Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Ăn gì để phòng ngừa và chữa bệnh?

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012 | 16:54


Xin bác sĩ tư vấn cho tôi những loại hoa quả và thực phẩm có thể giúp phòng ngừa và chữa bệnh trĩ. Xin chân thành cảm ơn (Nguyễn Đăng, 30 tuổi, TP HCM)

Trả lời:

Trĩ là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh hậu môn trực tràng, với tỷ lệ bệnh nhân chiếm khoảng 20 đến 45% dân số. Bệnh do một số nguyên nhân như: tư thế làm việc đứng quá lâu, rối loạn nhu động ruột (táo bón, ỉa chảy, mót rặn), có tính chất gia đình, có những bệnh phối hợp như tăng áp lực tĩnh mạch cửa, bệnh đường sinh dục, tiết niệu, hoặc những thay đổi nội tiết theo chu kỳ sinh dục của phụ nữ như mang thai, sinh đẻ hoặc trước chu kỳ kinh nguyệt. Trong đó, nguyên nhân thường gặp nhất là táo bón.

                                                       Người mắc bệnh trĩ nên ăn nhiều chất xơ.

Bệnh trĩ xuất hiện không rõ ràng, không khẳng định được thời gian bắt đầu của bệnh, vì trĩ là một trạng thái sinh lý bình thường. Chỉ khi nào nó xuất hiện các rối loạn không thể tự điều chỉnh được gây ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và lao động thì bệnh nhân mới đi khám.

Người mắc bệnh trĩ phải có những điều chỉnh trong sinh hoạt, nên hạn chế những công việc nặng nhọc, tránh động tác mạnh làm cho áp lực trong xoang bụng tăng lên đột ngột, tránh ngồi lâu, đứng nhiều. Bạn cũng cần tránh va chạm vùng hậu môn, giấy vệ sinh phải mềm, dùng các loại xà phòng ít tính acid đồng thời giữ sạch vùng hậu môn, nhưng tránh rửa quá nhiều sẽ va chạm gây thương tổn. Người bệnh nên tránh bia, rượu, các thức ăn dễ kích ứng niêm mạc dạ dày, ruột (như ớt, hồ tiêu, cà ri…), tránh tiêu chảy.

Bạn nên ăn nhiều chất xơ như ăn cam, quýt giúp phân mềm, đỡ táo bón. Những thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhuận tràng như rau lang, rau mồng tơi, rau đay, rau dền để nấu canh ăn thường xuyên rất tốt cho người bệnh trĩ. Đặc biệt, người bệnh nên sử dụng rau dấp cá có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, rất hiệu quả trong trị táo bón, bệnh trĩ. Chuối cũng là loại quả có giá trị nhuận tràng tốt, sau mỗi bữa ăn nên dùng một quả chuối. Củ khoai lang cũng có công dụng nhuận tràng tốt, nên ăn thêm vào các bữa ăn phụ.

Thực phẩm bổ dưỡng dùng chất làm săn nhẹ da tại chỗ; flavonoid (như rutin) giúp tăng cường chức năng mao mạch, giảm suy yếu mao mạch và tĩnh mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu, giảm trương lực cơ trơn, chống co thắt.

Các chế phẩm có chứa đương quy có tác dụng bổ máu, chống thiếu máu, giúp chữa viêm loét mụn nhọt, có tác dụng nhuận tràng, thông đại tiện, chống táo bón. Curcumin (hoạt chất chính có trong củ nghệ) có tính chống viêm, ức chế khối u, thông mật, lợi tiêu hóa, bổ sung Curcumin giúp chống viêm và làm mau lành các vết tổn thương của trĩ. Magie có tác dụng nhuận tràng, giúp hạn chế chứng táo bón. Magie còn là một khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể.

An Trĩ Vương được bào chế từ các thảo dược thiên nhiên gồm các thành phần diếp cá, đương qui, tinh chất nghệ… có hiệu quả tốt và an toàn trong quá trình điều trị bệnh như giúp làm co búi trĩ, hết chảy máu và đau rát, hết táo bón. Bạn có thể sử dụng An Trĩ Vương lâu dài để phòng và chữa bệnh trĩ. Chúc bạn luôn khỏe và thành công!

Báo điện tử VnExpress cùng nhãn hàng An Trĩ Vương (Dược phẩm Vinh Gia) phối hợp tổ chức chuyên mục “Cẩm nang Bệnh trĩ”. Tại đây, độc giả có thể chia sẻ kinh nghiệm, các câu hỏi về bệnh trĩ. Độc giả gửi chia sẻ kinh nghiệm hoặc câu hỏi dành cho bác sĩ chuyên môn tại suckhoe@vnexpress.net.
Gọi (04) 39 960 886 hoặc (04) 39 959 969 để được tư vấn - giải đáp miễn phí những vấn đề liên quan đến bệnh trĩ, táo bón. Chi tiết tại: http://www.duocphamvinhgia.vn/
Dược sĩ Lê Phương

Toa thuốc thần kỳ “chống tai biến Mạch máu não”

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012 | 04:41


Hiện nay trong Cộng đồng người Việt chúng ta (trên toàn thế giới) có khá nhiều người bị nạn “tai biến mạch máu não”, đưa đến đột quỵ, bất toại, và có người còn mất cả mạng sống. 

 * Thuốc chống tai biến (xin làm liền kẻo trễ)

1. Hạnh nhân: 10 g 
2. Chi tử: 10 g  
3. Ðào nhân: 10 g
4. Nếp: 10 hột  
5. Tiêu: 10 hột  
6. Lòng trắng trứng gà: 1 quả.

 * Cách làm

Tất cả đâm nhuyễn, trộn đều, tối đi ngủ trộn thêm lòng trắng trứng gà:
 -Nam đắp lòng bàn chân trái -Nữ đắp lòng bàn chân phải.
(lấy vải bó lại cho khỏi rớt).
Ðắp ngủ qua đêm, nếu ra màu xanh Cửu Long (xanh biển) là bệnh hết. Chú ý: Chỉ đắp một lần trong đời.

* Lưu ý

-Nếu tai biến giật méo miệng, lưỡi co rút không nói chuyện được, thì lấy kim châm hai dái tai (dưới lỗ tai), nặn máu ra liền sẽ trở lại bình thường.
-Nếu bị tai biến xụi chân tay thì lấy kim châm mười đầu ngón tay, nặn máu ra liền và kịp thời sẽ trở lại bình thường.
Bạn nên truyền bản thuốc này cho người khác để làm phước. Ở Việt Nam quý vị có thể đến mua tại tiệm thuốc Bắc: Hải Thượng Lãng Ông, Chợ Lớn.

Gieo thói quen, gặt sức khỏe

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012 | 21:29


Mỗi ngày chỉ cần bỏ ra một chút ít thời gian cho 10 việc dưới đây thì lợi ích sức khỏe sẽ lớn hơn mong đợi của chúng ta rất nhiều.

Cười to sảng khoái - tuần hoàn máu tăng 21%

Một nghiên cứu mới đây nhất của trường ĐH Texas (Mỹ) chỉ  rõ, tuần hoàn máu của những người bật cười hết cỡ khi xem phim tăng 21%, đồng thời hiệu quả có thể duy trì lâu  đến  24 giờ. Nhưng nếu xem phim buồn hoặc bi thương, tốc độ tuần hoàn máu giảm 18%. Vì vậy, hãy luôn cố gắng phát hiện những “góc cười” trong cuộc sống. 

Đánh răng – giảm 80% nguy cơ ung thư đầu cổ

Một nghiên cứu của TT Nghiên cứu Ung thư ở NewYork (Mỹ) chỉ rõ, đau răng trong thời gian dài sẽ làm tăng tới 80% nguy cơ ung thư phần đầu và cổ.

Cách phòng ngừa rất đơn giản, chỉ cần đánh răng định kỳ 3 lần/ngày đồng thời dùng chỉ nha khoa để làm sạch các kẽ răng là được. 

Uống trà - giảm 20% đột quỵ

Nghiên cứu của trường ĐH California chỉ rõ, những người mỗi ngày uống trên 3 tách trà, nguy cơ bị đột quỵ ít hơn 20% so với những người uống ít trà hơn hoặc không uống. Bất kể là trà xanh hay trà hồng, chất axít amin và poliphenol trong trà đều có thể bảo vệ rất tốt cho huyết quản và động mạch. 

Viết thư cảm ơn – hệ miễn dịch mạnh thêm 20%

Nếu muốn thể  hiện sự cảm ơn chân thành đến một người nào đó thì nên lập tức viết ngay một bức thư cảm ơn. Điều này tốt hơn rất nhiều so với cảm ơn miệng. Nghiên cứu của trường ĐH Kent của Mỹ phát hiện, cảm ơn bằng “văn bản” làm cho cả hai bên thấy vui vẻ hơn, hệ miễn dịch mạnh lên trong khi huyết áp giảm, giữ cho cơ thể được gọn gàng, săn chắc.

Ghi chép - tăng 29% trí nhớ

Những người dùng bút viết nhữn điều mình nghe sẽ ghi nhớ tốt hơn tới 29% so với những người chỉ dùng máy ghi âm. Tâm lý học ứng dụng giải thích rằng đó là vì ghi âm sẽ khiến người ngồi họp ít tập trung hơn những người lấy bút giấy ra ghi chép. 

Cầm tay người yêu thương - giảm 1 nửa áp lực

Một nghiên cứu của hiệp hội Thần kinh học Mỹ cho thấy một cái ôm ấp vỗ về, một cái nắm tay của người mình yêu đều là những cách giúp giảm bớt áp lực hiệu quả. Đặc biệt là lúc bạn căng thẳng, hãy nắm chặt tay người bạn yêu thương, như thế có thể giảm bớt huyết áp, nhịp tim đập rộn ràng hơn và làm cho bạn được thư giãn, áp lực được giải tỏa.

