tưởng mà mình đã theo đuổi từ bao đời bao kiếp.

Khi đặt niềm tin ở tập thể, chúng ta nỗ lực xây dựng tập thể cho tốt đẹp hơn. Tâm trí và đạo lực đầu tư cho tập thể nhiều, tất yếu chúng ta cũng nhận được niềm an lạc vô biên trong ngôi nhà Chánh pháp. Không tin ở tập thể, học xong thích xây dựng am cốc ở riêng là người không có căn lành. Tam bảo đã nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành rồi, cần dấn thân phục vụ đại chúng, lo cho lớp đàn em sau này; đó chính là căn lành rất quan trọng.

Điều thứ tư mà chúng ta đặt trọn niềm tin là trì giới. Trên bước đường tu, giữ giới thanh tịnh một cách tự nhiên, không phải bị ép buộc, bất đắc dĩ. Vì giới luật đã là sự sống cần thiết cho chính mình và được tuân thủ lâu ngày, nên trở thành đức hạnh của chúng ta. Thiếu căn lành này, không thể nào tiến tu được. Chỉ có đạo đức do trì giới thanh tịnh mới cảm hóa được người. Còn xảo trí, đa mưu không phải là người tu.

Và căn lành thứ năm của phần tín căn là xả bỏ. Ai cố ý hay vô tình xúc phạm, mình cũng bỏ qua. Nhờ hạnh hỷ xả, chúng ta sống với đại chúng nhẹ nhàng. Cố chấp, ghim trong lòng lâu ngày, hiện ra nét mặt dễ sợ và dễ trở thành trầm cảm. Phật dạy chúng ta tâm hỷ xả là một trong Tứ vô lượng tâm mà người tu phải trang bị cho được. Trên tinh thần này, giáo lý Nguyên thủy cũng dạy lục niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên. Trong tâm trí cần nuôi lớn sáu niệm này. Người lúc nào cũng niệm xả thì chạm trán với vấn đề gì, họ cũng tươi cười được. Cho đến người ta chọc tức mình mà vui, tôi nghĩ mình có thể cho họ nguồn vui đó cũng được, có gì phải sợ. Thực tế cho thấy người có tâm hồn hỷ xả thường có nhiều bạn.

Với niềm tin chân chánh và thanh tịnh thật sự vào năm điều như trên, hay vào lục niệm, chúng ta kết hợp Thiền định công phu và lễ Phật, tụng niệm kinh điển, có được nếp sống an lành, khiến chúng ta siêng năng tu tập và giúp đỡ mọi người. Quán sát năng lực của mình và yêu cầu của người, thấy đúng đắn và hướng dẫn người được lợi lạc. Nhờ đó, hành Bồ tát đạo không biết mệt mỏi, chán nản, mới phát huy được căn lành thứ hai, Tinh tấn.

Người tu, nhưng thiếu căn lành này, ít dám dấn thân, vì sợ khó, sợ khổ, sợ nghèo đói, sợ nguy hiểm; không dám tiến bước trên con đường phạm hạnh, huống chi là dấn thân trên con đường tâm linh. Với căn lành tinh tấn, chúng ta quyết tâm tu, nhiệt tình làm mọi việc tốt cho đạo, đẹp cho đời và vượt qua được cạm bẫy trên con đường hiểm sinh tử. Thật vậy, theo kinh nghiệm của riêng tôi, nếu thiếu căn lành tinh tấn, gặp khó sẽ dễ bỏ cuộc. Năm 1963, chính phủ Diệm đàn áp Phật giáo, một số bạn đồng tu với tôi hoàn tục, vì sợ nguy hiểm. Năm 1975 cũng vậy, số người bỏ tu cũng khá nhiều. Tôi nghĩ mình đã chọn con đường theo Phật, con đường vinh quang nhất và tự thấy những thời kỳ khó khăn vừa nói là cơ hội ngàn vàng để đóng góp cho đạo. Nếu thiếu căn lành tinh tấn, tránh né những việc khó, chắc chắn điều tốt không đến được với chúng ta và khó đi xa trên con đường đạo.

Căn lành thứ ba là Niệm, tức đương niệm, hay chánh niệm, nghĩa là giờ nào việc đó. Kết hợp được thời gian và không gian để phán xét, tâm chúng ta gắn liền với việc đang làm; bây giờ và ở đây, ta nên làm gì là chánh niệm. Thất niệm thì ở đây mà nghĩ đến chỗ khác, nghĩ việc chưa đến hay nghĩ việc đã qua đều vô ích.
Ba căn lành: niềm tin, tinh tấn và chánh niệm là thềm thang giúp chúng ta tu tạo hai căn lành sau cùng là định và huệ. Và nhất là sử dụng được định lực, tức chánh niệm “bây giờ và ở đây”, thì càng dễ dàng phát huy định và huệ hơn nữa. Tâm tập trung cao độ là định, tạo nên sức mạnh của tâm đầu tư cho việc nào thì việc đó trở nên tốt đẹp, vì nhận chân rõ ngọn nguồn của sự việc là huệ. Người Nhật khai thác triệt để lực tập trung vào mọi sinh hoạt trong cuộc sống đời thường, mà họ thường gọi là “đạo”, như hoa đạo, kiếm đạo, thư đạo, trà đạo, v.v… Cắm hoa với tâm định tĩnh, tạo thành lọ hoa có hồn, khiến người ngắm hoa cũng cảm thấy nhẹ nhàng theo.

Định và huệ mới thật là mạng sống của người xuất gia. Người xuất gia không có tâm trí rối bời, không loạn tưởng, không vọng niệm, không chao đảo. Người xuất gia luôn bình tĩnh, tập trung và nhìn sự vật chính xác. Muốn gìn giữ định và huệ của chúng ta, phải kết hợp được ba căn lành, niệm, định và huệ để giải quyết ngay việc hiện tại một cách tốt nhất.
Có định và huệ, chúng ta sống hướng nội gọi là Thiền và hướng ngoại gọi là quán. Đó là hai mặt của cuộc đời người tu, nhìn ra để giáo hóa chúng sinh và nhìn vào nội tâm, trụ tâm để nuôi lớn phước đức và trí tuệ làm tư lương cho chúng ta trên bước đường tự hành hóa tha. Cần điều chỉnh việc tu hành cho cân bằng để đạt được kết quả tốt, khi nào chúng ta làm việc cho người và khi nào trang bị cho chính mình. Theo kinh nghiệm riêng tôi, sau khi làm việc vất vả, tôi thường dành thời gian thư giãn và tỉnh giác để điều hòa cơ thể trở lại trạng thái bình thường và tâm lý an ổn, phục hồi nguyên khí của mình. Từ sự an lạc của thân tâm mới có thể cảm hóa được người.

Có niềm tin chân chánh ở Tam bảo, siêng năng lạy Phật và Thiền định, sống với chánh niệm, tạo được lực tập trung và hiểu biết chuẩn xác, kết thành quả định và huệ là thành tựu được năm căn lành.

Căn lành có năm phần: tín, tấn, niệm, định, huệ; nhưng dồn lại, chúng ta lấy chữ Huệ làm sinh mạng của mình; vì đến đây chúng ta mới bước vào cửa giải thoát của Phật, vào hàng Dự lưu. Khi đã thâm nhập vào dòng thác trí tuệ của Phật, cuộc đời mình chỉ có trí tuệ là trên hết. Tôi nhường tất cả mọi thứ, nhưng không nhường hiểu biết; chưa biết, còn phải học. Tôi xả bỏ tất cả, nhưng không xả bỏ tâm Bồ đề. Phải giữ tâm Bồ đề kiên cố để làm hạt nhân thành Phật sau này. Mất Bồ đề tâm là mất trí tuệ, mất trí tuệ là mất tất cả. Theo Phật, huệ mạng của chúng ta quý nhất; không có huệ mạng, cuộc đời tu không có ý nghĩa. Nương vào thân tứ đại để tu chứng huệ mạng, phát triển giới thân mới là thực tu.
Chúng ta phát hiện và sử dụng năm căn lành này để phát huy tự thân và để giáo hóa chúng sinh. Nói cách khác, khéo vận dụng năm căn lành để tạo thành lực dụng hay tăng cường đạo lực, có được ngũ lực. Muốn được như vậy, tất yếu phải nhận ra năm căn và đặt trên bệ phóng của năm căn lành, mới phát huy được năm lực. Năm lực cũng gồm có tín, tấn, niệm, định và huệ.

Căn lành là phước báo vô lậu chỉ tu tạo được khi tâm hồn yên tĩnh trong Thiền định, khác với phước báo hữu lậu của thế gian. Kinh Pháp Hoa dạy phải trồng căn lành ở các Đức Phật. Không có căn lành mà muốn tu thành Phật, không khác gì muốn nấu cát thành cơm. Phải tu trên căn lành, trên tâm chân như, trên Phật tánh và từ nền tảng này, phát triển căn lành thành sức mạnh, gọi là ngũ lực. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng phá ma quân, đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác rồi, Ngài phải ngồi ở cội bồ đề thêm mười tiểu kiếp nữa để chuyển hóa căn lành thành lực dụng mới bắt đầu đi giáo hóa.

Tu trên tâm chân như, trên Phật tánh thì hành pháp vô tác và từ vô tác mới sinh ra diệu lực. Ngũ căn thuộc về vô tác và ngũ lực thuộc diệu lực. Khi phát hiện được căn lành và sống với căn lành, nhưng chưa tác động được cho người. Đến khi phát huy được căn lành, mới ảnh hưởng cho người phát tâm Bồ đề. Như vậy, tu bằng căn lành và giáo hóa bằng diệu lực. Hòa thượng Trí Tịnh dạy chúng ta nên tăng cường đạo lực, tức diệu lực, mà diệu lực có được từ pháp xuất thế vô lậu, không phải từ việc lành dữ của thế gian.

Chúng ta may mắn có được bậc chân tu lãnh đạo là Hòa thượng Trí Tịnh. Ngài trụ trong thiền thất, không làm bên ngoài, nhưng thật sự hoạt động trong tâm, nên ngài trở thành biểu tượng được quý kính, thể hiện rõ nét tinh thần vô tác diệu lực. Những vị tôn túc không hoạt động, mà mọi người kính nể, chúng ta nên học theo hạnh đức của các ngài. Người làm nhiều thì được thương là bình thường. Hoặc không làm thì không được thương là củi mục than nguội. Hoặc làm nhiều nhưng không ai quý thì nên xét lại việc làm ấy.

