Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học triết lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học triết lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Yếu Nghĩa Kinh Vô Lượng Nghĩa và Nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012 | 20:32

(Bài giảng tại trường hạ chùa Phổ Quang, Q. Tân Bình, 8-2008) 


Kinh Pháp Hoa được gọi là Viên giáo, vì bao hàm được tất cả các kinh điển mà Đức Phật đã thuyết trong suốt cuộc đời Ngài. Các pháp Phật dạy đều là phương tiện để giúp chúng ta thâm nhập thế giới Phật, được kinh Pháp Hoa ví như thuyền bè đưa người từ niềm an lạc này đến niềm an lạc khác, để sau cùng tất cả hành giả đều chứng Nhứt thiết chủng trí. Vì vậy, nếu không thực hành giáo pháp, chắc chắn đời đời kiếp kiếp ở trong Nhà lửa tam giới.


Ngoài ra, một ý khác trong kinh Pháp Hoa mà chúng ta cần lưu tâm. Trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa, Ngài nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội. Tại sao Phật phải nói kinh này trước và phải nhập tam muội này.

Vì nếu không có kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập được định Vô lượng nghĩa thì không thể nào nói kinh Pháp Hoa; đó là cốt lõi rất quan trọng. Không phải tụng kinh Pháp Hoa văn tự là trở thành hành giả Pháp Hoa, phải tu Vô lượng nghĩa và đắc định Vô lượng nghĩa mới có Pháp Hoa để tu hành.

Kinh Vô Lượng Nghĩa gồm có ba phần chính yếu: đức hạnh, trí tuệ và công đức. Vì vậy, hành giả thể hiện được yếu nghĩa của Vô Lượng Nghĩa  kinh là người có đức hạnh, có trí tuệ và sống lợi ích cho cuộc đời; nói cách khác, đó là tam thừa giáo, hay kinh Pháp Hoa xuất hiện sau tam thừa giáo : Thanh văn,  Duyên giác và Bồ tát. Phẩm Thí dụ  thứ ba của kinh Pháp Hoa nói về ba xe và Nhà lửa. Ba xe là xe dê, xe nai và xe trâu, dụ cho tam thừa giáo. Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát  nương theo ba xe, hay tam thừa giáo để ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống, mới có kinh Pháp Hoa gọi là đại bạch ngưu xa. Như vậy, sử dụng xe nào cũng được, hay tu tất cả pháp môn sai biệt của tam thừa giáo, cũng đều ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống và cuối cùng chứng Nhứt thiết chủng trí.

Tu pháp môn nào cũng được, nhưng phải chấm dứt phiền não, trần lao và nghiệp chướng; không có pháp môn nào là tốt nhất. Pháp nào thích hơp với mình là tốt; vì Phật dạy rằng chúng sinh nhiều bệnh, thầy thuốc phải có nhiều thuốc khác nhau, quan trọng ở việc chẩn đoán đúng bệnh và sử dụng đúng thuốc. Thuốc hay, nhưng dùng không đúng bệnh thì không khỏi bệnh, có khi còn tử vong.

Tìm được pháp môn thích hợp với mình thì phiền não, trần lao và nghiệp chướng phải hết. Ví dụ người vừa nghèo, vừa dốt, lại bệnh hoạn, không thể cứu nhân độ thế, giống như đi một mình không nổi mà muốn cõng người sao được. Bản thân mình tự độ không xong mà đòi độ đời thu đệ tử để tất cả cùng sống nheo nhóc, phiền não là hại mình và hại người. Người này phải đi xe dê trước, nhằm nhắc nhở các thầy phải tu pháp tiểu thừa trước, phải lo cứu mình, tự độ mình trước, lo cưu mang chi cho thêm phiền não.

Lo giải thoát cho chính mình là Phật dạy tu Thanh văn thừa, xuất gia, buông bỏ tất cả, làm sao đoạn được mối quan hệ không tốt đẹp giữa mình và thế tục, để họ không quấy rầy được cuộc đời tu hành của mình. Người ở nhà bị phiền não gia đình trói buộc và đi làm việc cũng  bị phiền não bao vây, làm cho tâm bất an; nếu cứ tiếp tục ở đó tu thì  không hết phiền não mà nghiệp chướng lại tăng.

Thực tế cho thấy các thầy còn phiền não mà Phật tử lại mang phiền não thêm trao cho. Một trăm người đến chùa thì chín mươi chín người có vấn đề. Vấn đề của chính mình chưa gỡ được, làm sao tháo gỡ vấn đề cho người. Phải nói tu hành của Thanh văn là yếm thế trốn đời. Các Tổ ngày xưa cũng vậy, phải vô núi tu, sống với hoàn cảnh vật chất đạm bạc nhất, tâm mới yên tĩnh được. Tu Thanh văn được lợi lạc như vậy, mới thực tập và thành tựu được 37 trợ đạo phẩm. Ở núi rừng vắng vẻ mới dễ quán pháp Không, vì không có người, không có việc, không ai quấy rầy, mới chứng được pháp Không, vô tác vô nguyện. Ở núi rừng thì còn gì mà mong muốn, hay đúng hơn là có muốn cũng không được. Ở đây tu, nhưng vụt nghiệp ham muốn khởi lên thì có thể leo lên xe, chạy đi tìm. Ngày xưa ở núi Thị Vải mà xuống núi, ra được đường lớn thật là xa và rất vất vả, nên lâu lắm mới phải xuống chợ mua muối thôi.

Hàng Thanh văn tu hành ở nơi thanh vắng, dễ thâm nhập pháp Không. Kinh Pháp Hoa gọi là ra khỏi Nhà lửa đến bãi đất trống; đất trống là tâm trống không, Phật gọi là tâm địa. Trước kia, mảnh đất tâm của mình rất nhiều cỏ dại, thử kiểm tra xem một ngày tâm, hay Thức mình linh hoạt, biến động vô cùng; giữ tâm yên tĩnh không đơn giản. Vì vậy phải ngồi xe dê, hay nương theo 31 trợ đạo phẩm để ra khòi Nhà lửa tam giới, đầu tiên là quán Không. Sẽ thấy tất cả mọi việc trên đời này chỉ là ảo giác thì không có gì chi phối chúng ta được; từ đó, cuộc đời này đối với chúng ta hoàn toàn vô nghĩa, chúng ta không bận tâm đến cuộc đời và cả việc sống chết của mình, là đã chạy ra khỏi Nhà lửa bằng tâm, cắt đứt tâm lo lắng, buồn phiền , hơn thua phải trái, đến được bãi đất trống.