Luyện tập Yoga - giảm 56% đau lưng

Nghiên cứu của ĐH West Virginia cho thấy, những người bị đau lưng ở mức độ nhẹ hoặc vừa,  mỗi tuần tập 2 lần Yoga, mỗi lần khoảng 90 phút sẽ giúp  giảm đau lưng tới 56%, giảm căng thẳng tới 60%.

Nếu không có điều kiện tập Yoga, thì nên nằm ngửa, thả lỏng người, để cho mỗi vị trí của cơ thể đều tiếp xúc với mặt giường, như thế cũng có thể giảm bớt được đau lưng. 

Ăn cá nướng vào bữa tối - giảm 19% nguy cơ mất trí

Một nghiên cứu trên 150.000 người thể hiện rõ, những người ăn cá hơn 1 lần/tuần thì nguy cơ bị mất trí sẽ thấp hơn so với những người bình thường không ăn, đăc biệt là chất axit béo omega 3 ở  trong cá biển sâu còn có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh. 

Uống sữa buổi sáng - giảm cân

Đem nhiệt lượng của bữa sáng và bữa tối phân phối cho bữa sáng, ví dụ như bữa sáng no nê rồi nhưng cũng nên uống một ly sữa, như thế có thể giảm được 2kg trong vòng 1 năm. Bởi sữa làm cho chúng ta có cảm giác no, từ đó bớt thèm các món khác. 

Uống ly vang đỏ - thọ thêm 5 năm

Một nghiên cứu kéo dài 40 năm với trên 1.300 nam sinh Hà Lan cho thấy những người uống nửa ly vang đỏ mỗi ngày sẽ có tuổi thọ trung bình tăng thêm 5 tuổi so với những người không uống. Trong rượu vang đỏ có rất nhiều loại chất phenol có chức năng bảo vệ tim rất tốt và một phần nhỏ chất cồn còn có thể giúp tăng lượng cholesterol tốt đồng thời giúp đánh đuổi những “cặn bã” ở trong huyết quản. Mỗi ngày uống nửa cốc đến 2 cốc là lượng thích hợp nhất. 

Dương Hằng (Dân Trí)
Theo jk3721

Sự thật về việc chữa bệnh diệu kỳ của một lương y


Bác sĩ Nguyễn Nhật Tân, Chuyên khoa Lồng ngực - Tim mạch Bệnh viện 115 (TP.HCM) bị tai biến, miệng bị méo và đôi mắt khó cử động. Ngay sau khi được thầy Yên bấm huyệt, con mắt của bác sĩ Tân đã cử động linh hoạt hơn và tròng đen thẳng trở lại chứ không bị xếch sang một bên nữa.

Những câu chuyện về phương pháp trị bệnh kỳ diệu của lương y (LY) Võ Hoàng Yên đang là chuyện "nóng hổi" trong giới đông y, tây y. Có người nghe kể lại hay đọc báo tỏ ra hoài nghi, có người đã từng gặp, từng xem cách chữa trị bệnh bằng phương pháp bấm huyệt đạo của ông thì tin tưởng, khen ngợi tài năng hiếm thấy của LY này.
 
Đặc biệt là đối với những người dân được LY chữa khỏi bệnh tại chùa Thiên Ân (phường Thuận Giao, TX. Thuận An) thì không ngớt lời khen ngợi, tôn vinh phương pháp trị bệnh hiệu quả, nhanh chóng của vị LY này.

                          Thầy Yên (phải) trị bệnh cho cháu Phạm Hữu Tâm (Đồng Nai)
 
Mong xã hội ngày càng có nhiều thầy Yên trị bệnh giúp đời
 
Chiều 23-4, chúng tôi đã trở lại chùa Thiên Ân để tìm hiểu thêm thông tin về phương pháp trị bệnh kỳ diệu của LY Yên. Mặc dù đã xế chiều, nhưng vẫn có nhiều người vào chùa hỏi thông tin về thầy Yên.
 
Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm, trụ trì chùa Thiên Ân, cho biết, tính đến nay đã 3 lần thầy Yên trị bệnh cho bà con tại chùa. Do nhiều người được thầy Yên trị khỏi bệnh hoặc thuyên giảm nên truyền miệng nhau đến chùa hỏi thăm thông tin.
 
Đặc biệt là sau khi báo Bình Dương đăng bài về phương pháp chữa trị bệnh của thầy Yên, cả ngày 23-4, điện thoại của chùa trở nên quá tải vì khắp nơi điện thoại tới hỏi thăm thông tin về thầy. "Sau khi thầy Yên trị bệnh hiệu quả cho người dân, trong đó có nhiều y, bác sĩ và cán bộ ngành y tế, ai cũng mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên nhanh chóng được nhân rộng để giúp đời" - Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm nói.
 
Chiều 23-4, bà Võ Thị Năm (SN 1938, ngụ đường Lê Hồng Phong, P.Phú Thọ, TX.TDM) cho hay bệnh của bà đã vơi giảm hẳn.
 
Trước đó, bà không đi đứng được, các khớp xương chân, cột sống đều tê cứng, miệng nói ú ớ không ra tiếng. Thay vì đi bệnh viện nhưng do biết tin LY Yên đang trị bệnh tại chùa Thiên Ân, bà đã được người nhà "khiêng" đến để thầy Yên trị bệnh. Sau khi được LY Yên đả thông huyệt đạo, bà đã đi, đứng lại được, nói ra thành tiếng.
 
Bà Năm cho hay: "LY Yên trị bệnh hiệu quả hiếm thấy. Tôi mong muốn phương pháp trị bệnh này cần nhân rộng để mọi người không may mắn tìm lại được niềm vui. Giá như xã hội này, ngày có càng nhiều thầy Yên thì hay biết mấy cho người dân". 
 
Theo tìm hiểu của phóng viên báo Bình Dương, ngày 23-4, tại khu vực chùa Thiên Ân, người được LY Yên trị khỏi bệnh cũng như những người đã từng chứng kiến hàng giờ đồng hồ việc LY Yên và nhóm học trò trị bệnh cho người dân đều mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên được nhân rộng.
 
Rất nhiều cán bộ khu phố Hòa Lân 1, P.Thuận Giao, TX.Thuận An cho hay, nếu phương pháp trị bệnh của thầy Yên được nhân rộng thì sẽ giúp được hàng ngàn người bị khiếm khuyết, bại liệt, thoái hóa cột sống, chân tay tê liệt, câm điếc do di chứng tai biến để lại.
 
Anh Trương Văn Hận (SN 1972, ngụ Sóc Trăng, tạm trú tại chùa Thiên Ân), cho hay: "Trước đây, anh khom lưng, đứng lên ngồi xuống không được do bị thoái hóa cột sống. Tuy nhiên, sau khi được thầy Yên trị bệnh, anh đã lành bệnh, trở lại bình thường và đang làm thợ xây dựng tại chùa Thiên Ân. Do vậy, anh cũng mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên sớm được nhân rộng để giúp những người không may mắn trở lại lành lặn".

 
Lương y Võ Hoàng Yên (trái) bấm khai thông huyệt đạo cho bệnh nhân Đỗ Minh Trường (An Giang)
 
Các nhà chuyên môn nói gì?
 
Trả lời qua điện thoại, bác sĩ Nguyễn Quốc Chính, Phó Chủ tịch Hội Y học Cổ truyền tỉnh Bình Phước, cho biết: "Tôi đã từng chứng kiến và nhìn thấy LY Yên trị bệnh ở Bình Phước. Nhiều năm làm nghề, đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt một LY có thể chữa những căn bệnh nan y một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy. Với phương pháp bấm huyệt do LY Yên thể hiện, tôi cho rằng đây là một hiện tượng mới và hiếm trong y học. Cái cốt lõi là LY Yên cũng trị bệnh, mong muốn giúp đỡ nhiều BN lành bệnh nhưng lại chưa có giấy phép hành nghề hay cơ quan nào kiểm chứng. Do đó, việc thực hiện một đề tài nghiên cứu phương pháp chữa bệnh của LY Yên là cần thiết. Về phía Sở Y tế Bình Phước thì chưa có ý kiến chính thức nào. Tuy nhiên, dự kiến của chúng tôi là sẽ đề xuất cơ quan chuyên môn nghiên cứu một đề tài về phương pháp bấm huyệt đạo của LY Yên trong thời gian tới. Nếu LY Yên chứng minh được phương pháp của mình mang tính hiệu quả về lâu dài và đạt tiêu chuẩn đánh giá thì đây là một đề tài "ích nước, lợi dân".
 
Việc LY Yên trị khỏi bệnh cho nhiều người bị thoái hóa cột sống, đau khớp, bại liệt nhiều năm đứng lên đi lại được hay câm điếc nhiều năm nói lại được là một hiện tượng lạ, xưa nay hiếm thấy ở Việt Nam. Do vậy, việc tạo điều kiện cho LY Yên chứng minh phương pháp trị bệnh của ông mang tính khoa học bền vững là rất cần thiết để tiếp tục chữa trị bệnh cho những người  không may mắn.
 
Theo PGS-TS Nguyễn Thị Bay, Trưởng Bộ môn Bệnh học Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y Dược TP.HCM, với trường hợp chữa bệnh của LY Yên, cần phải có công trình nghiên cứu nghiêm túc. Những nhà nghiên cứu khoa học và người bệnh cần xem hiệu quả thật sự của phương pháp xoa bóp, bấm huyệt gia truyền của vị LY này, lúc đó, mới nên tổ chức điều trị đại trà cho người bệnh. Theo tôi, xoa bóp, bấm huyệt có thể cải thiện được bệnh, góp phần phục hồi hệ vận động trong các trường hợp liệt. Tuy nhiên, hiệu quả phải có thời gian và cần phối hợp trị liệu với nhiều phương pháp khác để vừa phục hồi liệt, vừa điều trị nguyên nhân gây liệt cũng như đề phòng các nguy cơ khác.
 