Đọc kinh Hoa Nghiêm, tôi nhận ra cốt lõi của vô tác diệu lực mà kinh diễn tả là ngộ Tỳ Lô tánh, hiện Tỳ Lô thân và ứng Tỳ Lô dụng. Đó là ba thân của Phật Tỳ Lô Giá Na. Tỳ Lô tánh là Phật tánh, Tỳ Lô thân là Pháp thân và Tỳ Lô dụng là vô tác diệu lực của Phật. Ngộ được Tỳ Lô tánh, tức biết được năng lực của tánh thì sử dụng được một cách trọn vẹn, gọi là ứng Tỳ Lô dụng. Tánh thì bất biến, còn dụng thì thiên biến vạn hóa, tức vạn năng. Nghĩa là từ cái nhìn chính xác về tánh và sử dụng được sức mạnh của tánh hoàn toàn tốt đẹp là kinh Hoa Nghiêm đã diễn tả một cách khác về ngũ căn, ngũ lực. Đồng thời, kinh Hoa Nghiêm cũng đã triển khai căn lành ấy của con người mà Thiện Tài đồng tử là mẫu người điển hình phát huy được căn lành, tạo thành đạo lực vô song, mới thâm nhập được Hoa tạng thế giới. Nhờ đó, Thiện Tài mới đến tham học được với những hành giả, mỗi vị tiêu biểu cho một khía cạnh tuyệt mỹ của đạo lực. Mỗi vị xuất hiện dưới dạng hình khác nhau, từ các vị Đại Bồ tát, cho đến hàng xuất gia phạm hạnh Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, hoặc hàng cư sĩ quốc vương, đại thần, trưởng giả, thậm chí có cả đồng nam, đồng nữ, hay ngoại đạo, hoặc chư Thiên, chư thần trong khắp Pháp giới. Ngày nay, người tu hành không đạt kết quả tốt đẹp, chỉ vì thiếu đạo lực, tức thiếu sức mạnh tâm linh, nên tầm nhìn và quyết đoán không chính xác, phạm sai lầm, làm thế nào cảm hóa được người.

Tóm lại, trên bước đường tu, phát hiện được căn lành và nuôi lớn căn lành, phát huy thành lực dụng là thành tựu pháp ngũ căn, ngũ lực trong 37 trợ đạo phẩm. Từ đó, chúng ta lấy huệ làm mạng, mới có được mạng vô cùng và lấy giới đức làm thân, mới có thân vô hạn. Đời sống người tu tỏa sáng nét đẹp thanh cao của tâm không chấp trước, tâm yên tĩnh, tâm trong sáng. Mong rằng trong mùa an cư, quý vị đều sống được với những tâm cao quý này và trở về trụ xứ, sử dụng đạo tâm, đạo lực ấy để phát huy đạo pháp, làm lợi lạc cho mọi người.

HT. Thích Trí Quảng

Bố thí đúng pháp





Bố thí là sự chia sẻ vật chất hoặc giúp đỡ tinh thần cho người khác, nhưng pháp bố thí không phải chỉ đơn thuần là việc làm từ thiện theo người thế gian, mà bố thí theo Phật dạy thể hiện ý nghĩa rất quan trọng đối với người bố thí lẫn người nhận của bố thí. Vì vậy, bố thí là một trong trong sáu pháp căn bản (Lục độ) mà hành giả tu Bồ tát hạnh cần thực hiện trên bước đường thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh. Vì pháp tu dẫn đến quả vị Phật, cho nên bố thí rất quan trọng được Đức Phật nhắc đến trước nhất trong pháp Lục độ của hành giả tại gia và xuất gia.


Con người sống trên cuộc đời này luôn bị lòng tham lam, ích kỷ ràng buộc tâm trí họ và thúc đẩy họ hành động sai lầm, làm việc tội lỗi tác hại đến người khác và gây hại cho xã hội. Ngoài ra, lòng tham lam, ích kỷ còn nuôi lớn cái ngã của con người, làm tăng trưởng tam độc: tham, sân, si; cho nên từ đó càng làm cho người ta tiến sâu vào con đường tối tăm, không thể phát huy đạo đức, không thể thăng hoa đời sống tâm linh. Chính vì sự tác hại như vậy của lòng ích kỷ, tham lam, bố thí là pháp hành trước nhất có khả năng giảm bớt cho đến xóa bỏ hẳn tánh ích kỷ, luôn gom về cho mình. Nhất là hiện nay, nhân loại với 7 tỷ người, mà hơn hai phần ba dân chúng còn sống nghèo khổ, cho nên việc thực hành bố thí theo Phật dạy rất cần thiết và có giá trị rất cao.

Thật vậy, trước nhất, bố thí làm cho người ta biết giảm bớt sự thụ hưởng riêng mình để nghĩ đến giúp đỡ cho người khác. Ta có thể cho những gì mình có dư, hoặc cao hơn, cho những thứ mình đang dùng, nhưng nếu để cho người dùng thì được ích lợi nhiều hơn. Khi thực hành bố thí như vậy để xem ta có còn khởi lên lòng tham lam, bỏn xẻn, tiếc của hay không. Thực tập nhiều lần việc san sẻ, bố thí sẽ khiến ta bớt ích kỷ, bớt được cái ngã thu gom về cho mình. Và khi biết san sẻ cho người, ta đang tâp sự đi theo con đường của Bồ tát, con đường luôn nghĩ đến mọi người, luôn vì mọi người.

Việc giúp đỡ người không nhất thiết là chia sẻ tiền bạc. Theo Phật dạy, giúp đỡ người có thể thực hiện dưới ba hình thức là tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí là giúp tiền bạc, thuốc men, thực phẩm, áo quần v.v… cho những người nghèo khó. Điều quan trọng là bố thí đúng lúc để cứu mạng sống cho người đang gặp nguy biến, như giúp nạn nhân động đất, sóng thần, bão lụt, hỏa hoạn, bệnh nặng …Và bố thí đúng đối tượng, tức giúp cho người gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, nhưng có ý chí phấn đấu để họ vượt khó, đi lên, như cấp học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo, hoặc hỗ trợ đồng vốn cho người làm ăn lương thiện …

Ngoài ra, điều có ý nghĩa quan trọng đối với tài thí đúng pháp là sự giúp đỡ tài vật chứa đựng lòng từ ái chân thật của người bố thí, khiến cho người nhận được của bố thí không ỷ lại vào sự giúp đỡ, mà họ càng nỗ lực hơn trong việc làm. Thật vậy, thực tế cho thấy các bậc chân tu hoặc người có đức hạnh khi cho những món quà, tuy đơn giản nhưng đã gieo được vào lòng người nhận những thiện căn, khiến họ cảm thấy vui vẻ, phấn chấn cố gắng vượt khó, không còn buồn khổ, than trời trách đất, hoặc không còn lao vào những việc làm tội lỗi. Được như vậy là nhờ bên trong món quà ban tặng, người cho đã kèm thêm tâm từ bao la, tâm bi vô lượng, tâm hỷ vô cùng, tâm tinh tấn vươn lên trong cuộc sống theo con đường lương thiện, đó chính là tài thí đúng pháp.

Pháp thí là việc giảng dạy những lời của Phật để cho người nhận ra đường chánh nẽo tà, hiểu đúng được chính mình và mọi vật trên cuộc đời này, nhờ đó nuôi dưỡng cuộc sống đạo đức và thăng hoa trí huệ. Ngoài việc giảng nói pháp Phật, những lời chỉ dạy cho người về kỹ thuật, về học vấn, về nghề nghiệp, về cách sống tốt đẹp để họ tiến bộ trong công việc, tăng trưởng hiểu biết và nhất là biết xử thế theo Phật dạy, có được cuộc sống an lạc, giải thoát cho bản thân, lợi ích gia đình và cho xã hội, là đỉnh cao của pháp thí.

Vô úy thí là người gặp hoàn cảnh bức ngặt, rối loạn tinh thần, ta an ủi, khuyên dạy, chỉ cách tháo gỡ, , giúp họ bình tâm trở lại, không còn lo sợ, buồn khổ và họ nhận ra việc phải làm, điều nên tránh thì sẽ không phạm sai lầm. Thực tế chúng ta thấy những bậc chân tu đạo cao đức trọng dễ dàng thể hiện pháp vô úy thí và là chổ nương tựa an ổn cho nhiều người. Những người mắc bệnh tâm thần vì nhiều lý do khác nhau, hoặc những hiện tượng khác, khi đến với bậc chân tu thì nhà sư chỉ cần một lời nói nhẹ nhàng, một câu chú nguyện, thậm chí một ánh mắt từ bi ban cho người bệnh, khiến họ không còn khờ dại, tâm trí dần dần trở về trạng thái ổn định bình thường. Có thể nói, vô úy thí đã hàm chí pháp thí của hành giả có đức hạnh, có đạo lực mới tạo nên một tác dụng mãnh liệt, một cách nhẹ nhàng đơn giản. Bố thí đúng pháp và có giá trị siêu tuyệt theo đạo Phật là như vậy.

Tóm lại, bố thí đúng pháp theo Phật dạy, đem lại lợi ích cho chính người bố thí, loại bỏ được tánh ích kỷ, tham lam, giảm bớt cái ngã và tăng trưởng lòng từ bi đối với mọi người. Ngoài ra, người nhận được của bố thí đúng pháp sẽ tinh tấn vượt khó, sẽ thành công trong công việc và nhất là họ sẽ làm công việc bố thí, dạy dỗ, giúp đỡ người khác như họ đã từng được nhận trước kia. Người bố thí lẫn người nhận đều thăng hoa cuộc sống đạo đức, tri thức đều thể hiện mẫu người lợi ích cho gia đình và cho xã hội; đó là mô hình đúng đắn của bố thí theo Phật giáo./.
HT. Thích Trí Quảng

Phật giáo và môi trường sinh thái


Với trí tuệ của bậc Toàn giác, Đức Phật nhận chân được sự đồng nhất, không sai biệt trên dạng thể tánh của muôn loài trong vũ trụ và trên mặt hiện tượng giới, sự sống của muôn vật đều cộng tồn, cộng hưởng một cách mật thiết, không thể tách rời.