Duyên giác đi xe nai. Nhờ có trí tuệ, mặc dù sức khỏe cũng yếu, nhưng thông minh hơn Thanh văn, nên Phật dạy Duyên giác tu pháp quán để giải thoát, không phải bỏ tất cả để thoát thân như Thanh văn. Họ chạy ra Nhà lửa, nhưng phải nhìn kỹ trên đường đi, chỗ nào có rắn rít hùm sói làm hại, hoặc có kẻ cướp thì phải tránh. Nói cách khác, Duyên giác quán biển Thức mênh mông, tầm nhìn được mở rộng, thấu suốt mọi sự việc diễn tiến từ quá khứ đến vị lai. Ngồi yên, tất cả bức tranh cuộc đời sẽ hiện ra trong tâm thức hành giả; chẳng hạn như tôi nhớ lại thuở nhỏ lúc chưa tu, cuộc sống như thế nào, cho đến xuất gia, tu học trong nước, ngoài nước và làm việc cho đến ngày nay; tất cả những cảnh sống quá khứ và hiện tại, kể cả những dự tính tương lai sẽ làm gì, tất cả hiện ra đầy đủ trong tâm thức tôi. Biển Thức rộng mênh mông thu nhiếp cả ba đời là vậy.

Đức Phật dạy người có trí tuệ nên quán sát. Gần nhất, chúng ta quán sát những kinh nghiệm sống trong hiện đời. Thí dụ trên bước đường tu, tôi hồi tưởng lại mình từ một cậu bé nhà quê đến nay đã trải qua 60 năm, phải vượt qua không biết bao nhiêu sóng gió hiểm nguy, mới ra khỏi Nhà lửa, được như ngày nay, thì không bao giờ tôi muốn, hay không dám trở lại Nhà lửa này nữa. Cuộc đời này ớn quá, phải đối đầu trước bao nhiêu việc sống chết trong gang tấc. Nói cách khác, trong biển Thức mênh mông, có những đợt sóng ngầm rất nguy hiểm sẵn sàng nhận chìm mình; đó là mới nói một đời này thôi, chưa kể nhiều kiếp trước và gặp không biết bao nhiêu người tà ác phá hại mình, ví như các loài thủy quái rất đáng kinh sợ. Nhớ lại những người mình tin tưởng rằng họ tốt, nhưng quay lại hại mình cho nên rất sợ gặp lại, nghĩa là sợ tái sinh trong Nhà lửa. 

Trong biển Thức mênh mông có những trận cuồng phong làm người ta đảo điên, mà Tô Đông Pha gọi là tám gió cuốn phăng con người; bao nhiêu cám dỗ của cuộc đời lôi cuốn, không khéo là bị nhận chìm. Thật vậy, tôi nhìn lại những bạn đồng tu bị gió nghiệp cuốn trôi; người thì bị tiền tài, người bị danh lợi, hoặc bị tình cảm lôi kéo, hoàn tục, kiểm lại không còn được mấy người tu. Một bạn đồng tu cùng tuổi với tôi, cùng học ở Phật học đường Nam Việt, thật là tội nghiệp cho ông này, đi cúng đám ma ở nhà đàn bà góa chồng, cúng đến 49 ngày thì ông 1ạy Hòa thượng Thiện Hòa xin về với bà nọ.

Khi nghiệp ái khởi lên, tình cảm thế tục sinh ra, phải hoàn tục; nhưng lọt vào cái bẫy của cuộc đời rồi, mọi việc không đẹp như ông này lầm tưởng; quả là nguy hiểm vô cùng. Một ông thầy khác làm chúng trưởng của tôi ở Phật học đường Nam Việt, được Hòa thượng Thiện Hòa giao trông coi phòng phát hành kinh sách chùa Ấn Quang. Làm một lúc, ông trở thành nhà kinh doanh có chút tiền thì liền có người để ý ông, hay đúng hơn là ngắm túi bạc của ông. Một hôm, ông ra đời với họ và mỉa mai thay, túi tiền ông đến lúc sạch bách thì liền bị họ bỏ rơi, cuối cùng ông phải đi vác gạo mướn ở chợ An Đông, rồi bị ho lao chết; kết thúc cuộc đời thật là thê thảm.

Sống trong biển Thức, người bị sóng ngầm, người bị cuồng phong, người bị thú dữ xé nát. Vì vậy, Phật dạy người tu Duyên giác thừa phải quán sát cuộc đời thật chính xác nhớ rõ trong kiếp luân hồi sinh tử, đã bị vùi dập khổ đau như thế nào để dứt khoát không rơi trở lại Nhà lửa tam giới.

Chỉ có hàng Bồ tát được ví như người đi xe trâu có khả năng kéo nặng. Nghĩa là Bồ tát vừa thông minh, vừa khỏe mạnh, vừa có phước đức, nên tự thân đã thoát được phiền não sinh tử lại vừa có khả năng cứu đời, cầm đuốc soi đường để dìu dắt người khác cùng đi với mình ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến bãi đất trống.

Tóm lại, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát với ba hoàn cảnh khác nhau, nên phải tu các pháp khác nhạu theo tam thừa giáo; nhưng cuối cùng, ba hạng đệ tử này đều được giải thoát giống nhau.

Đạo đức, trí tuệ và công đức, ba điều cốt lõi này trong kinh Vô Lượng Nghĩa đã bao gồm tất cả những gì Phật thuyết pháp trong suốt 49 năm, nhằm đưa ba hạng người, người bình thường (Thanh văn), người thông minh (Duyên giác) và Bồ tát luôn cứu nhân độ thế, ra khỏi sinh tử luân hồi của tam giới.

Kinh Pháp Hoa là điểm hội tụ của tất cả các pháp tu khác nhau, nhưng giải thoát là một. Được giải thoát, tâm trống không, rồi cứu nhân độ thế bao nhiêu cũng không bị vướng mắc. Phật dạy rằng Bổ tát độ vô số chúng sinh, nhưng không thấy có chúng sinh nào bị độ, mới là độ tận chúng sinh. Còn tự cho rằng mình tu Bồ tát hạnh, mà bố thí cái gì cũng ghi vào sổ sách, nhớ hoài; nếu người nhận không nhớ ơn là khó chịu liền; đó là Bồ tát giả danh.

Tất cả các kinh điển Phật nói, từ A Hàm, Phương Đẳng, đến Bát Nhã, đều được gộp lại trong kinh Pháp Hoa. Kinh A Hàm và Phương Đẳng là ba xe, hay tam thừa giáo. Kinh Bát Nhã ví cho mảnh đất trống, phải quán Không: nhân Không, ngã Không và tất cánh Không. Nghĩa là quán tứ đại ngũ uẩn không phải là mình, nên không chấp thân này là mình, không chấp vật sở hữu là của mình, mọi thứ đều hoàn toàn Không, đạt đến tất cánh Không.