Hiệu quả về phương pháp của LY Yên cỡ nào? Trường hợp nào LY Yên trị khỏi?...luôn là những câu hỏi đặt ra cho cả người bệnh và là thắc mắc chung của nhiều cán bộ làm công tác quản lý, chuyên môn trong ngành y tế.
 
Nhiều nhà nghiên cứu đông y cho rằng, bệnh bại liệt, câm điếc, nếu bấm huyệt, châm cứu cũng có thể phục hồi. Tuy nhiên, cần xem đó là câm điếc dạng nào. Nếu câm điếc do bẩm sinh, dị dạng sẽ khó điều trị được. Do vậy, trong nhiều trường hợp câm điếc, LY Yên trị khỏi bằng phương pháp bấm huyệt đạo là hoàn toàn có cơ sở.
 
Trả lời câu hỏi này, chính LY Yên cũng khẳng định: "Tôi tìm được phương pháp trị bệnh này chỉ gần 3 năm thôi. Đối với BN bị thoái hóa cột sống, bại liệt 2 tay, 2 chân và một phần thân người, bị câm điếc trong một số trường hợp tôi đều chữa khỏi. Tuy nhiên, tôi khẳng định rằng, đối với nhiều BN bị bại liệt không còn khả năng nhận biết, chân, tay không còn khả năng duỗi thẳng, bị teo cơ quá nặng, trường hợp bại não hay hội chứng down, thì xin đừng đem đến gặp tôi".
 
 
Chiều 22-4, bác sĩ Nguyễn Nhật Tân, Chuyên khoa Lồng ngực - Tim mạch Bệnh viện 115 (TP.HCM) bị tai biến, miệng bị méo và đôi mắt khó cử động, tròng trắng lộ ra nhiều hơn nhưng sau khi được thầy Yên bấm huyệt, con mắt của bác sĩ Tân đã cử động linh hoạt hơn và tròng đen thẳng trở lại chứ không bị xếch sang một bên nữa.
 
Thầy Yên đùa với bác sĩ Tân: "Tôi và ông trao đổi nhé. Tôi chữa lành 50 ca bại liệt, câm điếc thì ông chữa cho 2 bệnh nhân tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn". Nhiều người chứng kiến cảnh bác sĩ Tân mừng rỡ ôm vai thầy Yên và đưa cho thầy tấm danh thiếp đã vỗ tay tán thưởng rất nhiệt tình. Còn bác sĩ Tân cảm động rưng rưng nước mắt: "Tôi vô cùng cảm ơn thầy Yên. Tôi bị tai biến và nghe tiếng thầy qua một người quen, thế là đi theo thử, không ngờ hiệu quả... thế này".
 
Tiến sĩ sử học Đinh Văn Hạnh (Q.11, TP.HCM):
 
Tôi mong xã hội có thêm nhiều thầy như thầy Yên
 
Con gái tôi bị bệnh u não 3 năm nay, khi đó, cháu mới 13 tuổi và nay cháu đã 16 tuổi. Sau những lần trị bệnh và phẫu thuật ở khắp nơi, con tôi vẫn không ngồi, không đi lại được. Con tôi được thầy Yên bấm huyệt, "chỉnh" cột sống cho bớt vẹo và bước đầu, bệnh có tiến triển, con gái tôi tự ngồi được một lúc không cần người đỡ. Tôi mong rằng, những người thầy thuốc gia truyền có tay nghề giỏi như thầy Yên cần tiếp tục chữa bệnh cứu người. Là người làm cha đang tìm mọi cách chữa chạy cho con, tôi cũng mong sao thầy Yên có một địa điểm cụ thể để có thể đem con mình đến chữa bệnh nhiều lần. Những BN bại liệt không đi đứng được, thầy Yên chữa cho lành bệnh, tự đi đứng lại được quả thật là điều kỳ diệu!
 
Ông Nguyễn Trung Hiếu, Nguyên Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Bình Dương:
 
Cần tạo mọi điều kiện cho thầy Yên giúp đời
Cách đây 2 tháng, tôi đã từng gặp thầy Yên để bấm huyệt đạo trị bệnh. Lúc đó, cánh tay phải của tôi bị thoái hóa, không giơ lên được, không móc bóp túi quần sau được. Tôi cũng đã từng đi châm cứu cả tháng trời nhưng không hết. Sau đó, tôi gặp thầy Yên đả thông huyệt đạo trong vài phút là hết hẳn cho đến bây giờ. Cánh tay phải giơ thẳng lên được như xưa. Do vậy, tôi mong rằng, xã hội cần tạo điều kiện tốt nhất cho thầy Yên trị bệnh, giúp đỡ những người không may mắn. Tôi nghĩ rằng, với phương pháp trị bệnh hiệu quả của thầy Yên được nhận rộng thì nhiều BN đỡ phải hao tốn tiền bạc, thời gian để đi trị bệnh khắp nơi.
Theo Hồ Văn - Quỳnh Như (Báo Bình Dương)

Lợi ích của khoai lang đối với sức khỏe


Khoai lang là một trong những loại thực phẩm quen thuộc đối với người Việt Nam. Giá trị dinh dưỡng của khoai lang rất cao và được các nhà khoa học đánh giá là rất tốt cho sức khỏe.
Dưới đây là những lợi ích tuyệt vời mà khoai lang mang lại cho sức khỏe của chúng ta.

1. Phòng ngừa bệnh ung thư

Lượng vitamin A và C dồi dào trong khoai lang góp phần ngăn ngừa nhiều bệnh ung thư khác nhau. Các kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới đã cho thấy chất sắt chống ôxy hóa Antoxian có nhiều trong tinh bột của khoai lang, có tác dụng giảm tác động nguy hiểm của kim loại nặng và các gốc ôxy hóa tự do đối với cơ thể.
2. Chống viêm nhiễm

Khoai lang có khả năng chống lại sự viêm nhiễm rất tốt vì nó chứa nhiều vitamin C, vitamin B6, beta carotene và mangan. Các nhà khoa học trên thế giới đã tìm ra tác dụng giảm viêm nhiễm trong mô não và mô thần kinh ở khắp cơ thể khi chúng ta ăn khoai lang thường xuyên.

3. Phòng ngừa bệnh viêm khớp

Chất beta cryptoxanthin dồi dào trong khoai lang có tác dụng phòng ngừa các bệnh viêm nhiễm mạn tính như viêm khớp, thấp khớp. Ngoài ra, beta cryptoxanthin còn giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương, tăng cường hệ miễn dịch và làm đẹp da. Các kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới cho thấy việc tiêu thụ nhiều chất beta cryptoxanthin giúp giảm 50 % tỷ lệ phát triển của bệnh viêm khớp. Thêm vào đó, vitamin C có trong khoai lang còn giúp duy trì collagen và giảm thiểu tỉ lệ phát triển của bệnh viêm khớp.

4. Cân bằng lượng đường trong máu

Chất carotenoid trong khoai lang có thể giúp cho cơ thể cân bằng lượng đường trong máu. Lượng chất xơ hòa tan có trong khoai lang còn hỗ trợ việc hạ thấp lượng đường và cholesterol trong máu. Chất  axít chlorogenic cũng có thể giúp tăng cường khả năng chống nhiễm khuẩn, ngăn ngừa tổn thương DNA và các chất liệu di truyền khác…

5. Điều trị bệnh loét dạ dày

Khoai lang còn có khả năng làm dịu nhẹ và điều trị bệnh loét dạ dày vì nó chứa nhiều vitamin B, vitamin C, potassium, beta carotene và canxi. Chất xơ có trong khoai lang giúp phòng ngừa bệnh táo bón và kiểm soát nồng độ axít trong dạ dày nên cũng góp phần làm giảm các cơn đau và viêm loét dạ dày.

6. Phòng ngừa bệnh khí phế thũng

Khoai lang có thể cung cấp vitamin A cho cơ thể. Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới cho rằng, những người hút thuốc nên hấp thu nhiều vitamin A vì bệnh khí phế thũng và các bệnh về phổi có thể xảy ra khi cơ thể thiếu hụt vitamin A do việc hút thuốc gây ra.

7. Tốt cho bộ máy tiêu hóa

Khoai lang là nguồn cung cấp chất xơ rất tốt, giúp thúc đẩy hệ thống tiêu hóa hoạt động hiệu quả. Các nghiên cứu còn cho thấy chất xơ có tác dụng làm sạch các kim loại nặng trong bộ máy tiêu hóa như Asen và thủy ngân.
Theo PNO

10 lợi ích sức khỏe bất ngờ của trái xoài


Ăn xoài thường xuyên là cách để bạn giúp cơ thể chống lại nhiều căn bệnh đáng sợ như ung thư, tiểu đường, bệnh tim…

Xoài là loại trái cây phổ biến nhất thế giới vì hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng tuyệt vời của nó. Một cốc xoái có thể cung cấp 25% lượng vitamin C cơ thể cần mỗi ngày, 2/3 vitamin A và một lượng lớn vitamin B6, vitamin E, pectin, phốt pho, kali và magiê.

1. Ngăn chặn ung thư

Các hợp chất phenolic được tìm thấy trong xoài như quercetin, isoquercitrin, astragalin, fisetin và methylgallat đã được chứng minh là có đặc tính chống oxy hóa và chống ung thư. Xoài cũng là loại trái cây có hàm lượng pectin cao. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng, pectin có tác dụng giúp cơ thể chống lại ung thư đường tiêu hóa.