Mối tương quan tương duyên cộng tồn vô cùng mật thiết chẳng những giữa con người với con người, mà với các loài khác và với môi trường sinh thái là điều rất quan trọng. Nhận thức được như vậy, việc bảo vệ môi trường sinh thái trên trái đất đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng và bức xúc nhất của loài người hiện nay. Thật vậy, mối đe dọa đến hệ sinh thái đã được thế giới báo động đỏ, vì sự tác hại càng ngày càng gia tăng của các chất độc hại đến sức khỏe và mạng sống của con người, đến mọi sinh vật, cùng đất đai, không khí, sông biển, cây cối, cho đến tuổi thọ của trái đất cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Và chính con người là tác nhân gây ra tình trạng tệ hại này. Vì vậy, nhiều tổ chức thế giới đã và đang cùng nhau đề ra nhiều biện pháp để ngăn ngừa hoặc hạn chế sự ô nhiễm môi sinh, điển hình như Ngày Môi trường Thế giới, hoặc 10 Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. 
Việc bảo vệ sự sống và môi trường sinh thái mới được thế giới báo động trong những thập niên gần đây. Nhưng đối với tuệ giác của Đức Phật, đó là một điều luật căn bản mà Ngài đã quy định từ 25 thế kỷ trước cho hàng đệ tử phải tuân theo. Đức Phật dạy những người phát tâm đi trên lộ trình giải thoát giác ngộ với Ngài, phải thực hiện tâm từ bi, theo đó chẳng những không được sát hại, mà phải tôn trọng sự sống của loài người, loài vật, cho đến cỏ cây hoa lá và hơn thế nữa l phải bảo vệ tất cả muôn loài.
Với trí tuệ của bậc Toàn giác, Đức Phật nhận chân được sự đồng nhất, không sai biệt trên dạng thể tánh của muôn loài trong vũ trụ và trên mặt hiện tượng giới, sự sống của muôn vật đều cộng tồn, cộng hưởng một cách mật thiết, không thể tách rời. Đức Phật dạy sự tương quan tương duyên chằng chịt giữa muôn sự, muôn vật trên hành tinh này như sau: “Cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Nhận thức được cốt tủy này, thì dễ dàng hiểu rằng nếu ta gây tổn hại đến người khác, đến các loài khác, đến môi sinh là làm hại chính mình.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy một số lời dạy của Đức Phật trong các kinh điển Nguyên thủy có liên quan đến việc bảo vệ môi trường, như trong kinh Anguttara Sutra, Ngài dạy rằng: “Trồng cây cho ta bóng mát, ngoài việc thanh lọc không khí, nó còn bảo tồn trái đất, đó là điều lợi lạc cho tất cả mọi người và cho cả bản thân ta”. Hoặc kinh Vinaya-matrka-sastra dạy rằng: “Một Tỳ kheo trồng ba loại cây: cây ăn trái, cây cho hoa và cây cho lá để cúng dường Tam bảo thì sẽ ân hưởng sự gia trì và sẽ không phạm tội”, hoặc: “Có năm loại cây mà một người không được chặt, đó là cây bồ đề, cây thuốc, những cây lớn mọc bên đường, cây trong rừng xứ lạnh và cây đa”. Đức Phật cũng khuyên mọi người không nên lãng phí, mà phải biết trân quý tài nguyên.
Ngày nay, con người tự cho rằng mình đã đạt đến đỉnh cao của văn minh, nghĩa là đã phát triển trí khôn cao độ; nhưng con người lại sử dụng trí khôn một cách sai lầm và vị kỷ để hủy hoại sự sống của các loài khác, tàn phá núi rừng sông biển, khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi và cuối cùng dẫn đến hậu quả tồi tệ là tàn phá môi trường sống của chính mình.
Có thể khẳng định rằng, tất cả mọi việc làm tác hại đến môi trường sinh thái và hủy hoại trái đất này đều phát xuất từ tâm tham lam, tâm trục lợi, tâm ích kỷ, tâm si mê của con người. Thực tế cho thấy những người, hay những phe nhóm vì lòng tham vô bờ bến, nên họ thường tóm thu về cho cá nhân hay cho phe nhóm, khiến họ trở thành mù quáng và rất tàn ác, mất cả nhân tính. Họ sẵn sàng sát hại, gây chiến tranh, làm cho nghèo đói, bệnh tật lan tràn, tiêu hủy mạng sống của con người, của các loài và môi sinh cũng từ đó ngày càng hư hoại thêm. Hoặc để thu được món lợi khổng lồ, song song với việc khai thác tài nguyên bừa bãi, họ còn xả chất độc hại vào lòng đất, vào sông ngòi, vào không khí, làm ô nhiễm môi sinh, tác hại đến sức khỏe và gây bệnh tật cho nhiều người.
Hàng đệ tử Phật thể nghiệm giáo pháp Phật dạy, không tham lam, không làm những việc tác hại đến muôn loài, qua cách sống thiểu dục tri túc. Đó là cách sống hiểu biết và cao thượng, hạn chế tâm vị kỷ, không vì làm lợi cho riêng mình mà gây tổn hại đến người khác, đến các sinh vật khác, sống hài hòa với thiên nhiên, không phá hủy môi sinh, không khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, chỉ khai thác những gì thiết yếu và khai thác có mức độ, để thế hệ kế tiếp có thể tiếp tục được hưởng của cải thiên nhiên, chứ không để con em mình phải hứng chịu những tai họa khủng khiếp gọi là “Thiên nhiên nổi giận” như trận sóng thần chẳng hạn.
Thể hiện tinh thần Phật dạy về nếp sống hài hòa với thiên nhiên, những ngôi chùa ở một số quốc gia cũng như ở đất nước ta thường được xây dựng trên đồi núi, hay trong khu rừng. Đặc biệt hơn nữa, hiện nay nạn phá rừng tràn lan gây ra nhiều tác hại ở nhiều lãnh vực mà thế giới đang cảnh báo. Trong khi đó, nhà chùa đang ra sức gìn giữ, bảo hộ rừng và trồng rừng một cách tích cực và đạt được nhiều kết quả rất tốt. Những ngôi chùa với khu rừng thiền cây cối xanh tươi, ao hồ sạch đẹp, tỏa không khí trong lành và nếp sống an bình đã là thắng tích mà khách thập phương thường tìm đến để hưởng được sự thanh thản cho tâm hồn và sự khỏe mạnh cho thân thể. Có thể nói những đồi núi, rừng thiền của chùa chiền chính là lá phổi trong sạch của trái đất chúng ta, một trong những yếu tố vô cùng thiết yếu cho việc bảo vệ môi trường sinh thái trong thời đại quá nhiều nhiễm ô hiện nay.
Tóm lại, có thể thấy rõ Đức Phật là một nhà tiên phong trong lãnh vực bảo vệ môi trường sinh thái của trái đất này. Sống theo Phật là sống tỉnh giác và sống yêu thương muôn loài, cho nên hiểu rõ những gì nên làm và làm những gì lợi ích cho nhiều người mà không gây tổn hại đến người khác, đến môi trường sống của muôn loài. Thế giới sống tốt đẹp hoàn hảo như vậy được gọi là Tịnh độ mà tất cả đệ tử Phật đời đời kiếp kiếp tinh tấn xây dựng và bảo hộ cho chính mình an trú và cho mọi người, mọi loài cùng cộng tồn, cùng thăng hoa trong cuộc sống hạnh phúc, an lạc, hòa hợp, hòa bình và phát triển. 
HT Thích Trí Quảng

Yếu Nghĩa Kinh Vô Lượng Nghĩa và Nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội

(Bài giảng tại trường hạ chùa Phổ Quang, Q. Tân Bình, 8-2008) 


Kinh Pháp Hoa được gọi là Viên giáo, vì bao hàm được tất cả các kinh điển mà Đức Phật đã thuyết trong suốt cuộc đời Ngài. Các pháp Phật dạy đều là phương tiện để giúp chúng ta thâm nhập thế giới Phật, được kinh Pháp Hoa ví như thuyền bè đưa người từ niềm an lạc này đến niềm an lạc khác, để sau cùng tất cả hành giả đều chứng Nhứt thiết chủng trí. Vì vậy, nếu không thực hành giáo pháp, chắc chắn đời đời kiếp kiếp ở trong Nhà lửa tam giới.


Ngoài ra, một ý khác trong kinh Pháp Hoa mà chúng ta cần lưu tâm. Trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa, Ngài nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội. Tại sao Phật phải nói kinh này trước và phải nhập tam muội này.

Vì nếu không có kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập được định Vô lượng nghĩa thì không thể nào nói kinh Pháp Hoa; đó là cốt lõi rất quan trọng. Không phải tụng kinh Pháp Hoa văn tự là trở thành hành giả Pháp Hoa, phải tu Vô lượng nghĩa và đắc định Vô lượng nghĩa mới có Pháp Hoa để tu hành.

Kinh Vô Lượng Nghĩa gồm có ba phần chính yếu: đức hạnh, trí tuệ và công đức. Vì vậy, hành giả thể hiện được yếu nghĩa của Vô Lượng Nghĩa  kinh là người có đức hạnh, có trí tuệ và sống lợi ích cho cuộc đời; nói cách khác, đó là tam thừa giáo, hay kinh Pháp Hoa xuất hiện sau tam thừa giáo : Thanh văn,  Duyên giác và Bồ tát. Phẩm Thí dụ  thứ ba của kinh Pháp Hoa nói về ba xe và Nhà lửa. Ba xe là xe dê, xe nai và xe trâu, dụ cho tam thừa giáo. Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát  nương theo ba xe, hay tam thừa giáo để ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống, mới có kinh Pháp Hoa gọi là đại bạch ngưu xa. Như vậy, sử dụng xe nào cũng được, hay tu tất cả pháp môn sai biệt của tam thừa giáo, cũng đều ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống và cuối cùng chứng Nhứt thiết chủng trí.

Tu pháp môn nào cũng được, nhưng phải chấm dứt phiền não, trần lao và nghiệp chướng; không có pháp môn nào là tốt nhất. Pháp nào thích hơp với mình là tốt; vì Phật dạy rằng chúng sinh nhiều bệnh, thầy thuốc phải có nhiều thuốc khác nhau, quan trọng ở việc chẩn đoán đúng bệnh và sử dụng đúng thuốc. Thuốc hay, nhưng dùng không đúng bệnh thì không khỏi bệnh, có khi còn tử vong.

Tìm được pháp môn thích hợp với mình thì phiền não, trần lao và nghiệp chướng phải hết. Ví dụ người vừa nghèo, vừa dốt, lại bệnh hoạn, không thể cứu nhân độ thế, giống như đi một mình không nổi mà muốn cõng người sao được. Bản thân mình tự độ không xong mà đòi độ đời thu đệ tử để tất cả cùng sống nheo nhóc, phiền não là hại mình và hại người. Người này phải đi xe dê trước, nhằm nhắc nhở các thầy phải tu pháp tiểu thừa trước, phải lo cứu mình, tự độ mình trước, lo cưu mang chi cho thêm phiền não.

Lo giải thoát cho chính mình là Phật dạy tu Thanh văn thừa, xuất gia, buông bỏ tất cả, làm sao đoạn được mối quan hệ không tốt đẹp giữa mình và thế tục, để họ không quấy rầy được cuộc đời tu hành của mình. Người ở nhà bị phiền não gia đình trói buộc và đi làm việc cũng  bị phiền não bao vây, làm cho tâm bất an; nếu cứ tiếp tục ở đó tu thì  không hết phiền não mà nghiệp chướng lại tăng.

Thực tế cho thấy các thầy còn phiền não mà Phật tử lại mang phiền não thêm trao cho. Một trăm người đến chùa thì chín mươi chín người có vấn đề. Vấn đề của chính mình chưa gỡ được, làm sao tháo gỡ vấn đề cho người. Phải nói tu hành của Thanh văn là yếm thế trốn đời. Các Tổ ngày xưa cũng vậy, phải vô núi tu, sống với hoàn cảnh vật chất đạm bạc nhất, tâm mới yên tĩnh được. Tu Thanh văn được lợi lạc như vậy, mới thực tập và thành tựu được 37 trợ đạo phẩm. Ở núi rừng vắng vẻ mới dễ quán pháp Không, vì không có người, không có việc, không ai quấy rầy, mới chứng được pháp Không, vô tác vô nguyện. Ở núi rừng thì còn gì mà mong muốn, hay đúng hơn là có muốn cũng không được. Ở đây tu, nhưng vụt nghiệp ham muốn khởi lên thì có thể leo lên xe, chạy đi tìm. Ngày xưa ở núi Thị Vải mà xuống núi, ra được đường lớn thật là xa và rất vất vả, nên lâu lắm mới phải xuống chợ mua muối thôi.