Bồ tát Nguyệt Quang quán pháp Không như vậy mà đắc đạo quả Bồ tát. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả sở đắc của Bồ tát Nguyệt Quang bằng bài kệ sau:

Bồ tát Thanh Lương Nguyệt
Thường du tất cánh Không
Chúng sanh tâm cấu tịnh
Bồ tát ảnh hiện trung

Nghĩa là tâm chúng sinh thanh tịnh, hay nhơ bẩn đến mấy, Bồ tát cũng hiện thân vô tâm họ để cứu độ, mà không bị dính mắc. Còn độ người mà mình bị dính vô phiền não, nghiệp của họ, không phải là Bồ tát.

Nói chung, một đời giáo hóa của Phật giảng dạy tam thừa giáo, kết thúc lại gọi là kinh Vô Lượng Nghĩa. Và trước khi nói kinh Pháp Hoa, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Theo Thiên Thai Trí Giả, Phật nói kinh Hoa Nghiêm trước rồi đến kinh A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã và sau cùng nói Niết bàn, Pháp Hoa. Nhưng trong kinh Pháp Hoa, chỉ ghi một câu là trước khi nói Pháp Hoa, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Như vậy, chúng ta có        thể hiểu rằng kinh A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Niết Bàn tiêu biểu cho kinh Vô lượng nghĩa.        

Nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong, Phật nhập định Vô lượng nghĩa, vì Phật nói Vô lượng nghĩa thì phải thực hành Vô lượng nghĩa cho mọi người thấy. Phật chỉ nói những gì Ngài đã làm và Ngài làm những gì đã nói; cho nên Ngài có tôn danh là bậc Minh Hạnh túc.        

Vì vậy, nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội có ý nghĩa quan trọng. Chưa nhập tam muội này cũng chưa có kinh Pháp Hoa. Nhập Vô Lượng Nghĩa xứ tam muội là ngồi yên mà ba        đời nhân quả hiện ra trong tâm chúng ta để tu Pháp Hoa. Ví dụ, tôi tập trung tư tưởng, tất cả cuộc đời quá khứ hiện lên, cho tôi kinh nghiệm tốt xấu và vẽ ra hướng tương lai, tôi sẽ làm gì cho tốt.        

Tu hành mà không nhập định, không tập trung tư tưởng được thì cái thấy không chính xác. Phật dạy các Tỳ kheo phải thường sống trong chánh định; vì sống trong tạp niệm, nghĩa là sống với biển Thức thì không có Phật, không đến với Phật được, còn sống với cuộc đời thì càng cách xa Phật hơn nữa.

Định, tiếng Phạn là Samadhi, Tàu dịch là tam ma địa, hay tam muội. Thầy Tỳ kheo an trú trong chánh định thì thế giới Phật hiện ra. Người tu hơn nhau ở trụ định. Tỳ kheo dở nhất là bị cuộc đời lôi cuốn, thứ hai là tâm tán loạn. Tỳ kheo được kính trọng thường trụ định, ít nói, hoặc niệm Phật, tâm 1ắng yên, mới có khả năng thay Phật độ đời. Trong các pháp sư nổi tiếng thời Phật tại thế, có Mã Thắng Tỳ kheo được Phật ca ngợi. Vị này trụ định, không nói, yên lặng vào làng khất thực, nhưng Xá Lợi Phất thấy tướng giải thoát của Ngài hền phát tâm và đắc quả Tu đà hoàn, đi theo Ngài về gặp Phật thì đắc quả A la hán. Từ đó về sau, Phật dạy các Tỳ kheo phải trụ định, trừ khi đến Phật nghe pháp, thời gian còn lại ngồi trong hang đá, hoặc dưới gốc cây để nhập định. Thuyết kinh quan trọng, nhưng trụ định quan trọng hơn, vì độ được nhiều người, tác động cho họ giải thoát. Còn thuyết pháp hay, nhưng chưa chắc người nghe được giải thoát.

Đức Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội rồi, trời mưa hoa Mạn đà la, Mạn thù sa. Hoa Mạn đà la là hoa Trời, mà Trời tiêu biểu cho tâm an vui. Chư Thiên lúc nào cũng vui, cũng trẻ đẹp, không biết buồn; khi nào biết buồn là chư Thiên sắp bị đọa.

Khi Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội, trời mưa hoa Mạn đà la, nghĩa là làm cho đại chúng an vui. Nhận thức ý nghĩa này, khi tập họp quần chúng, tất cả được an lạc là Phật pháp hiện ra, là điềm lành; không phải tập họp chúng để tranh cãi, để buôn bán. Hoặc tập họp chúng đến chùa để vui chơi theo thế gian, nếu có thì tạm coi là phương tiện mà thôi; còn cái vui của đạo phải khác, vui trong yên tĩnh. Người thích cảnh sống yên tĩnh của Sa môn, vui trong khổ hạnh, vui trong Thiền định mới tu được; nhưng cảm thấy chùa vắng vẻ buồn, từng nơi ồn náo để vui, sớm muộn gì người đó cũng hoàn tục.

Nhập định của Đức Phật ảnh hưởng cho đại chúng được an vui, tiêu biểu bằng hoa Mạn đà la, thể hiện tinh thần Pháp Hoa, nhứt hoa chúng quả tu Thanh văn là nhứt hoa nhứt quả; một mình tôi tu, một mình tôi nhập định, một mình tôi an vui, các thầy khác không biết. Tu Thanh văn không ảnh hưởng tốt cho người khác được Phật ví như thủy tinh không có công năng lóng nước trong như ma ni bảo châu. Thanh văn thanh tịnh, nhưng không làm cho chúng thanh tịnh. Thực tế có nhiều vị chân tu, đạo đức cao, nhưng không ảnh hưởng cho ai cả.

Hoa Mạn Thù Sa nghĩa là trong sạch, tinh khiết. Phật nhập định, có hoa Mạn đà la và Mạn thù sa rơi xuống nhằm diễn tả tâm trạng của đại chúng được lực Phật tác động cảm thấy an vui và thanh tịnh giải thoát, càng vui thì tâm hành giả càng thanh tịnh và thâm nhập thế giới Phật.

Vui trong tham dục,
vui rồi khổ.
Khổ để tu hành,
khổ hóa vui;.

Người đời thấy người tự ăn chay, lễ sám, thiền định, cho rằng cực khổ. Họ nào biết được cái vui của đạo đưa chúng ta vào con đường thanh tịnh, giải thoát, con đường vui vô tận. Vua Trần Thái Tông thưởng thức được nguồn vui vô hạn này khi học đạo với Phù Vân quốc sư trên non Yên Tử, đã thốt lên rằng:

Mùi Thiền trong ấy nào ai biết
Thức suốt đêm trường vui với Tăng.

Còn thú vui của thế gian do cuộc đời đưa cho sẽ dẫn vào con đường sa đọa, vì sau cuộc vui là nỗi khổ niềm đau ập đến.