2. Hỗ trợ tiêu hóa

Xoài là loại trái cây rất hữu ích trong việc điều trị các bệnh về tiêu hóa. Trong xoài có chứa các enzyme giúp phá vỡ protein, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hấp thụ vào cơ thể, chất xơ có trong xoài cũng giúp ích rất nhiều trong việc hỗ trợ hệ tiêu hóa làm việc.



Chất xơ có trong xoài cũng giúp ích rất nhiều trong việc hỗ trợ hệ tiêu hóa làm việc


3. Ngăn ngừa bệnh tim

Xoài là loại trái cây tuyệt vời cung cấp vitamin A, E và selen cho cơ thể và giúp chống lại bệnh tim. Xoài cũng rất giàu vitamin B6, đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tim bằng cách giảm mức độ homocysteine. Homocysteine ​​là một axit amin trong máu gây tổn thương mạch máu.

4. Giảm LDL cholesterol

Hàm lương pectin và vitamin C cao có trong xoài giúp làm giảm mức LDL cholesterol trong cơ thể, đặc biệt là LDL cholesterol xấu.

5. Làm giảm huyết áp

Xoài có hàm lượng kali cao, vì vậy mà nó có thể điều chỉnh huyết áp. Do đó, ăn xoài thường xuyên là cách để bạn giảm huyết áp mà không phải lo lắng đến tác dụng phụ.

6. Cải thiện trí nhớ

Xoài có chứa axit glutamine, một loại chất được biết đến với tác dụng cải thiện trí nhớ và giữ cho các tế bào não hoạt động. Ăn xoài thường xuyên là cách để chiến đấu với căn bệnh giảm trí nhớ khi có tuổi.

7. Giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường

Lá xoài có tác dụng làm bình thường hóa nồng độ insulin trong máu. Đun sôi lá xoài trong nước khoảng 15 phút, để nó qua đêm và uống nước này vào sáng hôm sau. Điều này sẽ làm giảm lượng đường trong máu.

8. Tăng cường sức khỏe của đôi mắt

Xoài có nhiều nhiều vitamin A, một chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp tăng cường sức khỏe của đôi mắt và bảo vệ mắt chống lại sự thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác.



Tăng cường sức khỏe đôi mắt bằng xoài


9. Mang lại nhiều lợi ích cho làn da

Xoài là loại trái cây tốt cho làn da, bởi chúng có hàm lượng vitamin A cao. Chúng kích thích quá trình tuần hoàn máu ở màng nhầy và da, từ đó làm giảm tắc nghẽn lỗ chân lông, một hiện tượng khiến làn da bị tổn hại.

10. Xử lý tình trạng thiếu máu

Xoài có nhiều chất sắt, vì vậy mà chúng có thể giúp cơ thể khắc phục tình trạng thiếu máu, đặc biệt là thiếu máu do thiếu sắt. Vitamin C có trong xoài giúp tăng cường hấp thụ sắt. Vì vậy mà xoài là loại trái rất có lợi đối với phụ nữ mang thai và những người bị thiếu máu.
theo Eva.vn

Y Học trong Tư Tưởng Phật Giáo



  • “Thân Tâm Nhất Như” tâm hồn và thể xác tuy hai mà một là tư tưởng trị liệu căn bệnh toàn diện hữu hiệu, là chiếc xe, đôi cánh đưa con người đến chân trời hạnh phúc, trường thọ thiếu một trong hai thứ trên không thể nào đạt được điều mong muốn.

    Người Việt thường hay nói:” Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo”. Câu ca dao tuy đơn sơ nhưng hàm súc cả trí tuệ sống của bao thế hệ từ ngàn xưa. Loài người bước sang thế kỷ 21 với những tiến bộ vượt bực không ngừng của khoa học, kỹ thuật đã cải thiện rất nhiều về đời sống tiện nghi vật chất cho con người. Nhưng không hẳn ai nấy đều “ăn được ngủ được”, sống giữa thời đại “fast food” có ngay, ăn ngay thử hỏi có bao nhiêu người để ý đến những cái gì nên ăn và những cái gì không nên ăn. Không những thế thường trực căng thẳng vì phải chạy đua với những thay đổi ào ạt của xã hội, vật lộn với đời sống vật chất, do đó không ít người mắc chứng bệnh thiếu ngủ, bệnh mất ngủ (insomnia) và nhiều chứng bệnh khác nữa. Có lẽ giấc ngủ hồn nhiên không mộng mị phải dành cho trẻ thơ hay những người không còn bị ràng buộc, cám dỗ bởi vật chất của thế gian này không chừng. Phải chăng để “thành tiên” vẫn còn là giấc mơ của con người hiện đại? Trong phạm vi giới hạn bài viết mạo muội phác họa qua nhãn quan nhà Phật nhìn thế nào về nguyên nhân bệnh trạng cũng như đưa ra cách chữa trị mang lại sức khỏe con người.

  • Sự sống cũng như sự chết là việc lớn, hệ trọng của kiếp nhân sinh và cũng từ thủa tạo thiên lập địa từ khi có con người trên hành tinh trái đất, để sinh tồn con người phải đối phó với những đe dọa thường xuyên từ bên ngoài như thiên tai, bão tố, động đất, thời tiết, dã thú, v.v song song với đó con người cũng phải luôn luôn trực diện với ốm đau, bệnh tật phát sinh từ bên trong cơ thể. Ðây là một trong bốn cửa ải đoạn trường của kiếp nhân sinh Sinh, Lão, Bệnh, Tử mà bất cứ ai trong chúng ta dù già, trẻ, lớn bé đều phải trải qua. Ðời sống xã hội loài người càng tiến bộ về khoa học, nhiều sáng tạo y học ra đời một số những bệnh được xem như nan y thủa xưa như bệnh đậu mùa, bệnh bại liệt thì nay không còn nữa, nhưng đồng thời nhiều bệnh trạng mới khác lại nảy sinh như các chứng bệnh ung thư, bệnh AID mà vẫn chưa có phương thuốc chữa trị hoàn hảo. Vì thế làm sao có được thân thể khỏe mạnh không ốm đau với tâm hồn an nhiên thư thái, giấc ngủ ngon vẫn là vấn đề quan trọng cần thiết của đời sống con người.

    Cách đây hơn 2500 năm một nhà tôn giáo, nhà tư tưởng siêu việt, nhà Tâm Lý Học, nhà Thiên Văn Học, nhà Xã Hội Học và cũng là nhà Y-sĩ đại tài vượt thời gian, không gian đã nhìn thấy vấn đề, gốc rễ, nguyên nhân sinh ra bệnh tật, và cũng đã đưa ra một toa thuốc để giúp con người vượt qua những đau khổ do bệnh sinh ra, xây dựng một đời sống lành mạnh, một thân thể kiện khang, yêu đời, tràn ngập sức sống, một xã hội an vui. Phải chăng đây cũng là mục đích sống con người trên hoàn vũ hằng mong muốn và cũng chỉ chính con người là chủ thể sáng tạo tạo dựng điều này không ai khác..

    Vậy thì bệnh từ đâu mà đến? Theo Phật giáo bệnh phần lớn phát sinh từ bên trong con người do mất cân bằng hài hòa về tinh thần, tình cảm, dinh dưỡng có nghĩa do thân và tâm sinh ra hơn là do từ bên ngoài mang đến. “Chẳng hạn có người uống thuốc mong đổ mồ hôi nhưng không có hiệu quả. Thế mà khi sợ hãi âu lo thì mồ hôi tuôn ra, phải chăng là do tâm, do suy tư tác động gây ra. Không có thí dụ nào rõ ràng hơn câu chuyện ngày xưa ở bên Trung Quốc đời nhà Minh có ông Vi Ðản người viết chữ rất giỏi thế mà vì phải theo lệnh nhà vua leo lên đỉnh đài Lăng Vân để khắc chữ , vì quá sợ viết xong lúc xuống mặt đất tóc đã bạc phơ.” Một cách tổng quát theo Phật giáo có ba loại bệnh đó là:

    1. Thân bệnh

    2. Tâm bệnh

    3. Nghiệp bệnh

    Từ cách nhìn như nêu trên cho thấy cách chẩn bệnh và chữa trị của Phật giáo khác biệt với y học tây phương ở điểm y học tây phương đưa ra thuốc chữa khi nào bệnh phát ra, có triệu chứng đau yếu bộ phận nào đó trên cơ thể. Khi ấy thuốc chỉ có tác dụng làm bớt đi tình trạng đau đớn, chặn đứng phần nào sự lộng hành của vi khuẩn trong khoảng thời gian nào đó mà thôi, chứ nó không diệt hết căn nguyên, nguồn gốc sinh bệnh. Một phần bệnh nhân có tâm lý là muốn mau hết bệnh ngay, nhưng ít khi chịu tìm hiểu nguyên nhân sinh ra bệnh. Bởi vì bệnh phát sinh ra không phải một sớm một chiều mà do quá trình dài qua bao năm tháng rồi mới hình thành. Do đó không có triệu chứng không hẳn là không có bệnh.

    Hơn nữa y học tây phương phần lớn dựa vào những cái gì cụ thể, chẳng hạn như hình ảnh do tia quang tuyến, những rọi chiếu qua các bộ máy y khoa chụp được. Nền y khoa hiện đại đổ dồn rất nhiều công sức trí tuệ, tài chánh vào trong những lãnh vực nghiên cứu như bệnh lý học, Dược phẩm học, Ðề kháng học và Giải Phẫu Học cùng những dụng cụ y khoa hiện đại, tối tân trong mục đích tìm ra căn nguyên bệnh tật. Nhưng có điều lạ nhiều máy móc tối tân phát minh ra đời, nhiều loại thuốc tinh vi mắc tiền được điều chế ở những công ty dược phẩm nổi tiếng, thế mà số bệnh nhân không giảm thiểu, mà còn có chiều hướng gia tăng. Lý do tại sao? Phải chăng có những căn bệnh mà dụng cụ y khoa hiện đại vẫn không thể nhìn thấy được. Phải chăng nền y học hiện đại quá chú trọng vào triệu chứng, vào phần thân thể, mà quên đi phần tâm bệnh và nghiệp bệnh, quên đi hay xem nhẹ nguồn gốc sâu xa tạo ra bệnh tật nằm ngay trong tâm tư đời sống con người. Bệnh phát sinh từ nghiệp chướng từ lối nghĩ, cách tư duy, từ cách sống, lời nói, việc làm v.v. Có nghĩa thân, khẩu, ý chưa được thanh tịnh. Ðây cũng là vấn đề mang tính chất thời đại một số nhà thức giả phương tây đã đang cố thử tìm tòi tính chất tương quan giữa niềm tin tôn giáo và sức khỏe.