Hàng Thanh văn tu hành ở nơi thanh vắng, dễ thâm nhập pháp Không. Kinh Pháp Hoa gọi là ra khỏi Nhà lửa đến bãi đất trống; đất trống là tâm trống không, Phật gọi là tâm địa. Trước kia, mảnh đất tâm của mình rất nhiều cỏ dại, thử kiểm tra xem một ngày tâm, hay Thức mình linh hoạt, biến động vô cùng; giữ tâm yên tĩnh không đơn giản. Vì vậy phải ngồi xe dê, hay nương theo 31 trợ đạo phẩm để ra khòi Nhà lửa tam giới, đầu tiên là quán Không. Sẽ thấy tất cả mọi việc trên đời này chỉ là ảo giác thì không có gì chi phối chúng ta được; từ đó, cuộc đời này đối với chúng ta hoàn toàn vô nghĩa, chúng ta không bận tâm đến cuộc đời và cả việc sống chết của mình, là đã chạy ra khỏi Nhà lửa bằng tâm, cắt đứt tâm lo lắng, buồn phiền , hơn thua phải trái, đến được bãi đất trống.

Duyên giác đi xe nai. Nhờ có trí tuệ, mặc dù sức khỏe cũng yếu, nhưng thông minh hơn Thanh văn, nên Phật dạy Duyên giác tu pháp quán để giải thoát, không phải bỏ tất cả để thoát thân như Thanh văn. Họ chạy ra Nhà lửa, nhưng phải nhìn kỹ trên đường đi, chỗ nào có rắn rít hùm sói làm hại, hoặc có kẻ cướp thì phải tránh. Nói cách khác, Duyên giác quán biển Thức mênh mông, tầm nhìn được mở rộng, thấu suốt mọi sự việc diễn tiến từ quá khứ đến vị lai. Ngồi yên, tất cả bức tranh cuộc đời sẽ hiện ra trong tâm thức hành giả; chẳng hạn như tôi nhớ lại thuở nhỏ lúc chưa tu, cuộc sống như thế nào, cho đến xuất gia, tu học trong nước, ngoài nước và làm việc cho đến ngày nay; tất cả những cảnh sống quá khứ và hiện tại, kể cả những dự tính tương lai sẽ làm gì, tất cả hiện ra đầy đủ trong tâm thức tôi. Biển Thức rộng mênh mông thu nhiếp cả ba đời là vậy.

Đức Phật dạy người có trí tuệ nên quán sát. Gần nhất, chúng ta quán sát những kinh nghiệm sống trong hiện đời. Thí dụ trên bước đường tu, tôi hồi tưởng lại mình từ một cậu bé nhà quê đến nay đã trải qua 60 năm, phải vượt qua không biết bao nhiêu sóng gió hiểm nguy, mới ra khỏi Nhà lửa, được như ngày nay, thì không bao giờ tôi muốn, hay không dám trở lại Nhà lửa này nữa. Cuộc đời này ớn quá, phải đối đầu trước bao nhiêu việc sống chết trong gang tấc. Nói cách khác, trong biển Thức mênh mông, có những đợt sóng ngầm rất nguy hiểm sẵn sàng nhận chìm mình; đó là mới nói một đời này thôi, chưa kể nhiều kiếp trước và gặp không biết bao nhiêu người tà ác phá hại mình, ví như các loài thủy quái rất đáng kinh sợ. Nhớ lại những người mình tin tưởng rằng họ tốt, nhưng quay lại hại mình cho nên rất sợ gặp lại, nghĩa là sợ tái sinh trong Nhà lửa. 

Trong biển Thức mênh mông có những trận cuồng phong làm người ta đảo điên, mà Tô Đông Pha gọi là tám gió cuốn phăng con người; bao nhiêu cám dỗ của cuộc đời lôi cuốn, không khéo là bị nhận chìm. Thật vậy, tôi nhìn lại những bạn đồng tu bị gió nghiệp cuốn trôi; người thì bị tiền tài, người bị danh lợi, hoặc bị tình cảm lôi kéo, hoàn tục, kiểm lại không còn được mấy người tu. Một bạn đồng tu cùng tuổi với tôi, cùng học ở Phật học đường Nam Việt, thật là tội nghiệp cho ông này, đi cúng đám ma ở nhà đàn bà góa chồng, cúng đến 49 ngày thì ông 1ạy Hòa thượng Thiện Hòa xin về với bà nọ.

Khi nghiệp ái khởi lên, tình cảm thế tục sinh ra, phải hoàn tục; nhưng lọt vào cái bẫy của cuộc đời rồi, mọi việc không đẹp như ông này lầm tưởng; quả là nguy hiểm vô cùng. Một ông thầy khác làm chúng trưởng của tôi ở Phật học đường Nam Việt, được Hòa thượng Thiện Hòa giao trông coi phòng phát hành kinh sách chùa Ấn Quang. Làm một lúc, ông trở thành nhà kinh doanh có chút tiền thì liền có người để ý ông, hay đúng hơn là ngắm túi bạc của ông. Một hôm, ông ra đời với họ và mỉa mai thay, túi tiền ông đến lúc sạch bách thì liền bị họ bỏ rơi, cuối cùng ông phải đi vác gạo mướn ở chợ An Đông, rồi bị ho lao chết; kết thúc cuộc đời thật là thê thảm.

Sống trong biển Thức, người bị sóng ngầm, người bị cuồng phong, người bị thú dữ xé nát. Vì vậy, Phật dạy người tu Duyên giác thừa phải quán sát cuộc đời thật chính xác nhớ rõ trong kiếp luân hồi sinh tử, đã bị vùi dập khổ đau như thế nào để dứt khoát không rơi trở lại Nhà lửa tam giới.

Chỉ có hàng Bồ tát được ví như người đi xe trâu có khả năng kéo nặng. Nghĩa là Bồ tát vừa thông minh, vừa khỏe mạnh, vừa có phước đức, nên tự thân đã thoát được phiền não sinh tử lại vừa có khả năng cứu đời, cầm đuốc soi đường để dìu dắt người khác cùng đi với mình ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến bãi đất trống.

Tóm lại, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát với ba hoàn cảnh khác nhau, nên phải tu các pháp khác nhạu theo tam thừa giáo; nhưng cuối cùng, ba hạng đệ tử này đều được giải thoát giống nhau.

Đạo đức, trí tuệ và công đức, ba điều cốt lõi này trong kinh Vô Lượng Nghĩa đã bao gồm tất cả những gì Phật thuyết pháp trong suốt 49 năm, nhằm đưa ba hạng người, người bình thường (Thanh văn), người thông minh (Duyên giác) và Bồ tát luôn cứu nhân độ thế, ra khỏi sinh tử luân hồi của tam giới.

Kinh Pháp Hoa là điểm hội tụ của tất cả các pháp tu khác nhau, nhưng giải thoát là một. Được giải thoát, tâm trống không, rồi cứu nhân độ thế bao nhiêu cũng không bị vướng mắc. Phật dạy rằng Bổ tát độ vô số chúng sinh, nhưng không thấy có chúng sinh nào bị độ, mới là độ tận chúng sinh. Còn tự cho rằng mình tu Bồ tát hạnh, mà bố thí cái gì cũng ghi vào sổ sách, nhớ hoài; nếu người nhận không nhớ ơn là khó chịu liền; đó là Bồ tát giả danh.

Tất cả các kinh điển Phật nói, từ A Hàm, Phương Đẳng, đến Bát Nhã, đều được gộp lại trong kinh Pháp Hoa. Kinh A Hàm và Phương Đẳng là ba xe, hay tam thừa giáo. Kinh Bát Nhã ví cho mảnh đất trống, phải quán Không: nhân Không, ngã Không và tất cánh Không. Nghĩa là quán tứ đại ngũ uẩn không phải là mình, nên không chấp thân này là mình, không chấp vật sở hữu là của mình, mọi thứ đều hoàn toàn Không, đạt đến tất cánh Không.

Bồ tát Nguyệt Quang quán pháp Không như vậy mà đắc đạo quả Bồ tát. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả sở đắc của Bồ tát Nguyệt Quang bằng bài kệ sau:

Bồ tát Thanh Lương Nguyệt
Thường du tất cánh Không
Chúng sanh tâm cấu tịnh
Bồ tát ảnh hiện trung

Nghĩa là tâm chúng sinh thanh tịnh, hay nhơ bẩn đến mấy, Bồ tát cũng hiện thân vô tâm họ để cứu độ, mà không bị dính mắc. Còn độ người mà mình bị dính vô phiền não, nghiệp của họ, không phải là Bồ tát.

Nói chung, một đời giáo hóa của Phật giảng dạy tam thừa giáo, kết thúc lại gọi là kinh Vô Lượng Nghĩa. Và trước khi nói kinh Pháp Hoa, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Theo Thiên Thai Trí Giả, Phật nói kinh Hoa Nghiêm trước rồi đến kinh A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã và sau cùng nói Niết bàn, Pháp Hoa. Nhưng trong kinh Pháp Hoa, chỉ ghi một câu là trước khi nói Pháp Hoa, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Như vậy, chúng ta có        thể hiểu rằng kinh A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Niết Bàn tiêu biểu cho kinh Vô lượng nghĩa.        

Nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong, Phật nhập định Vô lượng nghĩa, vì Phật nói Vô lượng nghĩa thì phải thực hành Vô lượng nghĩa cho mọi người thấy. Phật chỉ nói những gì Ngài đã làm và Ngài làm những gì đã nói; cho nên Ngài có tôn danh là bậc Minh Hạnh túc.        

Vì vậy, nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội có ý nghĩa quan trọng. Chưa nhập tam muội này cũng chưa có kinh Pháp Hoa. Nhập Vô Lượng Nghĩa xứ tam muội là ngồi yên mà ba        đời nhân quả hiện ra trong tâm chúng ta để tu Pháp Hoa. Ví dụ, tôi tập trung tư tưởng, tất cả cuộc đời quá khứ hiện lên, cho tôi kinh nghiệm tốt xấu và vẽ ra hướng tương lai, tôi sẽ làm gì cho tốt.        

Tu hành mà không nhập định, không tập trung tư tưởng được thì cái thấy không chính xác. Phật dạy các Tỳ kheo phải thường sống trong chánh định; vì sống trong tạp niệm, nghĩa là sống với biển Thức thì không có Phật, không đến với Phật được, còn sống với cuộc đời thì càng cách xa Phật hơn nữa.

Định, tiếng Phạn là Samadhi, Tàu dịch là tam ma địa, hay tam muội. Thầy Tỳ kheo an trú trong chánh định thì thế giới Phật hiện ra. Người tu hơn nhau ở trụ định. Tỳ kheo dở nhất là bị cuộc đời lôi cuốn, thứ hai là tâm tán loạn. Tỳ kheo được kính trọng thường trụ định, ít nói, hoặc niệm Phật, tâm 1ắng yên, mới có khả năng thay Phật độ đời. Trong các pháp sư nổi tiếng thời Phật tại thế, có Mã Thắng Tỳ kheo được Phật ca ngợi. Vị này trụ định, không nói, yên lặng vào làng khất thực, nhưng Xá Lợi Phất thấy tướng giải thoát của Ngài hền phát tâm và đắc quả Tu đà hoàn, đi theo Ngài về gặp Phật thì đắc quả A la hán. Từ đó về sau, Phật dạy các Tỳ kheo phải trụ định, trừ khi đến Phật nghe pháp, thời gian còn lại ngồi trong hang đá, hoặc dưới gốc cây để nhập định. Thuyết kinh quan trọng, nhưng trụ định quan trọng hơn, vì độ được nhiều người, tác động cho họ giải thoát. Còn thuyết pháp hay, nhưng chưa chắc người nghe được giải thoát.