Sau khi hoa Mạn đà la và Mạn thù sa rơi xuống, đại chúng thấy bạch hào tướng của Phật chiếu suốt 18.000 thế giới ở phương Đông. Điều này tiêu biểu cho nhập định phải có trí tuệ Thầy Tỳ kheo tu giới, tâm thanh tịnh, tập trung tư tưởng, mọi việc tự sáng lên, là định sanh tuệ, thấy biết những điều  mà bình thường không biết Tu định, ngày nay gọi là tu Thiền. Thiền sư quan sát Thiền sinh để biết họ tu đúng hay sai. Những nguời ngồi Thiền ngủ gục thuộc hàng sơ tâm, không tập trung tư tưởng được, nên dễ rơi vào hôn trầm. Cần dạy họ cách tu để khắc phục. Nhớ lại lúc còn ngồi ghế nhà trường ở Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng Thiện Hòa giảng bài xong thì tẩt cả Tăng sinh đều ngủ. Ngủ vì bài học không có sức thu hút. Nói đúng hơn, Phật đạo dài xa, nên chúng ta không cảm được, không hiểu được, mới dễ ngủ. Nghe những gì mình ưa thích, liền có sức thu hút, tập trung được. Vì vậy mà ngày nay, người đời bày ra nhiều trò chơi đề thu hút người, mà người ta càng laọ theo các trò chơi càng tạo tội lỗi. Tổ Quy Sơn từ xa xưa đã nói ý này: Vọng tình dị tập. Chí đạo nan văn; nghĩa là cám dỗ của cuộc đời dễ lôi cuốn người ta theo, còn học đạo thì khó lắm. Và nghe pháp mà không ngủ, vui được thì Tổ Quy Sơn cũng đã nói: Bạt tực siêu quần. Vạn trung vô nhất; đối với việc học đạo, muôn người chưa được một người. Hòa thượng Thiện Hoa thường nói rằng: Trứng cá, bông xoài. Cây xoài trổ ra rất nhiều bông, nhưng kết thành trái thì không nhiều. Đến với đạo và sống được trong đạo khó lắm, chúng ta phải nỗ lực.

Định lực, tức sức tập trung của Phật cao, làm cho đại chúng tập trung theo, là thuyết pháp trong định. Đức Phật phóng tạo hào quang đi suốt 18.000 thế giới, khiến tâm chúng thanh tịnh, cũng lôi theo đến 18.000 thế giới đó tạo thành cảnh giới thanh tịnh mầu nhiệm, hay thế giới  của kinh Pháp Hoa, là thế giới của Tâm.   

Trong ánh quang của Phật, đại chúng thấy có Phật ra đời, Phật thuyết pháp giáo hóa. Điều này nghĩa là gì. Trước kia, các Tỳ kheo thấy Phật là thái tử tu thành Phật; nhưng nay thấy Phật trước khi sanh ra ở Ta bà. Ngài đã là Phật. Họ nghĩ Phật tu thành Phật được thì họ cũng thành Phật, nhưng tu hoài mà sao không ai thành Phật. Vì vậy nương theo ánh quang Phật, nhận ra Phật hiện thân lại cuộc đời hoàn toàn khác thân phận của chúng ta. Trong ánh quang Phật, hay là nương trí tuệ Phật, thấy rõ thân phận của tất cả chúng sinh bị trói buộc trong lục đạo tử sanh, từ đĩa ngục A tỳ cho đến trời Hữu đảnh, đã trải qua biết bao nhiêu kiếp luân hồi, chịu khổ não vô lượng. Rõ ràng chúng ta hay tất cả chúng sinh khác Phật xa, cho nên tu mãi mà không thành Phật, hay còn lâu mới thành Phật, Đức Phật tu sáu năm thành Phật, chúng ta tu bao nhiêu lâu rồi và thành gì. Cảm nhận yếu nghĩa này, chúng ta ca ngợi các vị tôn túc rằng:

Từ chơn tánh hiện thân Đại sĩ
Giữa hồng trần chẳng nhiễm bụi trần

Các vị Tổ sư đạo cao đức trọng là Bồ tát hiện thân lại thế gian này, nên cuộc đời tu hàng của các Ngài khác hẳn phàm nhân mới tu, cái gì cũng tham đắm, không bị cá mập nuốt thì cũng bị sóng lớn nhận chìm là phải thôi.

Trong mùa an cư kiết hạ, quý vị được phước duyên tập trung tu hành ở trường hạ của Thành hội Phật giáo thành phồ Hồ Chí Minh, cầu mong tất cả nỗ lực sống trong pháp Phật, để không phí phạm đời tu của mình, không có phụ công đức giáo dưỡng của chư tôn đức, không phụ lòng tin của đàn na tín thí, sớm được thanh tịnh giải thoát, xứng đáng là trường tử của Như Lai, là phước điền của chúng sinh.
HT. Thích Trí Quảng

Ý nghĩa Phật thành đạo

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012 | 02:25


Bốn sự kiện lớn trong cuộc đời của Đức Phật Thích Ca là Đản sanh, thành đạo, thuyết pháp và Niết bàn. Đản sanh là Phật sanh ra trên cuộc đời này giống như mọi người, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy khác. Theo truyền thuyết, Đức Phật sanh ở hông bên hữu của hoàng hậu Ma Gia và bước đi trên bảy hoa sen, rồi một tay chỉ trời, một tay chỉ đất mà nói rằng thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Có người không đồng tình với hiện tượng này, cho rằng nếu Phật sanh như vậy thì Ngài không phải là một hài nhi. Tuy nhiên, điều này cũng xác định rằng Đức Phật không phải là hài nhi giống như tất cả mọi người và đó là cái nhìn về tôn giáo, về triết học, về siêu hình để nhận thức về Đức Thế Tôn.


Đối với những người chấp nhận hiện tượng Phật Đản sanh như vậy là có thật thì bảo rằng họ thấy bằng niềm tin, thấy bằng trực giác, thấy bằng trí tuệ. Cũng là con người, nhưng nếu nhìn bằng trí tuệ thì phải thấy khác, hoặc bằng trực giác cho chúng ta biết được người nào đó tốt hay xấu mà không cần phải phân tích.
Thiết nghĩ chúng ta phải thấy bằng niềm tin, bằng trực giác mới thấy được Đức Phật ra đời với hiện tượng siêu nhiên; còn thấy theo lịch sử, thấy bằng mắt thường sẽ thấy Phật là con người bình thường.

Tuy Phật là người như mọi người, nhưng bên trong Ngài tiềm ẩn tính cách phi thường; cho nên tiên A Tư Đà thấy thái tử Sĩ Đạt Ta có 32 tướng tốt, thấy trí tuệ của Ngài vượt hơn mọi người và thấy phước đức phi thường của Ngài, mới tiên đoán rằng nếu thái tử không đi tu sẽ là Chuyển luân Thánh vương, nếu tu sẽ là Phật. Thấy theo A Tư Đà là cái thấy triết học. Chúng ta là Phật tử chắc chắn thấy Phật bằng niềm tin, bằng trực giác, bằng trí tuệ mới đúng. Và quả thật A Tư Đà đã thấy đúng, tuy thái tử còn nhỏ, nhưng rất thông minh, nên Ngài học rất nhanh và thông thạo tất cả các ngôn ngữ của Ấn Độ thời bấy giờ. Chẳng những giỏi văn mà thái tử còn tinh thông võ thuật. Ngài mới 16 tuổi, văn võ toàn tài. Trong con người thái tử toát ra một lực vô hình khiến người trông thấy phải kính phục và tất cả những thứ cám dỗ của thế gian không thuyết phục được Ngài. Điều này gợi cho chúng ta thấy xa hơn rằng Ngài phải là Phật.