    Thân Bệnh
    Ðối với Phật giáo người đi tầm đạo hay hành giả việc quan trọng trước hết là để ý đến thân thể “rèn luyện, thận trọng chăm lo thân thể là điều căn bản trong việc tu hành Phật đạo. Hơn hết tất cả những gì khác, bước đầu tiên mang tính chất quyết định giải phóng chúng ta, đó là thoát ra khỏi ảo tưởng về bản ngã, đoạn tuyệt những cái quá si mê, quá yêu thương bản thân, chấp trước vào thân thể, và phải luôn luôn để ý đến thân thể” . Nói cách khác thường trực quan sát để ý thân thể đừng để cho có bệnh hoạn là điều tối ư quan trọng của người tu hành, vì chính xác thân là phương tiện duy nhất để đi đến giác ngộ.

    Theo Phật giáo cơ thể con người nói riêng và toàn thể thiên nhiên vũ trụ do tứ đại (Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong) có nghĩa do đất, nước, gió và lửa kết hợp thành. Mỗi thành tố mang ý nghĩa đặc biệt và có tương quan với những bộ phận trong thân thể. Chúng ta hãy đi lượt qua tính chất mỗi thành tố này.

    1. Thành tố đất mang đặc tính nặng, có trọng lượng gồm có các bộ phận như Não bộ, lá lách, bao tử. Khi thành tố này mất cân bằng sẽ sinh ra bệnh làm thân thể trở nên khô gầy, có đến 101 loại bệnh thuộc thành tố này.

    2. Thành tố nước có đặc tính ẩm ướt, mang trạng thái lưu động, gồm có các cơ quan như thận, bàng quang và máu huyết. Khi cơ quan này mất cân bằng làm cho việc ăn uống không tiêu, việc tiêu hóa khó khăn, thì có thể sinh ra 101 loại bệnh.

    3. Thành tố hỏa mang tính chất nóng, dùng để đốt cháy, có nhiệt độ cao, biểu tượng cho hệ thống vận chuyển máu, gồm có các cơ quan như gan và túi mật, mất cân bằng thành tố này hay sinh táo bón, lạnh nóng bất thường, hay đau khớp xương có thể sinh ra 101 loại bệnh.

    4. Thành tố khí có đặc tính nhẹ như không khí, biểu tượng cho hệ thống hô hấp, và đây cũng chính là chiếc xe đưa trạng thái Tâm di động. Thành tố này chủ yếu hoạt động ở tim, phổi, ruột và hệ thống não bộ. Thành tố này mất cân bằng sẽ sinh ra 101 loại bệnh. Khí có chức năng tạo năng lượng di động khắp toàn thân, giúp cho máu vận chuyển điều hòa, duy trì sự sống hấp thụ chất dinh dưỡng tiêu hóa thức ăn đào thải chất độc ra ngoài, chuyển hoán tế bào, và giúp cho sự cảm nhận được trong sáng.

    Chính vì những đặc tính nêu trên, một khi sự vận chuyển bốn thành tố không còn điều hòa khi có đó triệu chứng bệnh.

    Nếu đi sâu vào phân tích bệnh trạng triệu chứng thân bệnh chắc hẳn cần nhiều giấy mực hơn nữa, ở đây xin chỉ lượt qua một số điểm quan trọng..

    Thân bệnh phát sinh là do tích lũy những chất độc bao gồm ý nghĩa tinh thần là tham, sân, si và ý nghĩa vật thể là đem vào trong cơ thể những thức ăn hằng ngày không tốt cho cơ thể mà chúng ta không biết hay không để ý vì do tập quán hay thói quen. Rồi theo dòng thời gian những chất độc này không được đào thải hết ra ngoài tích lũy lại trong người và khi đó bệnh hình thành. Có câu hỏi được đặt ra tại sao những chất độc đó không tạo thành một loại bệnh? Câu trả lời là cơ thể mỗi con người chúng ta không ai giống ai, có người yếu về bộ phận này nhưng lại mạnh về bộ phận khác, một phần do yếu tố di truyền (genetic) từ cha mẹ truyền lại. Chất độc tụ lại trong người chỉ sinh bệnh khi nó vượt quá giới hạn nào đó mà cơ thể không còn chịu đựng được nữa mà thôi, cũng vì thế mà có người sinh ra bệnh về tim, về thận, về ruột vân vân và vân vân.

    Do đó một khi chúng ta nhận chân thấy được nguyên nhân thân bệnh là do thiếu vận động, cẩu thả, bừa bãi trong việc ăn uống hằng ngày, đó là dấu hiệu tốt trong việc cải tố cách dinh dưỡng, ẩm thực.

    Tâm Bệnh
    Theo Phật giáo “Bệnh hoạn nơi tâm hồn chúng ta phần lớn là do thói quen ôm vào những cái không phải của chính mình như của chính mình. Bản tính con người chúng ta hay giành lấy những gì có thể nhìn thấy hay sờ mó được trên thế gian này. Từ những vật gọi là “của tôi” đi kèm theo nó là những trói buộc, từ đó con người dần dần xa rời bản ngã chân thực, thay vào đó con người phải trả cái giá cho nó là mang tâm trạng sợ hãi lo âu..”.

    Khi nói đến tâm bệnh thì không thể nào không đề cập đến ba thứ độc hại tham, sân, si là những thứ luôn luôn tiềm ẩn trong con người chúng ta. Vậy thì những điều này gây ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe cũng như bệnh tật. Chúng ta hãy thử tìm hiểu từng yếu tố một.

    * Tham
    Theo ý nghĩa tinh thần cũng như vật chất tham là trạng thái ham muốn thật nhiều vượt ra ngoài khả năng cũng như nhu cầu cần thiết. Chẳng hạn như ăn quá nhiều cũng có khả năng sinh bệnh. Ðối với những người hay ăn và uống những thức ăn ngọt có nhiều đường rất dễ sinh ra bệnh tiểu đường hay ăn nhiều quá mà không vận động, tập thể thao cũng dễ sinh bệnh mập phì. Ngoài yếu tố lấy vào trong thân thể quá độ nguồn năng lượng, chất ngọt, người ta còn tìm thấy những người có nhiều ưu phiền, đau khổ tinh thần, căng thẳng quá độ về công việc, đời sống gia đình v.v cũng dễ sinh ra bệnh này, không kể đến yếu tố di truyền. Thêm vào đó mối ưu tư về tài chính do tiêu sài hoang phí quá độ chồng chất theo năm tháng cũng dễ sinh ra bệnh.

    Ngay như về mặt tri thức, người quá tham lam muốn nhồi nhét thật nhiều kiến thức, sự hiểu biết vào trong đầu trong khoảng thời gian ngắn cũng dễ sinh ra bệnh tâm thần. Với những người còn quá trẻ tu thiền chỉ đọc qua vài quyển sách, một số lý thuyết muốn thực hành để chứng ngộ ngay chưa hiểu rõ thấu đáo về ngay chính bản thân cũng rất dễ sinh tẩu hỏa nhập ma rồi đưa đến hủy hoại thân thể.

    Ngoài ra chúng ta còn thấy những người sống buông thả chạy theo cảm xúc của ngũ quan một cách quá đáng cũng dễ sinh bệnh. Theo Phật giáo người quá đam mê vào hình tướng dễ sinh ra bệnh về gan, quá đam mê vào âm thanh dễ sinh bệnh về thận, quá đam mê vào mùi vị dễ sinh bệnh phổi, quá đam mê vào khẩu vị dễ sinh bệnh về tim và quá đam mê vào xúc giác dễ sinh bệnh thuộc về lá lách.

    Vì thế cân bằng trong đời sống không quá độ cả về tinh thần lẫn vật chất là điều quan trọng trong tu hành theo Phật giáo.

    * Sân

    Sân là trạng thái ghét cay ghét đắng, giận dữ một trong những yếu tố gây tác động không nhỏ đến sức khỏe, nhất là cơ năng thuộc về tim và gan. Trong kinh Ðại Bát Nhã (Mahaprajnaparamita) giảng rằng “sân hận là trạng thái cảm xúc độc hại nhất so với tham lam và ngu si”. Sự giận dữ gây tác hại vượt lên trên mọi tác hại khác. Theo kinh Ðại Bát Nhã trong số 98 đau đớn gây ra, giận dữ là trạng thái khó chế ngự nhất. Về mặt tâm lý giận dữ cũng là tâm trạng khó chữa trị nhất.

    Theo bệnh lý học người khi nổi giận sẽ tác động vào hệ thần kinh não, tạo mạch máu co cứng lại, đưa áp xuất máu tăng cao, từ đó dễ làm tim ngừng đập bất thình lình. Trạng thái giận dữ có thể phát xuất từ nhiều nguyên nhân như đời sống quá căng thẳng, cô đơn, ưu phiền, tâm trạng thù địch, gặp nhiều điều không vừa ý, nhìn cuộc đời với tâm trạng chán chường v.v. Cộng vào đó với tình trạng thiếu cân bằng dinh dưỡng, ăn quá nhiều chất béo, ít vận động cũng dễ gây bệnh tim.