Đức Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội rồi, trời mưa hoa Mạn đà la, Mạn thù sa. Hoa Mạn đà la là hoa Trời, mà Trời tiêu biểu cho tâm an vui. Chư Thiên lúc nào cũng vui, cũng trẻ đẹp, không biết buồn; khi nào biết buồn là chư Thiên sắp bị đọa.

Khi Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội, trời mưa hoa Mạn đà la, nghĩa là làm cho đại chúng an vui. Nhận thức ý nghĩa này, khi tập họp quần chúng, tất cả được an lạc là Phật pháp hiện ra, là điềm lành; không phải tập họp chúng để tranh cãi, để buôn bán. Hoặc tập họp chúng đến chùa để vui chơi theo thế gian, nếu có thì tạm coi là phương tiện mà thôi; còn cái vui của đạo phải khác, vui trong yên tĩnh. Người thích cảnh sống yên tĩnh của Sa môn, vui trong khổ hạnh, vui trong Thiền định mới tu được; nhưng cảm thấy chùa vắng vẻ buồn, từng nơi ồn náo để vui, sớm muộn gì người đó cũng hoàn tục.

Nhập định của Đức Phật ảnh hưởng cho đại chúng được an vui, tiêu biểu bằng hoa Mạn đà la, thể hiện tinh thần Pháp Hoa, nhứt hoa chúng quả tu Thanh văn là nhứt hoa nhứt quả; một mình tôi tu, một mình tôi nhập định, một mình tôi an vui, các thầy khác không biết. Tu Thanh văn không ảnh hưởng tốt cho người khác được Phật ví như thủy tinh không có công năng lóng nước trong như ma ni bảo châu. Thanh văn thanh tịnh, nhưng không làm cho chúng thanh tịnh. Thực tế có nhiều vị chân tu, đạo đức cao, nhưng không ảnh hưởng cho ai cả.

Hoa Mạn Thù Sa nghĩa là trong sạch, tinh khiết. Phật nhập định, có hoa Mạn đà la và Mạn thù sa rơi xuống nhằm diễn tả tâm trạng của đại chúng được lực Phật tác động cảm thấy an vui và thanh tịnh giải thoát, càng vui thì tâm hành giả càng thanh tịnh và thâm nhập thế giới Phật.

Vui trong tham dục,
vui rồi khổ.
Khổ để tu hành,
khổ hóa vui;.

Người đời thấy người tự ăn chay, lễ sám, thiền định, cho rằng cực khổ. Họ nào biết được cái vui của đạo đưa chúng ta vào con đường thanh tịnh, giải thoát, con đường vui vô tận. Vua Trần Thái Tông thưởng thức được nguồn vui vô hạn này khi học đạo với Phù Vân quốc sư trên non Yên Tử, đã thốt lên rằng:

Mùi Thiền trong ấy nào ai biết
Thức suốt đêm trường vui với Tăng.

Còn thú vui của thế gian do cuộc đời đưa cho sẽ dẫn vào con đường sa đọa, vì sau cuộc vui là nỗi khổ niềm đau ập đến.

Sau khi hoa Mạn đà la và Mạn thù sa rơi xuống, đại chúng thấy bạch hào tướng của Phật chiếu suốt 18.000 thế giới ở phương Đông. Điều này tiêu biểu cho nhập định phải có trí tuệ Thầy Tỳ kheo tu giới, tâm thanh tịnh, tập trung tư tưởng, mọi việc tự sáng lên, là định sanh tuệ, thấy biết những điều  mà bình thường không biết Tu định, ngày nay gọi là tu Thiền. Thiền sư quan sát Thiền sinh để biết họ tu đúng hay sai. Những nguời ngồi Thiền ngủ gục thuộc hàng sơ tâm, không tập trung tư tưởng được, nên dễ rơi vào hôn trầm. Cần dạy họ cách tu để khắc phục. Nhớ lại lúc còn ngồi ghế nhà trường ở Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng Thiện Hòa giảng bài xong thì tẩt cả Tăng sinh đều ngủ. Ngủ vì bài học không có sức thu hút. Nói đúng hơn, Phật đạo dài xa, nên chúng ta không cảm được, không hiểu được, mới dễ ngủ. Nghe những gì mình ưa thích, liền có sức thu hút, tập trung được. Vì vậy mà ngày nay, người đời bày ra nhiều trò chơi đề thu hút người, mà người ta càng laọ theo các trò chơi càng tạo tội lỗi. Tổ Quy Sơn từ xa xưa đã nói ý này: Vọng tình dị tập. Chí đạo nan văn; nghĩa là cám dỗ của cuộc đời dễ lôi cuốn người ta theo, còn học đạo thì khó lắm. Và nghe pháp mà không ngủ, vui được thì Tổ Quy Sơn cũng đã nói: Bạt tực siêu quần. Vạn trung vô nhất; đối với việc học đạo, muôn người chưa được một người. Hòa thượng Thiện Hoa thường nói rằng: Trứng cá, bông xoài. Cây xoài trổ ra rất nhiều bông, nhưng kết thành trái thì không nhiều. Đến với đạo và sống được trong đạo khó lắm, chúng ta phải nỗ lực.

Định lực, tức sức tập trung của Phật cao, làm cho đại chúng tập trung theo, là thuyết pháp trong định. Đức Phật phóng tạo hào quang đi suốt 18.000 thế giới, khiến tâm chúng thanh tịnh, cũng lôi theo đến 18.000 thế giới đó tạo thành cảnh giới thanh tịnh mầu nhiệm, hay thế giới  của kinh Pháp Hoa, là thế giới của Tâm.   

Trong ánh quang của Phật, đại chúng thấy có Phật ra đời, Phật thuyết pháp giáo hóa. Điều này nghĩa là gì. Trước kia, các Tỳ kheo thấy Phật là thái tử tu thành Phật; nhưng nay thấy Phật trước khi sanh ra ở Ta bà. Ngài đã là Phật. Họ nghĩ Phật tu thành Phật được thì họ cũng thành Phật, nhưng tu hoài mà sao không ai thành Phật. Vì vậy nương theo ánh quang Phật, nhận ra Phật hiện thân lại cuộc đời hoàn toàn khác thân phận của chúng ta. Trong ánh quang Phật, hay là nương trí tuệ Phật, thấy rõ thân phận của tất cả chúng sinh bị trói buộc trong lục đạo tử sanh, từ đĩa ngục A tỳ cho đến trời Hữu đảnh, đã trải qua biết bao nhiêu kiếp luân hồi, chịu khổ não vô lượng. Rõ ràng chúng ta hay tất cả chúng sinh khác Phật xa, cho nên tu mãi mà không thành Phật, hay còn lâu mới thành Phật, Đức Phật tu sáu năm thành Phật, chúng ta tu bao nhiêu lâu rồi và thành gì. Cảm nhận yếu nghĩa này, chúng ta ca ngợi các vị tôn túc rằng:

Từ chơn tánh hiện thân Đại sĩ
Giữa hồng trần chẳng nhiễm bụi trần

Các vị Tổ sư đạo cao đức trọng là Bồ tát hiện thân lại thế gian này, nên cuộc đời tu hàng của các Ngài khác hẳn phàm nhân mới tu, cái gì cũng tham đắm, không bị cá mập nuốt thì cũng bị sóng lớn nhận chìm là phải thôi.

Trong mùa an cư kiết hạ, quý vị được phước duyên tập trung tu hành ở trường hạ của Thành hội Phật giáo thành phồ Hồ Chí Minh, cầu mong tất cả nỗ lực sống trong pháp Phật, để không phí phạm đời tu của mình, không có phụ công đức giáo dưỡng của chư tôn đức, không phụ lòng tin của đàn na tín thí, sớm được thanh tịnh giải thoát, xứng đáng là trường tử của Như Lai, là phước điền của chúng sinh.
HT. Thích Trí Quảng

Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán


Trong thời gian này, chúng ta siêng năng đọc tụng kinh điển và ngồi yên quán sát lời dạy đó để ứng dụng trong cuộc sống. Lúc ấy chúng ta chỉ mới tu trong tâm. Phương tiện này giúp tâm ta thanh tịnh dễ dàng.


Trong quá trình tiến tu, Thái tử Sĩ Ðạt Ta ngồi thiền định dưới cội bồ đề trong 21 ngày là đạt quả vị Vô thượng Ðẳng giác. Còn chúng ta đầy phiền não, nên ngồi yên thì trần lao hiện ra. Chẳng những không thành Phật, mà tu một lúc chúng ta trở thành hung ác, phiền muộn. Ðó là vì chúng ta chất chứa toàn nghiệp trần lao, nên khi tu, tâm phiền não này có sẵn và tự động bộc phát. Trái lại tâm đức Phật có toàn hột giống thanh tịnh, nó tự nảy mầm, kết thành quả Bồ đề khi Ngài tư duy, thâm nhập thiền định. Có thể ví tâm nhơ bẩn của chúng sinh như đất có sẵn hột cỏ, gặp phân, nước, cỏ lên nhanh. Chúng ta tự xác định mình là chúng sanh với đầy đủ chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, nên không thể nào làm như Phật. Từ thân phận chúng sanh phàm phu ấy khởi tu, chúng ta cần nỗ lực chuyển nghiệp trước. Ðức Phật dạy rằng quá trình tu tập để chuyển nghiệp không đơn giản, phải trải qua 3 a-tăng-kỳ kiếp mới chuyển được tất cả nghiệp ác của chúng ta.

Mỗi a-tăng-kỳ kiếp là thời gian vô định, tùy thộc vào năng lực tu hành của từng người khác nhau. A-tăng-kỳ thứ nhất, chúng ta làm sao cho sạch nghiệp, đắc được quả vị A La Hán, mới coi như hoàn tất giai đoạn một. Bước qua a-tăng-kỳ thứ hai, chúng ta tu quán nhân duyên và phát sanh được trí huệ vô lậu, thấy được quá khứ cùng mối tương quan của ta và người. Và ở a-tăng-kỳ thứ ba, chúng ta phải tu Bồ Tát đạo cho viên mãn. Như vậy, một đời người không thể nào thực hiện trọn vẹn 3 việc: thanh tịnh hóa thân tâm, phát sanh trí tuệ và thực hiện đầy đủ công đức. Thành tựu 3 việc này rồi, mới ngồi Bồ Ðề đạo tràng 21 ngày, phá ma quân, thành Vô thượng Ðẳng giác.

Ý thức tinh thần Phật dạy như thế, chúng ta tự biết không thể tu chân thật môn để tiếp cận được chân lý. Từ đó, chúng ta phải trở lại tu phương tiện của đức Phật, tức tạo điều kiện để chúng ta thâm nhập Phật đạo. Phương tiện mà chúng ta thường tu là đọc tụng kinh điển, kết hợp với tu thiền quán. Vì có đọc kinh điển chúng ta mới tâm đắc và suy nghĩ về lời Phật dạy. Chúng ta đọc tụng và quán sát 12 bộ kinh là 12 vấn đề lớn của đức Phật dạy, đó là bước đầu quán sát giáo pháp Pháp thân. Vì chúng ta không thể thấy trực tiếp Pháp thân Phật, nên coi lời dạy của Phật là Pháp thân Ngài.