Tất cả mọi người đều luôn mơ ước phú quý danh vọng, trong khi thái tử Sĩ Đạt Ta có đầy đủ những thứ này, nhưng Ngài không hề để tâm đến nó, mà Ngài chỉ để tâm đến việc Ta từ đâu tới đây để làm gì. Cuối cùng trong đêm thành đạo, Ngài phát hiện rằng Ngài đến thế giới này để cứu độ chúng sinh, Ngài xuất hiện trên cuộc đời này vì lòng bi nguyện của một vị Bồ tát nhứt sanh bổ xứ. Vì vậy, trong tận nguồn tâm, Ngài nghe được những lời nhắc nhở kỳ diệu của chư Thiên rằng:

Ngày nay tuổi đã lớn rồi
Sao không nhớ lại những lời nguyện xưa
Xin tu chứng đạo chơn thừa
Trần gian cảnh tục say sưa làm gì
Ngày còn lần lựa thế thì
Chúng sanh ngu dại ai vì bảo ban
Mau mau mở lối Niết bàn
Khêu đèn trí tuệ, vén màn vô minh

Bài thơ này tôi nghe Hòa thượng Huyền Vi đọc từ 40 năm trước mà tôi vẫn nhớ, vì tôi hình dung ra được sự việc Phật nghe chư Thiên nhắc nhở bằng tâm và âm thanh này cũng từ thiên nhiên của người có tâm hồn lớn mới nghe được. Nếu chúng ta không có tâm hồn tôn giáo thì không thể nghe được âm thanh kỳ diệu.

Đức Phật nghe được âm thanh của chư Thiên mới bỏ ngai vàng mà đi tìm đạo và chỉ trong 6 năm tu hành miên mật, Ngài thành Phật. Hôm nay, chúng ta bàn về sự thành đạo, mỗi người sẽ có một cái nhìn riêng để thấy được sự thành đạo của Đức Phật, từ đó cho mình kinh nghiệm trên bước đường tu học.

Lịch sử ghi rằng Đức Phật Đản sanh, thành đạo và Niết bàn vào cùng một ngày trăng tròn tháng Vesak, gọi là Tam hợp. Nhưng theo truyền thống Phật giáo Bắc tông thì Đức Phật Đản sanh ngày mùng 8 tháng 4, Đức Phật xuất gia ngày mùng 8 tháng 2, Đức Phật thành đạo ngày mùng 8 tháng 12 và Ngài Niết bàn ngày 15 tháng 2. Nói cách khác, đây là lịch sử tâm linh.

Chúng ta có lịch sử hiện thực của loài người và cũng có lịch sử tâm linh của những người có đời sống lý tưởng. Đôi khi người ta tranh cãi về lịch sử thế này thế kia, nhưng tôi không thắc mắc điều đó, vì tôi thấy bằng lịch sử tâm linh. Chúng ta cũng công nhận Đức Phật thành đạo ngày 15 tháng 4 theo lịch sử, nhưng chư Tổ Bắc tông thấy Phật thành đạo ngày mùng 8 tháng 12, cho nên chúng ta tin và theo lý này.

Tôi tu Pháp Hoa, thực tập tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày 17 tháng 11 là ngày vía Đức Phật Di Đà, cho đến ngày mùng 8 tháng 12 là ngày thành đạo của Đức Phật Thích Ca. Một số sư Nam tông nói rằng làm gì có ngày 17 tháng 11 là ngày thành đạo của Phật Di Đà. Đương nhiên trên mặt lịch sử thì không có Phật Di Đà và không có ngày 17 tháng 11. Nhưng về mặt tâm linh, chúng ta thấy có Phật Di Đà và có ngày tu chứng của Ngài. Chúng ta không tranh cãi điều này, vì kinh Pháp Hoa đã nói rằng có người thấy Phật, có người không thấy Phật. Điển hình như Xá Lợi Phất vừa thấy Phật thì sụp lạy và liền đắc quả A la hán; trong khi bà già ăn xin bám theo Phật ngày này qua ngày kia, nhưng bà chẳng hề thấy Phật đắc đạo, bà chỉ thấy Phật là một người bình thường mà thôi.

Phật giáo Đại thừa thấy Phật bằng niềm tin. Niềm tin là căn lành. Kế đến thấy Phật bằng trực giác và cuối cùng thấy Phật bằng trí tuệ là thành đạo.

Không có niềm tin không thấy đạo được. Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm rằng niềm tin là mẹ sanh ra tất cả các công đức lành. Chúng ta có niềm tin vì chúng ta có căn lành; nói cách khác, đời trước chúng ta tu rồi, cho nên sanh đời này, chúng ta còn nhớ man mán, mới thôi thúc chúng ta tìm đạo. Không có cảm nhận này không tu được. Thật vậy, chúng ta sống trên cuộc đời này, nhưng thấy cuộc đời này không quan trọng và thường tự vấn lòng rằng tại sao mình lại hiện hữu ở đây và chết mình về đâu. Người có suy nghĩ thường nhớ về cội nguồn của mình và chính điều đó thúc giục chúng ta đi tìm cội nguồn, đi tìm sự sống bất tử. Đức Phật cũng vậy, chẳng lẽ Ngài cũng như tất cả mọi người sanh trong khổ đau và chết hay sao, phải có cái gì bất tử chứ:

Sáu năm tìm đạo chốn  rừng già
Khổ hạnh ai bằng Đức  Thích Ca
Chim hót trên vai, sương phủ áo
Hưu kề dưới gối, tuyết đơm hoa
Thử hỏi ai tìm chân lý ấy
Bên bờ sông giác Đức Thích Ca

Chính vì có niềm tin bên trong thôi thúc mới dẫn chúng ta đi tìm  đạo. Thuở nhỏ, tôi mới 12 tuổi mà đã đi từ chùa này sang chùa khác, đi không biết bao nhiêu chùa, nhưng có cảm giác không phải là chỗ mình muốn tới. Do niềm tin dẫn tôi đi và nhờ nhân duyên căn lành, tôi gặp được thiện tri thức khai ngộ. Thiện tri thức là người dẫn đường. Tôi nghe thân phụ kể rằng lúc tôi 3 tuổi, có một Hòa thượng đến đốt linh phù và đưa nước bảo tôi uống, rồi nói rằng sau này tôi sẽ đi tu. Khi lớn lên, tôi xuất gia, gặp một Hòa thượng khác cũng rất lạ. Vị này thường xuất hiện để chỉ lối đưa đường cho tôi tìm đạo. Gặp Ngài ở Đức Hòa, nói rằng chú nên về chùa Phước Tường ở Thủ Đức và khi gặp ở Phước Tường, Ngài lại bảo tôi ra chùa Huê Nghiêm. Khi tôi ở Huê Nghiêm, Ngài lại dạy tôi nên về chùa An Quang học. Đó là điều kỳ diệu trong đời tôi đã có thiện tri thức dắt dẫn. Thiết nghĩ trên bước đường tu mà không có thiện tri thức khai ngộ thì dễ bị lạc. Một số bạn tôi không được thiện tri thức chỉ dạy, nhưng lại gặp người dụ dỗ chỉ lối đi vào đường tà.