    Theo y học Ðông phương nóng giận không chỉ gây tác động đến tim còn ảnh hưởng xấu đến gan bộ phận thuộc về tạng và mật thuộc về phủ.

    * Si
    Về mặt triết tự theo Hán ngữ chữ Si thuộc về bộ Nạch có nghĩa tật bệnh, kèm theo với chữ “nghi” có nghĩa là ngờ, lòng còn bán tín bán nghi chưa tin và theo Anh ngữ dịch là ignorance. Như vậy Si là trạng thái bệnh hoạn thuộc về trí não, ở trong điều kiện chưa hiểu thấu đáo, rốt ráo dễ rơi vào tâm trạng nghi ngờ, với trong hoàn cảnh nào đó cũng có nghĩa là ngu dốt. Danh từ này thường hay dùng trong Phật giáo có nghĩa trạng thái u mê, không sáng suốt. Khi con người rơi vào tình trạng đau ốm thì lại càng thiếu minh mẫn, và không nhìn thấy căn nguyên của bệnh tật, vả lại tâm lý người bệnh có khuynh hướng tìm phương cách chữa trị theo cách “mì ăn liền”, có nghĩa làm sao hết đau, hết bệnh ngay. Từ đó dễ đưa đến hành động nông nổi có hậu quả xấu cho sức khỏe. Nhân đây cũng nói qua về chủ trương tu thân của nho giáo, người muốn tu thân phải làm cho tâm ngay thẳng, muốn cho tâm ngay thẳng cần phải có Ý cho Thành, muốn cho Ý thành cần phải Trí Tri tức phải hiểu biết tường tận, muốn hiểu biết tường tận cần phải tìm rõ nguồn cội sự vật. Ðây cũng là phương pháp để thoát ra khỏi trạng thái Si.

    Nền y học hiện đại có khuynh hướng chú trọng vào cách chữa trị những đau đớn về thể xác, giải phẫu, thay ráp tim, thận v.v, điều chỉnh các cơ năng dường như mang tính chất sửa chữa một bộ phận nào đó trong một cỗ máy phức tạp, mà coi nhẹ căn bệnh có tính chất tâm lý, tình cảm hay tinh thần, thiếu cái nhìn toàn diện. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng, tác dụng hổ tương lẫn nhau. Các nhà Y khoa đều công nhận rằng trạng thái nóng giận, buồn bã, quá vui, quá buồn đều có tác dụng không tốt cho sức khỏe của thân thể. Theo những nghiên cứu y-học cho thấy những người ở trong tình trạng giận, buồn, không vui hay căng thẳng quá độ, não bộ tiết ra chất hormones gọi là độc tố adrenaline, nếu không là adrenaline đi nữa cũng là những độc tố có hại cho cơ thể. Do đó tình trạng mất thăng bằng về tình cảm kéo dài sẽ gây ra tai họa cho cơ thể, đưa đến tình trạng càng thêm khó khăn cho việc chữa trị. Trong khi đó cũng theo kết quả nghiên cứu khoa học, những người ngồi thiền định, hay trong trạng thái thư thái, tập trung tư tưởng hệ thống não bộ tiết ra chất hóa học giúp cho tâm hồn thật sự an bình, không còn căng thẳng, tiêu cực .

    Nghiệp Bệnh
    Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa đích thực của nghiệp là gì? Nghiệp được dịch sang từ tiếng Phạn gọi là karma, có ý nghĩa hành vi, tư tưởng của mỗi cá nhân, từng con người trong tiền kiếp và hiện tại, từ đó hình thành con người ngày hôm nay. Người Việt thường hay nói “gieo gió gặt bão” hay là “nhân nào quả đó” phản ảnh phần nào quan niệm về “nghiệp”. Trong tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tàng” có câu kệ sau:

                            “Chư ác mạc tác
                             Chúng thiện phụng hành
                             Tự tịnh kỳ ý
                             Thị chư phật giáo
    ”

    Có nghĩa như sau:

                              Ðừng làm điều ác
                              Hãy làm điều lành
                              Ý trở lên thanh tịnh
                              Ðó là lời dạy của Phật


    Với những lời kệ đơn giản vừa hàm ý khuyên bảo vừa nói lên điểm quan trọng trong việc hình thành nhân cách, và cũng có thể gọi là nghiệp của mỗi con người là ý tưởng. Ðiều gì mang tính chất quyết định hình thành con người? Ðó chính là thân, khẩu và ý. Ðơn cử thí dụ, có người bày đặt chuyện dối trá người khác. Nếu như câu chuyện không thật đó không gây tổn thương đến người nghe thì cũng được đi, nhưng người nẩy ra ý tưởng, và nói điều đó ra đã tạo “nghiệp” cho chính bản thân, và đó cũng là nguồn gốc hình thành nhân cách. Nhưng nếu câu chuyện không thật đó gây tổn thương về mặt tinh thần hay vật chất đến người nghe, chắc hẳn hành vi này hay “nghiệp” đã tác động không chỉ bản thân người nói mà còn đến người nghe nữa. Nếu như mẫu chuyện đó tiếp tục ám ảnh cả người nói lẫn người nghe, có nghĩa do từ ý nghiệp đưa đến khẩu nghiệp đã tác động đến thân, và đó cũng là nguồn gốc của bệnh.

    Trong “Chỉ Quán Tọa Thiền” có viết “Nếu nghiệp tội là sát sanh thì gan và mắt bệnh. Nếu nghiệp tội do uống rượu thì tim và miệng bệnh. Nếu nghiệp tội là dâm dục thì thận và tai bệnh. Nếu nghiệp tội nói dối thì lá lách và lưỡi bệnh. Nếu nghiệp tội là trộm cắp thì phổi và mũi bệnh.”.

    Ðiều này nói lên tính chất tương quan mật thiết không thể nào tách rời giữa thân, khẩu và ý. Trong ba thành tố hình thành con người, thành tố ý là chủ đạo, là nguồn gốc để đưa đến lời nói, và sau đó là việc làm. Ðức Phật cũng nêu thêm về yếu tố cha mẹ, tổ tiên, ẩm thực tức dinh dưỡng và tri thức.

    Về yếu tố phụ mẫu, vì có cha có mẹ thì mới có chúng ta, đây cũng là cái ân cần phải báo đáp. Ngoài cái ân ra có những cái thừa hưởng từ cha mẹ, nói cách khác đó là yếu tố di truyền. Yếu tố này vượt ra ngoài tầm tay, khả năng, ý chí tự do lựa chọn của mỗi người, nó mang tính chất thụ động trong việc tạo dựng nhân cách cũng như nghiệp.

    Khi nói đến ý thức là phải nói đến ngũ uẩn tức mắt, tai, mũi,miệng và cảm giác, có nghĩa chúng ta đã nhìn thấy cái gì, nghe điều gì, ngửi mùi gì v.v. những cảm giác này gây thành ý thức và cũng từ đó tác động đến yếu tố tạo thành con người. Khái niệm hình thành con người ngoài những yếu tố trên, còn có thêm tính chất ý chí tự do trong cuộc sống và kèm theo đó con người bị chi phối bởi quy luật nhân duyên, vô thường, vô ngã và nhân quả.

    Trong Kinh Pháp Cú có nói:

    “Làm điều ác tự chính bạn trở lên ô uế
    Không làm điều ác, tự chính bạn trở lên thanh tịnh.
    Tự mỗi người chúng ta làm cho chính chúng ta trở lên thanh tịnh, hay trở thành ô uế.
    Không ai có thể làm người khác trở lên thanh tịnh
    .”

    Từ câu kinh trên cho thấy bệnh tật là do tự chính mỗi người chúng ta tạo thành chứ không ai khác, có thể do túc nghiệp hành vi trong quá khứ, hay trong hiện tại. Khi hiểu được nguyên nhân rồi, thì câu hỏi đặt ra là làm sao chữa trị căn bệnh.

    Tái Tạo Nguồn Sinh Lực
    Bệnh tật sinh ra gồm nhiều yếu tố tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe thân thể, cách tư duy, lối sống, tập quán, nơi sinh sống, môi trường xung quanh và còn phải kể thêm đời sống tâm linh, yếu tố di truyền, ẩm thực cũng như văn hóa xã hội đang sống. Khi những yếu tố nội ngoại mất cân bằng, mọi tình trạng quá độ, cuộc sống quá căng thẳng, âu lo cũng là nguyên nhân sinh ra bệnh. Do đó chúng ta cần biết điều hòa, cân bằng những điều nêu trên, nhìn một cách toàn diện tâm và thân, kèm theo phương pháp tu tập như thiền định, điều tức hằng ngày, dinh dưỡng đúng đắn sẽ giúp phòng ngừa bệnh tật, có cơ thể khỏe mạnh, đời sống lành mạnh, vui tươi.

    Làm thế nào để có thể điều hòa những yếu tố bên ngoài với mọi bộ phận bên trong cơ thể là cơ cấu cực kỳ tinh vi, phức tạp không khác gì tiểu vũ trụ. Chẳng hạn tổng số chiều dài những mạch máu trong cơ thể là 96 ngàn triệu kilometers, có nghĩa dài gấp hai lần chu vi quả địa cầu. Ðiều này cho thấy cơ thể con người chúng ta cực kỳ vi diệu mọi bộ phận từ bé cho đến lớn liên hệ chằng chịt lẫn nhau vượt ra ngoài sức tưởng tượng bình thường. Chính vì lý do này hẳn nhiên phải có quy luật tự nhiên về sự sống để phối hợp điều hành mọi cơ quan những vận chuyển trong lẫn ngoài cơ thể .