Trong thời gian này, chúng ta siêng năng đọc tụng kinh điển và ngồi yên quán sát lời dạy đó để ứng dụng trong cuộc sống. Lúc ấy chúng ta chỉ mới tu trong tâm. Phương tiện này giúp tâm ta thanh tịnh dễ dàng. Thật vậy trên bước đường tu, chúng ta tự làm cho tâm thanh tịnh không đơn giản. Ðiển hình như Kiều Trần Như hay Xá lợi Phất tu trải qua 60 kiếp cũng không đắc được A La Hán. Nhưng có đức Phật đắc đạo rồi, giống như có người phát minh ra chân lý, chúng ta chỉ cần nghiên cứu chân lý thì dễ hơn, còn tự tìm ra không nỗi. Chúng ta dễ đắc đạo nhờ nương theo giáo pháp Phật có sẵn, suy nghĩ, chứng nghiệm trong cuộc sống. Tu theo pháp Phật, quán sát pháp, phiền não chúng ta tự lắng yên.

Tôi tâm đắc pháp tu này, vì khi đọc tụng lời Phật, tôi tự cảm thấy an lành, tức lấy hình ảnh đẹp để xóa hình ảnh xấu trong lòng. Tu đúng pháp như vậy, mỗi niệm tâm, ta cảm thấy thăng hoa cuộc sống tâm linh, dần dần đẹp, khỏe, giàu, được kính trọng thêm; vì đã lấy Phật đức trang nghiêm thân tâm. Cách tu này có kết quả nhanh nhất. Thật vậy, ta là phàm phu, nhưng khoác áo Phật vào thân, đưa pháp Phật vào lời nói, lấy tâm Phật gắn vào tâm chúng ta, thì chúng ta trở thành biểu tượng của Phật.

Như vậy, chỉ mới quán pháp Phật, có giáo pháp Pháp thân thôi, mà chúng ta biến thành thường trú pháp thân Phật, vì lời nói, suy nghĩ, việc làm của chúng ta giống Phật, khiến người liên tưởng đến Phật. Không làm được như vậy, mà chúng ta tu mang hình thức tu, là phạm tội phá pháp. Suy nghĩ lời Phật dạy là Thiền và đọc tụng kinh điển là Giáo; kết hợp hai pháp phương tiện này lại để tu mới có kết quả tốt. Vì đọc kinh suông, không suy nghĩ, không hiểu nghĩa, cũng chẵng có tác dụng gì. Và không thiền thì làm sao phát sanh trí tuệ.
Trong quá trình tu đọc tụng kinh điển và thiền quán, mỗi ngày phiền não chúng ta lắng yên và tâm trí trở nên sáng suốt. Còn để nguyên phiền não mà đọc tụng kinh thì chúng ta quên lời Phật dạy, không áp dụng được trong cuộc sống lẫn lộn Phật và ma, tất nhiên đầu óc cũng u mê. Ngoài việc sử dụng pháp tụng kinh kèm với thiền quán, chúng ta còn có pháp phương tiện thứ hai là lạy Phật và thiền quán.

Người đọc tụng kinh điển, nhưng không đạt được kết quả tốt vì không kết hợp pháp đọc tụng kinh với thiền quán, tức miệng đọc mà tâm nghĩ sai trái, nên phước không sanh. Trong lúc đọc tụng kinh và nghĩ đến Phật thì phải hiện tướng bên ngoài tốt, dễ thương; vì Phật dạy tướng tùy tâm hiện. Căn cứ vào lời dạy ấy, nên chưa hiện hảo tướng là biết tâm chúng ta chưa tốt. Ngài Thiên Thai dạy chúng ta phải lạy Phật, sám hối cho đến thấy hảo tướng Phật và hảo tướng ta hiện ra. Thấy hảo tướng Phật, là Phật đã vào tâm ta và sẽ thể hiện ra hình tướng của ta, nên lúc ấy tâm ta mới là thiền, thân mới làm giống Phật. Tu ở giai đoạn hai, chúng ta vừa lạy Phật vừa quán tưởng với tất cả tâm thành. Lạy mà không quán tưởng thì lạy một cách máy móc, lạy hư không hay lạy khối xi măng, làm sao có phước được. Tệ hơn nữa, thân lạy Phật mà tâm khởi niệm ác, chắc chắn đọa.

Trên tinh thần quán tưởng mới là quan trọng, chúng ta phải thiền quán trước thì mới thấy thân ta ở trước Phật và có Phật để chúng ta lạy. Quán được một Phật hay nhiều Phật, hay nói khác nương được lực Phổ Hiền để "nhứt thân phục hiện sát trần thân", tức đảnh lễ không sót một vị Phật nào, thể hiện tâm thành đạt đến đỉnh cao nhất. Lạy Phật suông không có thiền quán chẳng khác gì chúng ta làm một động tác thể thao, không đạt được lợi lạc nào cho đời sống tâm linh. Lạy kèm theo thiền quán thì lạy xong nét mặt chúng ta sáng ra, vui tươi, không mệt. Mỗi lần tu, chúng ta kiểm chứng việc lạy Phật đúng hay sai bằng cách căn cứ vào kết quả sau khi lạy. Lạy nhẹ nhàng, không tháo mồ hôi, không thấy mệt, tâm hồn thanh thản, an lạc là biết chúng đã nhập tâm, cảm được mười phương Phật, nên hành lễ đạt đến siêu tự nhiên, không biết nóng lạnh, vượt được sự chi phối của ngoại duyên, thâm nhập đạo. Còn lạy Phật đổ mồ hôi đầm đìa, thở không ra hơi, tim đập dồn dập, đến mức sợ không dám lạy nữa là chúng ta đã tu sai pháp.

Người tu đúng phải có kết quả tốt. Chúng ta nỗ lực huân tu Phật pháp, càng đem giáo pháp nhiều vào tâm càng tốt. Riêng tôi, nhờ siêng năng đọc tụng kinh điển, suy gẫm những việc làm cao quý của Phật và Bồ Tát càng thấy thích tu. Và sử dụng phương tiện lạy Phật song hành với thiền quán, nên thấy Phật, mới lạy được Phật, công đức mới sanh, được những điều bất tư nghì như sức khỏe lại tăng theo tuổi đời, tâm hồn an vui theo nghịch cảnh. Tu a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất cho đến sạch nghiệp, tức đạt đến vị trí của Bồ Tát đệ bát địa, chuyển A lại da thức thành Bạch tịnh thức thì tâm không còn móng khởi điều gì nữa.

Ðến phương tiện thứ ba, chúng ta sám hối, nhưng cũng phải kèm thea gia công thiền quán. Chúng ta thường chọn ngày 15 và 30 làm lễ sám hối, Phật gọi là ngày trưởng tịnh. Ngày 15 trăng tỏ và 30 không có trăng là thời gian mà mặt trăng ảnh hưởng đến cơ thể chúng ta, tạo thành nhiều chuyển đổI, kể cả tâm lý cũng đổi theo. Ngày ấy chúng ta không tu thì nghiệp ác dễ sanh trưởng. Vì vậy, đức Phật chọn ngày này để tu, không cho làm, sợ sanh phiền não, không phải chọn đó là ngày tốt.

Chúng ta ngồi yên để kiểm điểm lại là vừa sám hối vừa tu tập thiền quán mới thực là sám hối. Có người nghĩ lạy Phật sẽ hết tội, nhưng Phật không bắt tội cũng không tha tội cho ta được. Ngài không đẩy ta vào địa ngục, cũng không đưa ta lên thiên đàng. Chúng ta không cầu xin Phật. Nhưng tại sao chúng ta lạy Phật? Lạy Phật và sám hối chính là mượn hình ảnh thánh thiện trọn lành của Phật để thay thế hình ảnh xấu ác, tội lỗi. Vì thế, tu sám hối, chúng ta phải quán được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Ngài, 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh, đem đức tướng ấy của Phật so với thân ô uế, tội lỗi, dễ ghét của chúng ta, để thấy rõ chúng ta phạm những sai lầm gì mà ra nông nỗi này và đức Phật tạo phước đức gì mà Ngài cao sang như vậy. Muốn biết tội đời trước, chúng ta nhìn thành quả đời này của mình. Ðời trước sát sanh hại mạng, gian tham nên đời này bệnh hoạn, yếu đuối, nghèo khó.

Chúng ta sám tiền khiên, hối hậu quá, nghĩa là nhận ra sai lầm quá khứ và ăn năn, không tái phạm. Chúng ta theo Phật, hiện tại cứ lo làm việc tốt thì hạt giống tốt tự lên, lâu ngày điều tốt này thay cho sai lầm xấu của quá khứ. Còn chúng ta cứ sống với xấu ác quá khứ thì một thời gian sau, xấu ấy sẽ bộc phát thành hiện tại. Nếu ác nghiệp cũ không khởi hiện hành thì nó cũng bị hư hoại luôn. Kiểm chứng kết quả tu thấy chúng ta không còn giận, không còn buồn là biết chúng ta đã tiêu hủy được hạt giống xấu. Muốn hạt giống ác mất, phải trồng hạt giống tốt, là trồng căn lành bằng cách lạy Phật, sám hối. Nghĩ về Phật, về Thánh hiền, tán thán công đức các Ngài thì những điều cao quý ấy trang nghiêm tâm ta, tội lần tiêu, lòng chúng ta tự thanh thản.

Tóm lại, tụng kinh, lạy Phật, sám hối song hành với thiền quán, chúng ta quan sát xem Phật, Bồ Tát, Thánh hiền làm gì, chúng ta tập làm theo, để điều chỉnh thân tâm chúng ta lần cho giống các Ngài. Chuyển hóa được tâm thành thánh thiện, chắc chắn hoàn cảnh cũng tự chuyển đổi tốt đẹp theo ; vì Phật dạy y báo tùy thuộc chánh báo. Nương theo những chiếc phao phương tiện mà đức Phật để lại, chúng ta hành xử lợi lạc cho mình và người để Phật pháp còn mãi trên thế gian lợi lạc chúng hữu tình.
HT. Thích Trí Quảng

Ý nghĩa bờ bên kia


Bờ bên kia dịch từ chữ Hán là đáo bỉ ngạn, tức đến bờ bên kia. Có người dùng từ hồi đầu thị ngạn nghĩa là quay đầu là bờ, từ này cũng khó hiểu, ít có người hiểu đúng. Bờ bên kia ở đâu và hồi đầu là gì?