Chúng ta ít nhất cũng thấy Đức Phật có hai thiện tri thức. Vị đầu  tiên là Kamala dạy Ngài đạt đến đỉnh cao của đời sống tâm linh là tứ Thiền. Vị thứ hai là Uất Đầu Lam Phất dẫn Ngài vào tứ định, tức thế giới tâm linh mở ra bao  la. Và từ đây, Phật mới tự đi tìm chân lý ở cội Bồ đề.

Chúng ta đọc lịch sử dễ ngộ nhận rằng Phật học đạo với nhiều  người, nhưng không đắc đạo và khi Ngài đến Bồ đề, tự Ngài đắc đạo. Tôi không nghĩ như vậy. Phải có Hộ pháp thiện thần và chư Phật phóng quang gia hộ, thôi thúc, không phải tự một mình Ngài làm được. Theo Nam tông, Phật một mình đắc đạo ở đỉnh cao; nhưng theo tinh thần Đại thừa có vô số Phật gia bị cho Phật Thích Ca. Phật Thích Ca làm duyên cho chư Phật mười phương và ngược lại, chư Phật mười phương hộ niệm cho Phật Thích Ca. Có một lực tương quan tương duyên vô hình mật thiết giữa Phật Thích Ca và chư Phật mười phương, điều này rất quan trọng. Đương nhiên nội lực của Phật Thích Ca là chính yếu, nhưng cũng cần có sự trợ duyên bên ngoài của thiện tri thức để làm cho tâm Ngài vững mạnh hơn, đi xa hơn.

Đức Phật không ngồi một mình ở Bồ đề đạo tràng, theo Đại thừa còn có Thiên long bát bộ hộ trì. Chúng ta tu như thế này mà còn có Hộ pháp thiện thần che chở, huống chi Phật Thích Ca mà lại đơn độc một mình ở Bồ đề thì vô lý quá. Bằng tâm trạng của riêng tôi, tôi nhìn về Phật, thấy rằng tôi trì kinh trong đêm thanh vắng cũng cảm nhận có ma quỷ đến nghe, có Hộ pháp và Phật hộ niệm mới thành tựu Phật sự. Nhưng khi tôi không có cảm giác có Bồ tát hợp lực, có Phật hộ niệm, tôi không làm, vì chắc chắn sẽ thất bại. Còn khi niềm tin cho tôi thấy có Phật hộ niệm, có Hộ pháp và Bồ tát gia hộ, tôi vượt qua khó khăn một cách nhẹ nhàng, không cần đối phó. Tôi còn được như vậy, chẳng lẽ Phật có một mình hay sao.

Vì thấy Phật có một mình, cho nên ma quân và ma nữ mới xuất hiện; nhưng Phật vẫn ngồi làm thinh, yên lặng, không đối phó, nhưng ma tiêu tan. Ai đối phó, ai làm ma tiêu tan? Tôi rút kinh nghiệm theo Phật, ít nghĩ mình phải đối phó. Ta theo Phật, một là ta làm không được, vì thiếu đức; hai là ta đi trước một bước, tức làm chưa đúng thời. Còn đúng thời thì được Phật bổ xứ, nhất định làm được, thanh thản vượt qua chướng ngại.

Vì vậy, tôi tin Phật một mình, nhưng chung quanh Ngài có chư Phật, chư Bồ tát và Thiên long bát bộ Hộ pháp thiện thần, thì tất cả thế lực ma chướng tự tan. Sở dĩ có hiện tượng này gợn lên trong lòng Phật, vì khi mang xác thân vào, dù là Bồ tát do nguyện sanh, nhưng mang thân tứ đại ngũ uẩn do cha mẹ ban cho và phải chịu những gì cuộc đời gán cho, nên phải bị  sự chi phối. Vì vậy, ít nhiều những thứ này còn tồn đọng trong tiềm thức Ngài, cho nên trong 49 ngày ngồi ở cội Bồ đề, những tồn đọng khi ẩn thì trí tuệ sanh, lúc hiện thì trí tuệ bị che mờ. Cho đến khi nghiệp xóa sạch, mới thành đạo, Ngài mới thấy tất cả quá khứ của mình và của chúng sanh.

Đầu tiên, Phật thấy quá trình hành Bồ tát đạo từ vô số kiếp cho đến ngày nay và Ngài cũng thấy cả đối tác mà Ngài tiếp cận là những người đã từng gặp trong quá khứ, thì vở kịch này cũng diễn ra trong hiện tại, gọi  là Phật chứng Túc mạng minh thì những người quá khứ và hiện tại là một. Nếu quá khứ người đã chống đối ta, hiện tại họ cũng tiếp tục chống. Biết như vậy, ta mới hóa giải nghiệp duyên quá khứ.

Theo kinh nghiệm tôi, những người tốt với ta hôm nay là họ đã tốt với ta trong quá khứ, chúng ta phải giữ gìn cái tốt này, đừng để mất. Họ tốt, vì nhân tốt của ta đã làm trong quá khứ; cho nên ta phải tốt hơn. Nói cho dễ hiểu, người thiếu nợ chúng ta trong kiếp quá khứ, nay gặp lại trong hiện tại, họ sẽ trả nợ chúng ta. Nếu chúng ta nhận là ơn đền nghĩa trả rồi thì nợ hết; nhưng nếu nhận sự trả ơn này đầy đủ, mà còn đòi thêm thì đương nhiên họ sẽ không tốt với ta nữa. Đối với tôi, nếu họ nợ thì nên giữ nguyên cái nợ này của họ, để làm duyên tốt mà tăng thêm quyến thuộc Bồ đề cho mình, chứ đừng đòi họ trả.

Đức Phật nói rằng trong vô số kiếp, Ngài đã xả thân hành Bồ tát đạo, không có một chúng sinh nào mà Ngài không cứu độ. Chúng ta cũng phải như vậy, đã có được cái nhân tốt của quá khứ thì phải nhân cái tốt này mà tạo thành cái tốt trong tương lai.