    Chúng ta tạm gọi quy luật tự nhiên đó là “sức sống” hay “sức sinh tồn”, người Ấn Ðộ gọi là Prana, người Hy Lạp gọi là Pneuma, người Nhật Bản gọi là Ki, người Trung Hoa gọi là Chi, và người Việt gọi là Khí. Nguồn “sức sống” này di động đi khắp toàn thân, mọi mạch máu, mọi tế bào của mọi bộ phận cung cấp dinh dưỡng, bảo vệ sự sinh tồn, tạo thành nguồn năng lực cho sự sống, và theo đó nó toát hiện ra bên ngoài thân thể trên bộ mặt, làn da v.v. Về mặt tinh thần sức sống mạnh làm nẩy nở những đức tính như can đảm, hy vọng, vị tha kèm theo lý tưởng có mục đích trong đời sống. Do tính chất quan trọng của “khí” trong sự sống mà trong y học Ðông phương có nói:” Huyết giống như nước, khí giống như gió, nước di động là do sức đẩy của gió, huyết vận chuyển là do khí dẫn đi”. Quả đúng như thế, máu có vận chuyển điều hòa được hay không là nhờ vào hồng huyết cầu có cùng với oxygen từ phổi di động đến các tế bào một cách trôi chảy hay không. Ðây là một chu kỳ tuần hoàn liên tục mãi mãi không ngừng nghỉ của Khí cũng có thể nói là dòng sinh mệnh.

    Ðể cụ thể làm thế nào nguồn năng lực này sinh động điều hòa, Phật giáo đưa ra một số phương pháp tái lập cân bằng thân tâm, dinh dưỡng được xem như những liều thuốc chữa trị trong mọi hoàn cảnh đời sống.

    Phật giáo rất chú trọng đến ẩm thực vì nó là nhu cầu cần thiết hằng ngày để nuôi dưỡng thân thể, thanh tịnh hóa thân xác, và đó cũng là yếu tố quan trọng hình thành con người, và cũng bởi vì chỉ có thân thể kiện khang mới có đời sống hữu ích giúp người, giúp đời.

    I. Dinh Dưỡng
    Thứ nhất phương pháp dinh dưỡng, người xưa thường nói:”Tai họa do lời nói sinh ra, bệnh tật do thức ăn mang từ mồm vào.” Hay trong kinh cũng có viết:”Khi ăn chúng ta phải tâm niệm thức ăn như những liều thuốc. Ðừng ăn nhiều quá hay ít quá đều không tốt cho sức khỏe. Với lượng ăn tiết độ đủ để nuôi dưỡng thân thể, đừng để đói, đừng để khát sẽ tránh được bệnh tật.”. Người phương Tây cũng hay nói:”Tùy theo những gì bạn ăn, bạn sẽ là như thế” (you are what you eat). Do đó cả đông lẫn tây đều công nhận chất dinh dưỡng trong thức ăn đóng vai trò quan trọng tạo đời sống khỏe mạnh và trường thọ. Theo Phật giáo để có thân thanh tịnh, chúng ta nên ăn nhiều thực vật bao gồm ngũ cốc, rau, trái cây, bớt đi chất thịt động vật.

    Nhân đây đơn cử vài lợi ích của việc ăn nhiều chất rau đã được khoa học thực chứng, theo kết quả nghiên cứu của Ðại Học UCLA, những người thường ăn rau, ngũ cốc lượng nguyên tố Serotonin (5-hydraxytryptamine) tiết ra từ não bộ nhiều hơn những người ít hay không ăn rau, trái cây, và nguyên tố này giúp cho tinh thần lạc quan, ít lo lắng, không rối loạn và thư thái. Khi lượng nguyên tố này xuống thấp sẽ khiến con người hay dễ thất vọng, chán nản, buồn rầu .

    Ngoài ra theo kết quả nghiên cứu của tạp chí The New England Journal of Medicine cho biết chất rau hay những chất xơ (fiber) có tác dụng giảm, loại trừ chất estrogen trong người phụ nữ giảm thiểu khả năng bị ung thư vú. Với chất rau (phytoestrogens) nhất là cà chua giúp chống lại ung thư nhiếp hộ tuyến ở nam giới. Ðặc biệt loại rau súp lơ xanh (Brocolli) có chất hóa học gọi là sulforanphane mang tác dụng tống những chất độc trong máu và tế bào ra ngoài..

    Hơn nữa thực phẩm dựa vào ngũ cốc, rau, trái cây ngoài việc giúp cho sự tiêu hóa dễ dàng, còn giúp chống lại tình trạng oxidant các phân tử trong tế bào, có nghĩa làm trẻ ra và sống lâu.

    II. Luyện Thân Tâm
    Thứ hai là phương pháp tu dưỡng tinh thần, có nghĩa tu học Phật pháp, giáo lý giúp cho tư tưởng, ý nghĩ được thanh tịnh. Chúng ta có thể thâu tóm trong tinh thần Lục Ba La Mật gồm có Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, Thiền Ðịnh và Trí Tuệ.

    Hạnh Bố Thí nuôi dưỡng tình thương nghĩ đến người không may mắn, xấu số. Với đức tính này sẽ giúp và chữa trị cho lòng tham.
    Những người tu tại gia có một số giới luật căn bản như không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm, không sát sinh, không uống rượu. Nếu chúng ta tâm niệm duy trì những giới luật này trong đời sống hằng ngày sẽ chữa trị căn bệnh phạm pháp, cộng đồng, xã hội trở lên tốt đẹp và tâm hồn trở lên thanh tịnh. Hơn nữa người tu tập Phật giáo phải thường xuyên “suy ngẫm về thân thể mình, từ gót chân đi lên trên, từ tóc trên đầu đi xuống dưới, với lớp da bọc lấy thân thể đầy rẫy những vật ô uế. Trong thân xác này gồm có: Tóc trên đầu, lông trên thân thể, móng tay, răng, da, bắp thịt, khớp xương, tủy, thân; tim, gan, màng huyết thanh, lá lách, phổi; Ruột, màng ruột, bao tử, vật bài tiết, óc; Nước mật, dịch vị, máu mỡ, chất béo.” . Phương pháp quán tưởng này giúp chúng ta thấy cần phải tẩy uế, thanh tịnh hóa xác thân tránh xa những ý tưởng có hại cho sức khỏe.
    Hạnh nhẫn nhục phát triển đức tính khiêm cung, nhã nhặn, khai mở lòng bao dung tha thứ từ đó diệt trừ căn bệnh hận thù. từ đó giúp rất nhiều cho bộ phận gan.

    Hạnh thiền định quán tưởng được lý vô thường, mọi sự vật là Không, chữa trị tâm hồn bất an, dao động, sẽ cảm thấy những cảm xúc tạo ra bởi ngũ uẩn là không thực. Thiền định trong thế tĩnh giúp tăng cường sức khỏe đưa khí trời trong sạch (oxygen) vào trong người đồng thời đưa những chất thán khí (carbon dioxide) theo hơi thở ra ngoài. Ngoài ra chúng ta có thể thiền định trong thế động như Thái Cực Thiền Dưỡng Sinh vận động toàn thân.

    Hạnh tinh tiến giúp hành giả nhủ lòng cái học cái biết ngày hôm nay có thể sẽ lỗi thời không còn phù hợp cần phải thay đổi, chữa trị căn bệnh lười biếng, nỗ lực học tập tinh tấn không ngừng, làm việc giúp người.

    Hạnh trí tuệ nhận chân cái ngã chân thật bất diệt, thường hằng là người cầm cương dẫn dắt năm con ngựa tức ngũ uẩn đi đúng đường vượt qua những đoạn đường quanh co khúc khủy, mở đường khám phá cả thế giới chân trời mới nằm đằng trước mặt, giải phóng ra khỏi những ảo tưởng, thoát khỏi sự giam hãm do dục vọng tạo ra, chữa trị căn bệnh u mê, tăm tối đạt đến cảnh giới tự do tự tại.

    Nói chung con người phiền não, đau khổ, thất vọng, chán chường, bất an, trống rỗng là vì có khuynh hướng hướng ngoại, phân biệt ta và người, hằng ngày nhìn trong gương thấy ta khác người, nhìn cái giả cho là thật. Ngay chính thân xác của chúng ta thay đổi từng giây từng phút, mỗi khoẳng khắc là hằng triệu tế bào chết đi, đào thải và hằng triệu tế bào mới sinh sản ngay trong cơ thể. Vì thế cần phải đẩy lui những phiền não, không thật ra ngoài để thăng hoa trở lên an vui thanh thản hạnh phúc trở về với chân ngã, là những cái nằm bên trong con người chứ không ở đâu khác. Khi con người rơi vào tình trạng u mê, vô minh, vọng động thì Phật giáo đề xuất phương cách giải quyết là quán tưởng cái lý vô thường của vạn vật, có nghĩa không quá đam mê và chấp trước hay bám víu vào nó. Vì mọi vật đều theo lý nhân duyên, nhân quả mà kết hợp thành và rồi cũng theo đó mà tan đi giống như cát bụi trở về cát bụi. Mọi hiện tượng xuất hiện trên thế gian này ngày hôm nay rồi sẽ biến mất đi nay mai, không một sự vật nào tồn tại mãi mãi. Vậy tại sao chúng ta bám víu vào nó để rối đau khổ và sinh bệnh. Một vị cao tăng đời nhà Minh bên Trung Quốc, Hàn Sơn Thập Ðắc đã nói:”Không một ai sinh ra trên cõi đời này để già, bệnh và chết thay cho bạn. Những đau khổ này chính bạn phải nhận lấy. Mọi đắng cay ngọt bùi của cuộc đời phải tự chính bạn trải qua mà thôi.” Do đó tự mỗi người phải tự chính mình tỉnh thức, hiểu rõ căn nguyên sự vật để làm sao sống một đời sống không ốm đau bệnh tật.