Trước nhất chúng ta phân ra hai bên, một bên là thử ngạn, tức bên này và bỉ ngạn là bên kia. Chúng ta đứng bên bờ này là bên bờ của sanh tử, cho nên đối với sanh tử, chúng ta có bờ bên kia là Niết bàn. Người tu Thiền còn gợi thêm một ý nữa là “Sanh tử Niết bàn đẳng không hoa”, tức sanh tử thuộc ảo, nhưng Niết bàn cũng ảo; đó là đỉnh cao của Bát Nhã. Đức Phật dạy rằng vì chúng ta đứng ở sanh tử, nên hướng về Niết bàn; nhưng đạt được Niết bàn thì Niết bàn đó cũng là ảo. Ý này mở ra cho chúng ta nhận biết được có một thế giới vượt trên Niết bàn.
Trước nhất, chúng ta đang đứng ở bờ sanh tử, hay sống trong sanh tử, tức có sanh thì phải có chấm dứt cuộc sống. Tuy nhiên, ý nghĩa mà chúng ta muốn nói đến là bờ bên kia, tức sau khi chết, chúng ta về đâu. Thông thường chúng ta nghĩ rằng sau khi chết, chúng ta về thế giới Phật, về Niết bàn, về thiên đường, hoặc tái sanh lại cõi người. Như vậy, cứu cánh Niết bàn là điểm tối hậu, còn phía bên kia có nhiều thứ, không nhất thiết có một. Khi chúng ta đến thế giới Ta bà này, mỗi người đều mang theo mình nghiệp riêng từ quá khứ. Có thể nói chúng ta hiện hữu ở thế giới này là thể hiện nghiệp quá khứ và hành vi tạo tác của chúng ta trong kiếp này là hạt nhân để tạo thành cuộc sống của kiếp sau. Vì vậy, chúng ta sống như thế nào trong hiện tại thì sau khi chết, sẽ có đời sau thể hiện cuộc sống hiện tại của chúng ta. 
Thật vậy, sinh hoạt hàng ngày của chúng ta được đưa vào và lưu giữ lại trong tiềm thức, Duy thức học gọi là A lại da thức. Và tất cả những gì xảy ra  trong cuộc sống hiện tại đều được gom vào đầy đủ trong kho tiềm thức và chúng thường hiện ra trong giấc mơ khi chúng ta chìm vào giấc ngủ. Tiềm thức hay tâm thức của chúng ta đã nói lên được cuộc sống của chúng ta sau khi chết. Những người tham lam, hung dữ, độc ác, hơn thua tranh giành trong cuộc sống hàng ngày, những việc này phát xuất từ tâm tham vọng, nên tâm thức đó đã chất chứa hạt giống ác. Chính vì vậy mà khi còn sống, tâm trạng họ đã bất an và trong giấc ngủ, họ cũng mộng mị bất an, cho đến giấc ngủ dài là sau khi chết, tâm họ chắc chắn cũng rơi vào thế giới bên kia bất an là địa ngục. Những người sống trong trạng thái tâm như vậy, thì đối với họ “Dương gian là cảnh, âm phủ là quê, sống ở thác về”. Thác về là về địa ngục, nghĩa là họ phải trải qua từ tầng địa ngục thứ nhất cho đến tầng địa ngục thứ mười. Qua mười chặng đường của thế giới âm, đến chặng cuối cùng để giải quyết những việc mà con người đã làm trên trần gian và trước khi tái sanh lại cuộc đời, họ đến nhà bà lão do Ngọc hoàng gởi xuống. Bà lão này cho ăn bát cháo lú thì tái sanh trên cuộc đời, họ quên tất cả quá khứ và trở lại con người bình thường trần tục mà sống, để rồi kết cuộc chấm dứt cuộc sống cũng lại đi một vòng giống y như vậy, lại đi qua mười cửa ngục, rồi tái sanh… Đó là cuộc sống hẹp, lẩn quẩn trong địa ngục luân hồi, nhưng nếu mở rộng là lục đạo luân hồi, tức có sáu con đường luôn mở rộng là mở rộng tâm thức, không phải chỉ đi vào địa ngục; tùy theo suy nghĩ và hành động mà mỗi người có kết quả khác nhau sau khi chết. 
Đương nhiên tạo ác thì vào địa ngục, còn người tạo phước nhưng nhiều sân hận, họ có thể sanh lại thế giới A tu la. Hoặc người sống lương thiện không thể vào mười địa ngục, họ có hạt nhân làm người thì tái sanh làm người và nếu có phước cao, đã sống trọn mười điều lành, họ sẽ sanh lên cõi Trời dục, tức Tứ thiên, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, hay Hóa lạc thiên. Như vậy, đối với những người vừa nói, bờ bên kia được giới hạn trong phạm vi luân hồi tái sanh từ địa ngục cho đến cõi người, cõi trời. Những người không tu chưa hiểu đạo, chưa thực tập Thiền quán, chưa hạ thủ công phu thì chỉ đi vào lục đạo luân hồi này.
Còn bờ bên kia mà Đức Phật dạy xa hơn cho người có hạ thủ công phu thì như thế nào. Trước tiên, Phật dạy hàng Thanh văn thực tập 37 trợ đạo phẩm, bờ bên kia của họ hoàn toàn khác, vì họ tu hành sống cuộc đời khác với phàm phu,  họ không huân tập tâm xấu ác, không làm việc tội lỗi, kể cả tâm tốt, việc thiện cũng không huân tập. Họ chỉ muốn làm cho tâm thanh tịnh mà thôi. Khởi đầu tu, Phật dạy Thanh văn tu Tứ niệm xứ quán: quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán thọ thì khổ, quán pháp vô ngã; cuối cùng đến bờ bên kia là Không. Và thế giới Không này theo tinh thần Bát Nhã mà Đức Quan Âm đã “Hành thâm Bát Nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách…”. Mở đầu Tâm kinh, Đức Phật giới thiệu Bồ tát Quan Âm nhờ thực tập Bát Nhã đến mức đào sâu ngũ uẩn, thấy tất cả đều là không, thì không có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cũng không có cứu cánh Niết bàn; từ đó, tâm hoàn toàn trống không, đạt đạo giải thoát. 
Vì vậy, bước đầu tu hành của chúng ta là cứu cánh Niết bàn, giải thoát. Các Phật tử tu học Phật pháp cố gắng thực tập cho được giai đoạn một, phải nhận thấy rõ tất cả mọi người cuối cùng đều phải rời bỏ thân tứ đại, huống chi là vật sở hữu làm sao giữ được, mang theo được sau khi chết. Ý thức sâu sắc như vậy sẽ bỏ được tâm chấp trước, chúng ta liền có cuộc sống an lạc. 
Đầu tiên kinh Bát Nhã mở ra cho chúng ta hiểu được ý nghĩa của đến bờ bên kia; nhưng chỗ này không phải là điểm dừng của chúng ta. Thật vậy, Bát Nhã là đỉnh cao của Tứ Thánh Đế mà Phật đã dạy. Người tu thành tựu giới, định, tuệ, mới thấy được thế giới không, không này là không chấp trước, không tham đắm. Còn chấp trước, còn tham đắm thì còn khổ. Đỉnh cao của người tu là tâm hoàn toàn thanh thản, vì không chấp trước, không tham đắm, nên tất cả mọi việc đối với chúng ta trở nên nhẹ nhàng. Nhưng chúng ta không dừng ở chỗ này, vì có thế giới không này để thoát ly bờ sanh tử mà thôi và sau cái không này còn có cái vi diệu hơn nữa. Vì vậy, khi mở được mắt trí huệ, chúng ta sẽ thấy rõ những gì bờ bên kia có, không phải KHÔNG là trống không.
Trên tinh thần này, Ngài Huệ Năng dạy rằng Bản lai vô nhất vật. Người không hiểu, chấp vào cái “vô” này, rồi thấy không là không suông, chẳng có gì cả. Phải hiểu rằng tất cả mọi sự mọi việc trên cuộc đời này đều là không, tức tất cả đều là ảo giác. Chúng ta đạt đến không là trạm dừng chân để thưởng thức được cuộc sống giải thoát so với khổ đau của phàm phu, chứ đó chưa phải là cứu cánh. 
Vì vậy, đạt được “Vô nhất vật” rồi, cánh cửa sanh tử bên này đóng thì cánh cửa Niết bàn bên kia mới mở ra, bấy giờ sẽ có “Hữu hoa, hữu nguyệt, hữu lầu đài”, tức phía bên kia còn đẹp hơn gấp bội phần. Chúng ta thấy thế giới này đẹp, cho nên tham đắm; nhưng Lục tổ Huệ Năng dạy chúng ta rằng ở bờ bên kia còn đẹp hơn nhiều, không phải trống không, không phải không suông như mọi người nghĩ tưởng. Bờ bên kia có Cực lạc của Phật Di Đà, có Niết bàn của chư vị Thánh La hán, có cung Trời Đâu Suất của Đức Di Lặc, v.v…
Và khi nhận thức được bờ bên kia giải thoát còn có những điều kỳ diệu hơn, tốt đẹp hơn ở cõi này, chúng ta bắt đầu khám phá bờ bên kia để hướng tâm đến. Hành giả tu pháp môn Tịnh độ dễ nhận ra bờ bên kia. Đức Phật Di Đà xưa cũng làm vua là Vô Tránh Niệm, Ngài có tất cả những sở hữu vật chất lớn nhất trần gian, vì Ngài là Chuyển luân Thánh vương; nhưng Ngài cảm nhận được sở hữu vật chất này không tồn tại vĩnh viễn và khi hết phước báu, những sở hữu vật chất này liền trở thành trần lao nghiệp chướng cho mình. Thực tế cuộc sống cho thấy rõ khi có phước, người thân hết lòng với họ, người giúp việc cũng trung thành, thậm chí người chống đối không dám hại mà còn phải làm tốt. Nhờ phước như vậy, họ dễ dàng tạo sự nghiệp lớn lao trên cuộc đời; nhưng khi hết phước, người ủng hộ bắt đầu chống phá, thậm chí con cháu trong gia đình cũng phá hại. Đức Phật Di Đà nhận ra phước này chỉ là tạm bợ trong sanh tử, không đáng để quan tâm. Vua Trần Thái Tông cũng thể hiện ý này qua câu nói nổi tiếng “Ta xem ngai vàng như chiếc giày rách”.
Tất cả phước báu thế gian không đáng quan tâm, cho nên vua Vô Tránh Niệm mới quan tâm cái khác thì mới được Bảo Tạng Như Lai hướng dẫn tiến tu theo Phật đạo. Ngài liền từ bỏ cuộc sống tạm bợ thế gian, xuất gia làm Tỳ kheo Pháp Tạng, sống thánh thiện. Từ người có phước báu hữu lậu thế gian mà đánh đổi lấy phước báu vô lậu như vua Vô Tránh Niệm là người biết tu; không biết tu thì phước báu hữu lậu đã có tiêu xài phung phí sẽ hết.
Bảo Tạng Như Lai dạy vua Vô Tránh Niệm chuyển đổi phước báu hữu lậu thành vô lậu bằng cách nào ?   Tất cả những gì nhà vua có đều chuyển thành vô lậu, ví dụ như có tiền thì dùng bố thí, cúng dường; vì bố thí sẽ được người quý trọng, cúng dường sẽ có phước và có phước mới kết duyên được với cao Tăng, Thánh hiền. Kinh nói rõ rằng Ngài thường tham học với tất cả đại thiện tri thức, hay các Đức Như Lai. Nhờ những phước báu là thông minh, có tiền, sức khỏe tốt và sử dụng phước này để tham vấn cầu học, phước của Ngài càng tăng thêm, nên mới có tên là Pháp Tạng Tỳ kheo; nghĩa là Ngài đã đem phước thế gian đổi thành kho tàng quý báu vô giá, gọi là Pháp. Tu theo Phật, phải triển khai được như vậy. Pháp Tạng Tỳ kheo có kho báu là phước đức và trí tuệ; phước đức do bố thí, cúng dường và trí tuệ nhờ học được pháp của Như Lai. Đức Phật Di Đà khởi đầu cách tu như vậy. 
Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật cũng dạy người tu  cần tri thức, không có Phật nào không xả thân học đạo cầu tri thức và chính Đức Phật Thích Ca cũng   đã từng làm như vậy. Tỳ kheo Pháp Tạng có kho phước mới dễ dàng tạo thêm phước và Ngài có khả năng hiểu biết mới thâm nhập được tri kiến Như Lai. Điều này chúng ta thấy rõ trong cuộc sống, những người không có khả năng hiểu biết thì không thể học được. Có thể nói rằng muốn trí thức hóa nông dân rất khó, nhưng lao động hóa trí thức không khó. Tôi nhận thấy tuy cùng học một lớp, nhưng người thành đạt dễ dàng, người không học nổi vì không có khả năng tiếp thu. 
Đức Phật Di Đà trở thành giáo chủ thế giới Tây phương Cực Lạc một cách nhẹ nhàng vì Ngài sở hữu kho tàng vô lậu và sử dụng kho báu này để phát huy lên. Thật vậy, mở đầu, Ngài khai mở một quốc gia gọi là An Dưỡng Quốc để làm nơi tập hợp những người có tri thức và khi tập hợp được nhiều thiện tri thức, Ngài sử dụng kho tàng pháp bảo này thành lập được An Dưỡng Quốc thật sự có toàn những người giỏi, tốt; vì thực tế một người giỏi đến đâu cũng không thể một mình làm được. Muốn được việc, phải tập trung được nhiều người có năng lực thật sự và có đạo đức mà kinh gọi là Đại thiện tri thức. 
Vì vậy, thế giới của Phật Di Đà xây dựng đầu tiên theo tiêu chuẩn là những người được Ngài mời tới là người sạch nghiệp, trong kinh gọi là hàng Thượng thiện nhân. Nếu tu theo Nhị thừa, thì phải là La hán, Bích chi Phật; nếu tu theo Đại thừa, phải là hàng Nhứt sanh bổ xứ A Bệ Bạt Trí. Đó là quy cách của Phật Di Đà, tập hợp những người có tri thức và đức hạnh. Ngài xây dựng được như vậy vì đã học được mô hình Tịnh độ của chư Phật mười phương; nói cách khác, có học và có phước mới làm được.
Từ thế giới Không của Bát Nhã bước qua, liền gặp các thế giới của Phật Di Đà, Phật Dược Sư, Phật Hương Tích, v.v… Có rất nhiều Tịnh độ của chư Phật cho chúng ta đến là bước đầu vào bờ bên kia. Và để đến bờ bên kia, mỗi pháp môn tu có hướng riêng chỉ rõ cho chúng ta; không phải có một con đường lên Niết bàn, hay về Cực lạc, về các Tịnh độ. Ví dụ tôi chuyên tu Bổn môn Pháp Hoa tất nhiên có hướng khác, có cái nhìn khác với những vị tu pháp môn khác. Con đường Phật đạo qua bờ bên kia theo kinh Bát Nhã, hay theo Tịnh độ của Phật Di Đà, hoặc bờ bên kia theo kinh Pháp Hoa đều có cách hành trì khác nhau và đạt đến kết quả cũng khác nhau.
Riêng tôi, thường xuyên lạy Hồng danh Pháp Hoa để tạo mối giao cảm với chư Phật và Bồ tát; vì tôi không biết các Ngài ở đâu, nhưng bằng niềm tin và tâm kính trọng của tôi đối với các Ngài, nên mỗi ngày tôi lễ bái, tạo mối tương thông với các Ngài. Tôi cảm giác chung quanh mình có Phật và Bồ tát, nhưng vì mang thân ngũ ấm, nên ta không thấy được các Ngài. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy các Ngài qua niềm tin. Ý này được kinh Pháp Hoa dạy rằng Xá Lợi Phất thuộc hàng trí tuệ bậc nhất mà cũng phải dùng niềm tin vào đạo; vì thật sự chúng ta khó thấy được những gì của bờ bên kia, người nói chưa thấy mà người  nghe cũng không thấy bờ bên kia. 
Vì vậy, với pháp môn hành trì là lễ lạy chư Phật, chư Bồ tát với tất cả niềm tin son sắt, đã tạo cho tôi sự bình an trong lòng. Ở bên bờ sanh tử này, trong thế giới đầy bất an này, nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn an lành, vì tâm tôi hướng về Phật, Bồ tát. Đem tâm mình gắn kết với Phật này, Phật kia, Bồ tát nọ, nhờ sự gắn kết sâu xa mật thiết như vậy, đã giúp cho tôi có được tâm bình an ở bước ban đầu. Và trải qua nhiều năm tu hành, từ độ cảm tâm trong lòng mà cuộc sống bên ngoài của tôi được thay đổi tốt đẹp theo. Những gì tôi thấy trong giấc mơ, trong thiền định, trong suy tư dần dần trở thành hiện thực.
Bước đầu tôi chỉ thấy mình đi nghe pháp ở các giảng đường, xa hơn, nghe pháp của các Bồ tát giảng. Trên bước đường tu, tuy thấy như vậy trong giấc mơ, nhưng ít nhất trong tâm thức chúng ta đã có hạt giống tốt lành rồi. Mơ thấy đi chùa, lễ Phật, nghe pháp là điều rất quý. Tôi có bạn đồng tu kể rằng trong giấc mơ ông không biết mình là thầy tu, mà lại thấy mình đi chài lưới bắt cá. Một khoảng thời gian sau, ông này trở thành người chài lưới thật. Vì túc nghiệp là chài lưới, nên tu hành, nghiệp này cứ hiện lên và ở trong tiềm thức lâu, nghiệp này trở thành hiện thực trong cuộc sống. Thưở mới tu, tôi thường mơ thấy chùa, thấy đang tu với Đại chúng, nghĩa là thế giới tiềm thức đã ghi đậm dấu ấn như vậy và xa hơn, tôi thấy trong giấc mơ, mình tụng kinh, thuyết pháp ở nhiều đạo tràng. Theo tôi, giấc mơ và cuộc sống thực tế phải gắn kết với nhau, tức giữa thế giới vô hình và thế giới vật chất hữu hình, giữa tiềm thức và hiện thực cuộc sống đã có một sự nối kết chặt chẽ; không phải ảo giác, nhưng là thật.
Tiến xa hơn nữa trên bước đường tu, hành giả Pháp Hoa nhận ra rằng đi vào cửa Phật tuy bằng pháp phương tiện, nhưng đi qua được bờ bên kia, mới thấy được thiên bá ức hóa thân Phật hiện vào tâm thức chúng ta và điều quan trọng là tất cả những hóa thân Phật lại hiện thành thiện tri thức của chúng ta trên cuộc đời này. Như Hòa thượng Thiện Trí ngồi kế bên tôi đã là thiện tri thức trong tiềm thức của tôi thì nay trong Ban Tổ chức khóa tu Một ngày an lạc, ngài cũng là thiện tri thức của tôi. Phải khẳng định rằng tu Pháp Hoa không phải là sống với cái ảo, những gì có trong tiềm thức phải có trong cuộc sống của chúng ta. 
Vào cửa Phật qua giáo pháp phương tiện và thực tập pháp phương tiện này, chúng ta nhận biết được rằng Phật có thiên bá ức hóa thân với vô số hành trạng khác nhau. Chẳng những chúng ta thấy ở Việt Nam mà cũng có thể mở rộng tầm nhìn khắp các quốc gia khác. Tùy theo sự tu hành của chúng ta đến mức độ nào thì giấc mơ cũng trải rộng như vậy. Vào cửa phương tiện thực tập để lần vào thế giới của bờ bên kia và nếu tu Bổn môn Pháp hoa, đạt đến đỉnh cao là vào thế giới Thường Tịch Quang, gọi là Bổn độ; đó là thế giới của Đức Phật Thích Ca hay của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, tức là Phật gốc.Vì vậy, trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói rằng từ ta thành Phật đến nay trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp thường ở ta bà thị hiện sanh thân trong nhiều quốc độ, thuyết pháp, giáo hóa vô số chúng sanh. 
Đến được bờ bên kia, chúng ta thấy thị hiện sanh thân Phật, thấy các hóa thân Phật cứu độ chúng sanh trong khắp pháp giới và tiến tu xa hơn nữa, chúng ta mới gặp được báo thân viên mãn của Phật Thích Ca, tức là phước đức và trí tuệ của Phật đã thành tựu trải qua suốt lộ trình Bồ tát đạo từ vô lượng kiếp. Đức Phật nói rằng: Ta tu Bồ tát đạo, cảm thành thọ mạng dài lâu, đến nay chưa hết mà còn lớn hơn nữa.
Tu hạnh Bồ tát để cảm thành thọ mạng, nghĩa là tạo thành thân phước đức trí tuệ mới là điều quan trọng đối với người tu, không phải chết là hết, nhưng càng tu thì phước đức trí tuệ càng lớn hơn. Phước đức trí tuệ của Đức Phật Thích Ca vẫn lớn lên mãi theo dòng thời gian vô tận, điều này thể hiện rõ trong Mạn đà la, ở giữa tâm có Đức Phật Lô Xá Na, bốn bên có bốn vị Phật, phía Tây có Phật Di Đà, phía Đông có Phật A Súc, phía Nam có Phật Bảo Sanh, phía Bắc có Phật Thành Tựu. Bốn vị Phật này tiêu biểu cho phước đức trí tuệ vẹn toàn của Đức Phật Lô Xá Na hiện hữu ở bốn phương. Tu Bổn môn Pháp Hoa, đi sâu vào thế giới tâm, sẽ nhận thấy được các vị Phật này. 
Trên bước đường tu, ở giai đoạn đầu, chúng ta cần học hiểu pháp Phật cho đúng. Sang giai đoạn hai, phải phát huy được đạo lực của chính mình, thấy được các thế giới Phật xung quanh chúng ta. Từ đó, dù có đọc tụng hay không đọc tụng kinh điển, nhưng tâm hành giả đã duyên được với thế giới Thật báo trang nghiêm của Đức Thích Ca, nên thường thấy chư Phật, chư Bồ tát, thường nghe pháp và thâm nhập vào đạo tràng của các Ngài. Đó chính là loại hình thế giới thứ hai là tâm thức của chính mình.
Thiết nghĩ bằng niềm tin dũng mãnh sẽ đi vào được các thế giới này và nhận ra những gì chúng ta đã nói. Bờ bên kia là thế giới tâm thức mà nơi đó, chúng ta diện kiến được một Phật cho đến nhiều Phật, vào được các thế giới Phật như Cực lạc của Phật Di Đà, hay Tịnh độ của Đức Di Lặc ở cung Trời Đâu Suất, v.v… và trở lại hiện thực cuộc sống này, chúng ta sẽ gặp được những người bạn tốt, đạo đức đến hợp tác với chúng ta trong các Phật sự. Cao hơn nữa, trên lộ trình hành Bồ tát đạo cho đến thành Phật còn có nhiều loại hình Tịnh độ khác nữa, điều này còn xa đối  với chúng ta, nên không bàn đến. Mong rằng mỗi hành giả trong khóa tu này học và thực hành Phật pháp, đều xây dựng được Tịnh độ riêng cho mình an trú để phát huy được phước đức và trí tuệ, nuôi lớn được báo thân của chính mình.
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com