Người chống đối ta trong kiếp này cũng vậy, là họ đã từng chống ta trong quá khứ và chúng ta cũng biết thủ đoạn của họ. Vì vậy, chúng ta vô  hiệu hóa sự chống đối và kế tiếp là chuyển đổi sự chống đối thành công đức. Vô hiệu hóa bằng cách nào? Biết rằng họ sẽ nói xấu, chúng ta không cần đính chính. Giả sử ta vào làng khất thực, ác ma biết và tới trước nói rằng ta sẽ đến xin tiền, thì ta đừng xin tiền là vô hiệu hóa lời nói xấu của họ. Còn ta xin tiền thì trúng kế của ác ma rồi. Tốt hơn nữa là ta chuyển thành công đức, bắt chước Di Lặc Bồ tát. Nếu họ nói ta đến lạc quyên xin tiền thì ta đến đó bố thí, nghĩa là nhân cơ hội này để chúng ta tạo công đức. Vì vậy, kinh Bảo Tích dạy rằng khi ác ma nói sai, Bồ tát Văn Thù để ác ma tự nói lại, không đính chính.
Nhờ Thiên nhãn minh, Phật thấy được việc làm trong hiện tại. Kinh Nguyên thủy chỉ nhắc đơn giản rằng Đức Phật không thất bại trong việc truyền giáo, vì ban ngày Phật thuyết pháp cho loài người, đêm đến Ngài thuyết pháp cho chư Thiên và Ngài nhập định để biết nơi nào sẽ đi giáo hóa sáng hôm sau.
Phật chứng Túc mạng minh, thấy rõ mọi việc trong quá khứ; chứng Thiên nhãn minh thấy biết việc hiện tại và chứng Lậu tận minh thấy chính xác mọi sự việc trong tương lai.

Đức Phật thành đạo và đi giáo hóa trong suốt 49 năm, Ngài gặp nhiều việc khó khăn, nhưng vượt qua một cách nhẹ nhàng. Đến khi Phật nhập Niết bàn, tất cả mọi loài, mọi người từ vua chúa cho đến thường dân đều kính trọng tiếc thương. Vua A Xà Thế làm lễ trà tỳ và phân chia xá lợi Phật cho các vua của vùng ngũ hà.

Thi sĩ Trần Đới nghĩ về Phật, cảm tác bài thơ “Tiếng Ca Lăng” rất hay để tặng tôi từ 20 năm trước, xin chia sẻ cùng tất cả quý vị:

Tiếng Ca Lăng tưng bừng trong nắng
Hương Sa La lẳng lặng qua rừng
Người nằm tỉnh giấc phù vân
Cởi muôn ngọn lửa dương trần ra đi
Vàng cốt cách ngọc về Xá lợi
Khắp trời người quỳ dưới đài sen
Chim trời cá nước vẫn quen
Giữa lòng pháp thị tình xuyên đôi bờ
Giọt lệ trắng thành thơ bạch ngọc
Giọt nắng vàng xuống đất hồi sinh
Trùng trùng Phật bảo lung linh
Bay về thắp cõi vô minh ới người
Nắng Ấn Độ qua trời Bách Việt
Vượt qua lòng nhỏ hẹp chia ly
Đất về đất cũng đang đi
Người trên trái đất nói gì với nhau
Phật tức tâm tâm vào ngộ Phật
Cửa không cài cửa pháp vô môn
Người về quảy trái đất luôn
Bước vào tịnh thổ bình an đời đời.

HT. Thích Trí Quảng


Phật giáo, Triết lý sống thời đại


Ngày nay, nói đến Phật giáo, người ta thường xem như một tôn giáo nặng phần cúng bái, cầu nguyện. Thiết nghĩ việc cúng lễ, cầu nguyện là điều đương nhiên không thể thiếu đối với tôn giáo.
Tuy nhiên, thực chất của đạo Phật đặt nặng vấn đề tu hành hơn; vì vậy cầu nguyện, lễ bái cũng là một trong những phương pháp tu hành, không phải là cứu cánh. Thật vậy, Ðức Phật khẳng định Ngài đưa ra vô số phương tiện, thường được tiêu biểu bằng con số 84.000 pháp tu, để giúp mọi người đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát.

Pháp phương tiện Ðức Phật chỉ dạy nhiều như vậy, vì tùy hoàn cảnh, khả năng của từng người khác nhau; tùy phong tục, tập quán, luật lệ thay đổi theo từng địa phương và tùy thời điểm mà Ngài hướng dẫn pháp tương ưng thích hợp cho người chấp nhận được.

Một cách khách quan, chúng ta thấy rõ nhu cầu tín ngưỡng là đòi hỏi thiết yếu, không thể thiếu được trong cuộc sống con người ở thời Ðức Phật. Vì vậy, với trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, Ngài chấp nhận thực tại khách quan ấy; nhưng thực sự, Ðức Phật ít nói đến việc cầu nguyện, mà thường đề cập đến vấn đề tu tập để làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên : đó là mục tiêu chính trong việc giáo hóa của Ðức Phật.

Ðiều này thể hiện rõ nét trong hầu hết các kinh điển, Ðức Phật thường hướng dẫn người thực hiện 3 việc: làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làm chủ thiên nhiên; nói khác, Ngài khẳng định con người không lệ thuộc thần linh, nhưng buộc thần linh phải phục vụ cho người.

Trước nhất, Ðức Phật dạy rằng mọi người đều có khả năng thành Phật, tức đạt đỉnh cao của tri thức và việc làm siêu việt, nhưng chúng ta tự đánh mất khả năng cao quý ấy, kinh gọi là đánh mất bản tâm. Tự mình đánh mất khả năng làm chủ bản thân và tự van xin cầu nguyện, đem trao vận mạng cho thế lực thần quyền quyết định giùm, mà không hề biết họ là ai. Từ đó, con người tưởng tượng ra đủ các thứ thần có quyền năng chi phối cuộc sống họ, cần phải cầu nguyện: từ thần sông, thần núi, thần cây..., thậm chí đến thần vôi, thần bếp. Vì không thấy được khả năng vô tận của mình, nên cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên bao la, sợ hãi thế lực siêu nhiên đè bẹp, nên tự hạ thấp mình, cầu nguyện các thế lực khác. Và thực tế cho thấy các thế lực đó chẳng giúp được gì cho con người, nên không mấy người cầu nguyện được kết quả.

Phải chăng người cầu nguyện có kết quả là nhờ họ biết kết hợp việc cầu nguyện với sự phát huy khả năng mình. Trên tinh thần ấy, Phật giáo chủ trương có vấn đề tha lực chi phối ta, nhưng bản thân ta cũng cần hướng về đối tượng để tự phát huy khả năng. Ðiển hình như người tu pháp môn Tịnh độ, nương vào Ðức Phật Di Ðà ở cảnh giới Tây phương. Phật A Di Ðà tiêu biểu cho vị đã thành đạt vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức; nói khác, Ngài có đầy đủ trí tuệ, sức khỏe và phương tiện.