    Từ cổ chí kim, Ðông cũng như Tây không một ai phủ nhận sức mạnh tinh thần trong việc chinh phục bệnh tật, duy trì sức khỏe, thăng hoa đời sống nội tâm và thành công trong cuộc đời. Người phương Tây thường hay nói “Bạn nghĩ gì bạn sẽ là như thế” (As you think, you become), nói lên sức mạnh vô song của tinh thần. Với sức mạnh gì Armstrong vô địch liên tục sáu lần đoạt giải quán quân huy chương vàng vòng đua xe đạp Tour de France song song với đó đã phải khắc phục, chiến thắng căn bệnh ung thư hằng ngày công phá cơ thể anh. Với đức tin nào mà những nhà sư chỉ với manh áo thô sơ có thể chịu đựng cái lạnh như cắt ở vùng núi Hy Mã Lạp Sơn quanh năm tuyết phủ. Với ý chí nào đã giúp con người Abraham Lincoln vượt qua bao chông gai thử thách cuộc đời xuất thân trong gia đình nghèo, mẹ mất sớm, không có tiền đi học phải làm đủ mọi nghề để mưu sinh, vừa làm vừa học, có lúc rơi vào cảnh tuyệt vọng, gia tài khánh tận. Cuối cùng với niềm tin sắt đá vào lý tưởng ông đã đắc cử trở thành vị Tổng Thống thứ 16 của Hợp Chủng Quốc, người đầu tiên tuyên bố giải phóng nô lệ, dù sau bao nhiêu lần thất bại trong những cuộc tranh cử vào tòa nhà Quốc Hội. Niềm tin, tinh thần lạc quan đóng vai trò không nhỏ trong đời sống.

    Nếu khi chúng ta nhận biết và hiểu rõ lý vô thường của sự vật, về ngay chính con người mình với những thói hư, tật xấu cần phải thay đổi, những biến hóa thay đổi liên tục không ngừng từ thể xác cho đến tâm hồn, phân biệt được cái ta tạm thời và cái ta vĩnh cửu, bất diệt và những nỗi đau khổ không thể tránh được trên cuộc đời này với tâm bình thản là khi chúng ta đã có được liều thuốc thần dược, niềm hạnh phúc bất tận. Khi ấy chúng ta có khả năng điều chỉnh những nỗi cảm xúc, dằn nén cơn nóng giận, biết tha thứ cho tha nhân, tâm hồn trở nên trong sáng, tăng sức mạnh nội tâm, nguồn năng lực sống, có cái nhìn lạc quan, tin tưởng về cuộc đời. Khi ấy chúng ta biết cách giải quyết một cách ổn thỏa những dao động và từ đó cơn bệnh cũng sẽ giảm từ từ. Một người thực sự khỏe mạnh là người tràn ngập sức sống, năng động, yêu đời, yêu người và cũng từ đó toát ra một vẻ đẹp tự nhiên qua khuôn mặt. làn da và cả nụ cười.

    “Thân Tâm Nhất Như” tâm hồn và thể xác tuy hai mà một là tư tưởng trị liệu căn bệnh toàn diện hữu hiệu, là chiếc xe, đôi cánh đưa con người đến chân trời hạnh phúc, trường thọ thiếu một trong hai thứ trên không thể nào đạt được điều mong muốn. Tâm hồn là cái trường cửu mãi mãi cần phải đi đôi với cái “đại ngã” chứ không phải cái tôi nhỏ bé. Có nghĩa để cho “Tâm” đạt đến cảnh giới bất tử chúng ta cần phải thăng hoa cái “Thân” nhỏ bé như hạt cát trong biển cả vào cảnh giới thanh văn, bồ tát, khai mở tiềm lực vô hạn nằm sâu trong tiềm thức, vượt qua những ảo tưởng, dục vọng thế gian, và những trạng thái bất an, lo lắng, sợ hãi từ từ biến mất không còn nữa.

    Một khi chúng ta áp dụng những nguyên tắc chữa trị y học theo Phật giáo thì lòng tham sẽ thay thế bằng tâm bố thí, giận dữ thay thế bằng tình thương, u mê thay thế bằng trí tuệ. Khi ấy mọi bệnh tật sẽ tiêu tan thay vào đó là sức khỏe. Khi chúng ta có được tâm hồn bình thản trong mọi trạng huống, có nghĩa những độc hại đã bị đẩy lui ra khỏi tâm trí và thân thể là khi ấy chúng ta có được sự hòa hợp giữa thân và tâm, và bệnh tật không còn nữa. Nói cách khác chúng ta có dũng cảm thay đổi cách sống, lối nhìn về cuộc đời với con mắt tích cực, yêu thương tha thứ, năng vận động thân thể, thay đổi cách dinh dưỡng ẩm thực toàn diện. Ðây chính là cuộc cách mạng bản thân, và cũng theo đó mọi tế bào xấu, ung thối, chất độc sẽ từ từ bị đào thải ra ngoài cơ thể, và một thân thể kiện khang, một tâm hồn trong sáng, lành mạnh sẽ thành hình.

    Lý tưởng của Y học đã được minh chứng qua lời tuyên thệ Hippocratic oath từ 2500 năm qua là tôn trọng sự sống, phục vụ lợi ích sức khỏe con người chứ không vì tư lợi, không dùng con người như vật thí nghiệm Tinh thần này nói lên phần nào tư tưởng Phật giáo, mục đích tu tập theo Phật giáo là để có sức khỏe trở thành Kim Cương Thân vì “Sức khỏe không chỉ làtrạng thái không yếu đuối hay không bệnh tật mà còn là niềm hạnh phúc trọn vẹn mang tính chất xã hội bao gồm tinh thần lẫn vật chất”

    Nguồn tin: tuetinhlienhoa.com.vn

Chữa bệnh từ cây chùm ngây


                                                                          Chùm ngây trổ bông - Ảnh:  K.V


Ngoài việc dùng để trị các bệnh u xơ tiền liệt tuyến, suy nhược cơ thể, thần kinh; giúp ổn định huyết áp, đường huyết; chữa tăng cholesterol; chùm ngây còn là thuốc ngừa thai...

Giá trị dinh dưỡng

Như đã giới thiệu về "cây thần diệu" Moringa - tức là cây chùm ngây, rất có ý nghĩa trong việc chống suy dinh dưỡng tại các khu vực đói nghèo. Chùm ngây không chỉ là thực phẩm mà còn là dược liệu.
Chùm ngây ra trái
Theo lương y Nguyễn Công Đức - giảng viên khoa Y học cổ truyền (ĐH Y Dược, TP.HCM), chùm ngây đã được biết đến và dùng nhiều hơn nghìn năm nay ở các nước có nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ý, Ấn Độ. Do có nhiều hữu ích, nên hiện nay đang có chương trình khuyến khích trồng cây chùm ngây ở 80 quốc gia trên thế giới.  

Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, vitamin, beta-caroten, acid amin và nhiều hợp chất phenol. Cây chùm ngây cung cấp một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất quý hiếm như zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquinic acid và kaempferol. Theo các nghiên cứu khoa học của nước ngoài, trong lá và hoa còn tươi của cây chùm ngây được đánh giá như sau: lượng vitamin C cao hơn gấp 7 lần so với lượng vitamin C có trong quả cam; gấp 4 lần lượng can-xi và 2 lần lượng protein của sữa; hơn 4 lần vitamin A của cà rốt; hơn 3 lần potassium của chuối. Như vậy cây chùm ngây là nguồn thực phẩm có giá trị cao.

Chữa bệnh

Nhiều nước đã sử dụng chùm ngây làm thực phẩm và làm thuốc. Lương y Nguyễn Công Đức cho biết: chùm ngây được dùng chữa các bệnh như: trị u xơ tiền liệt tuyến - bằng cách, dùng 100gr rễ chùm ngây tươi và 80gr lá trinh nữ hoàng cung tươi (hoặc dùng rễ chùm ngây khô 30gr và lá trinh nữ hoàng cung khô 20gr). Đem nấu với 2 lít nước, nấu còn lại nửa lít thuốc. Uống ấm 3 lần trong ngày; trị suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, giúp ổn định huyết áp, ổn định đường huyết, bảo vệ gan - bằng cách, mỗi ngày dùng 150gr lá chùm ngây non rửa sạch, giã nát, thêm 300ml nước sạch vắt lấy nước cốt (hoặc dùng máy xay sinh tố), thêm 2 muỗng canh mật ong trộn đều, chia uống 3 lần dùng trong ngày; trị tăng cholesterol, tăng lipid máu, tăng triglycerid, hoặc làm giảm acid uric, ngăn ngừa sỏi oxalate - bằng cách, mỗi ngày dùng 100gr rễ chùm ngây tươi (hoặc 30gr khô) rửa sạch, nấu với 1 lít nước, nấu sôi 15 phút, để uống cả ngày.

Ngoài ra, chùm ngây còn có công dụng ngừa thai, đây là loại cây được đồng bào người Raglay dùng làm thuốc ngừa thai - cứ 5 ngày thì dùng 2 nắm rễ cây chùm ngây còn tươi (150gr) rửa sạch băm nhỏ nấu với 2 lít nước, nấu còn nửa lít thuốc, chia uống 2 lần trong ngày. Phụ nữ Raglay trong tuổi sinh đẻ nếu uống nước sắc rễ chùm ngây thì sẽ không có thai. Tuy nhiên, cần lưu ý, phụ nữ đang có thai thì không được dùng cây chùm ngây. Chùm ngây còn được dùng để lọc nước - bằng cách lấy 2 trái chùm ngây tươi đã có hột già, lấy hột giã nát, trộn đều 5 phút với 3 lít nước đục, để lắng 2 giờ thì có nước trong dùng được.

Thanh Tùng
Việt Báo


 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com