Khi Ðức Phật Thích Ca dạy chúng ta tu nương với Phật Di Ðà hay mười phương Phật, Ngài đều đưa ra những đức tánh tốt của những vị đó, nhằm gợi ý cho chúng ta phát huy những đức tánh ấy ở chính cuộc sống chúng ta. Nương Phật Di Ðà tu cũng có nghĩa là đánh thức khả năng hiểu biết, khả năng sống lâu, khả năng sử dụng phương cách độ sanh, giúp người. Nhờ nương với vị sáng suốt, tuổi thọ cao, nhiều phước đức như Phật Di Ðà, từng bước mình cũng khắc phục được mặt yếu và phát huy được bản thân.

Khi kết hợp tha lực với tự lực, tạo được sức mạnh cho bản thân, lúc ấy, chủ động được cuộc sống, nên không cần phải nhờ đến sự giúp đỡ bên ngoài nữa, và giảm thiểu việc cầu nguyện để tự giải quyết. Quá trình tiến tu này đạt kết quả nhờ khéo kết hợp cầu nguyện và tu hành. Trái lại, chỉ cầu nguyện mà không tu, giao phó toàn bộ cho Phật làm giùm ta, chắc chắn không thể được và cũng không phải là điều Phật muốn.

Ngày nay, chúng ta nương theo Ðức Phật A Di Ðà tu, suy nghĩ về vô lượng thọ của Ngài, tức vấn đề sức khỏe, tại sao Ngài sống đạm bạc mà lại khỏe mạnh, trường thọ. Từ đó, chúng ta tu, làm chủ bản thân hay làm thế nào để xây dựng cuộc sống mình không bị khổ sở vì bịnh tật thể xác lẫn tinh thần hành hạ.

Kinh nghiệm cho thấy ốm đau sanh ra vì sống không hợp lý, như người tu khổ hạnh ép xác, không đủ dinh dưỡng, tất phải bịnh. Ngược lại, các vị Thiền sư sống rất đơn giản nhưng lại rất khỏe, tuổi thọ cao. Quan sát thấy rõ các Ngài thường sống ở môi trường không khí trong lành, yên tĩnh, lượng thực thực phẩm đủ dinh dưỡng dùng cho cơ thể và sống không tổn hại cho các loài, không tranh chấp tính toán vơ vét lợi cho mình. Phương cách sống như vậy hoàn toàn phù hợp với tinh thần khoa học ngày nay. Thật vậy, qua các kiểm nghiệm khoa học cho biết không khí ô nhiễm, ăn uống quá độ, ăn nhiều thứ độc tố, cùng với đủ thứ stress vì lo toan, thủ lợi cho cá nhân một cách quá tham lam, mù quáng, cộng với vô số tiếng động đinh tai nhức óc, hoặc chạy theo biết bao bận rộn không cần thiết trong cuộc sống..., tất cả đã tác hại rất nhiều cho sức khỏe, gây ra đủ thứ bịnh tật, làm giảm tuổi thọ con người.

Vì vậy, trên bước đường tu theo Phật giáo, làm chủ lấy mình, tự lành mạnh hóa thân tâm, cố làm sao bớt lệ thuộc vật chất, ăn mặc, giảm tiêu hao năng lượng, tránh gây ồn náo, bớt tác hại ô nhiễm môi sinh, hạn chế tranh giành hơn thua, đừng quá tham lam ích kỷ. Thực hiện được phần nào những điều ấy, tinh thần chúng ta chắc chắn có được phần nào sảng khoái, cơ thể tươi vui, khỏe mạnh.

Bước thứ hai của người tu phát tâm Ðại thừa, giáo hóa chúng sanh, thường nghĩ chúng ta không thể nào sống một mình và không thể tốt với xã hội không tốt. Chúng ta ý thức sự tác hại lớn lao của ô nhiễm môi sinh, không dám làm gì tổn hại, nhưng người khác không nhận thức như vậy hoặc quá tham lam cứ gây ô nhiễm, tất nhiên cuộc sống ta cũng bị vạ lây. Hoặc chúng ta đạo đức trong một xã hội tuột dốc, sa đọa, nhiều tệ nạn nhiễu nhương, thì cũng khó lòng an ổn.

Vì vậy, Bồ Tát hành đạo không tìm chỗ trong lành, yên tĩnh, an nhàn như giai đoạn một, mà tiến một bước xa hơn nhằm tịnh hóa xã hội và thiên nhiên, tức con người và thế giới con người. Bấy giờ, Bồ Tát lo giải quyết việc cho người, làm sao giúp họ hiểu được gây ô nhiễm tác hại cho sự sống của họ, của tất cả mọi người, mọi vật trên hành tinh này. Bồ Tát đã lo xong phần tự giác và đến giai đoạn giác tha, dùng vô số phương tiện để nâng hiểu biết của người, khiến họ ý thức được tốt xấu, lợi hại, điều đáng làm và điều không nên làm.

Trên tinh thần ấy, bước thứ hai, Bồ Tát đã thực hiện công việc giáo dục người, vì theo Phật dạy, tất cả thành bại đều do con người quyết định. Hướng dẫn cho người đồng tình với mình trong việc bảo vệ thiên nhiên, làm cho xã hội lành mạnh, đó chính là xây dựng Tịnh độ ở Ta bà.

Với ý thức như vậy, Bồ Tát dấn thân không biết mệt mỏi, giúp người an lành là giúp mình an lành, cứu người thoát khổ là cứu mình khỏi khổ. Mang tinh thần giáo dục rộng lớn vô cùng ấy mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cho biết tất cả chúng sanh thành Phật, thì Ngài mới thành, hoặc Ðịa Tạng Bồ Tát phát nguyện nếu còn chúng sanh trong địa ngục thì Ngài không thành Phật.

Tóm lại, Phật giáo hướng dẫn triết lý sống hiểu biết đúng đắn, lành mạnh, đạo đức cho riêng bản thân mỗi người, được hàng Thanh Văn tu tập, ứng dụng ở giai đoạn một. Sau khi đạt được thành quả tốt đẹp ở bước đường tự giác xong, Thanh Văn tiến tu Bồ Tát đạo, giáo dưỡng cho người hướng thiện, xây dựng xã hội tốt đẹp, thế giới hòa bình, an lạc. Triết lý sống tròn đủ chân thiện mỹ của Phật giáo đã trường tồn hơn 25 thế kỷ và cũng sẽ là mô hình lý tưởng hiện đại và trong tương lai cho nhân loại nương theo để kiến tạo ngôi nhà chung xanh sạch, đầy cảm thông, hiểu biết, đầy tình thương, hạnh phúc, ấm no.
HT Thích Trí Quảng
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com