Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học đông phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học đông phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự thật về việc chữa bệnh diệu kỳ của một lương y

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012 | 20:34


Bác sĩ Nguyễn Nhật Tân, Chuyên khoa Lồng ngực - Tim mạch Bệnh viện 115 (TP.HCM) bị tai biến, miệng bị méo và đôi mắt khó cử động. Ngay sau khi được thầy Yên bấm huyệt, con mắt của bác sĩ Tân đã cử động linh hoạt hơn và tròng đen thẳng trở lại chứ không bị xếch sang một bên nữa.

Những câu chuyện về phương pháp trị bệnh kỳ diệu của lương y (LY) Võ Hoàng Yên đang là chuyện "nóng hổi" trong giới đông y, tây y. Có người nghe kể lại hay đọc báo tỏ ra hoài nghi, có người đã từng gặp, từng xem cách chữa trị bệnh bằng phương pháp bấm huyệt đạo của ông thì tin tưởng, khen ngợi tài năng hiếm thấy của LY này.
 
Đặc biệt là đối với những người dân được LY chữa khỏi bệnh tại chùa Thiên Ân (phường Thuận Giao, TX. Thuận An) thì không ngớt lời khen ngợi, tôn vinh phương pháp trị bệnh hiệu quả, nhanh chóng của vị LY này.

                          Thầy Yên (phải) trị bệnh cho cháu Phạm Hữu Tâm (Đồng Nai)
 
Mong xã hội ngày càng có nhiều thầy Yên trị bệnh giúp đời
 
Chiều 23-4, chúng tôi đã trở lại chùa Thiên Ân để tìm hiểu thêm thông tin về phương pháp trị bệnh kỳ diệu của LY Yên. Mặc dù đã xế chiều, nhưng vẫn có nhiều người vào chùa hỏi thông tin về thầy Yên.
 
Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm, trụ trì chùa Thiên Ân, cho biết, tính đến nay đã 3 lần thầy Yên trị bệnh cho bà con tại chùa. Do nhiều người được thầy Yên trị khỏi bệnh hoặc thuyên giảm nên truyền miệng nhau đến chùa hỏi thăm thông tin.
 
Đặc biệt là sau khi báo Bình Dương đăng bài về phương pháp chữa trị bệnh của thầy Yên, cả ngày 23-4, điện thoại của chùa trở nên quá tải vì khắp nơi điện thoại tới hỏi thăm thông tin về thầy. "Sau khi thầy Yên trị bệnh hiệu quả cho người dân, trong đó có nhiều y, bác sĩ và cán bộ ngành y tế, ai cũng mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên nhanh chóng được nhân rộng để giúp đời" - Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm nói.
 
Chiều 23-4, bà Võ Thị Năm (SN 1938, ngụ đường Lê Hồng Phong, P.Phú Thọ, TX.TDM) cho hay bệnh của bà đã vơi giảm hẳn.
 
Trước đó, bà không đi đứng được, các khớp xương chân, cột sống đều tê cứng, miệng nói ú ớ không ra tiếng. Thay vì đi bệnh viện nhưng do biết tin LY Yên đang trị bệnh tại chùa Thiên Ân, bà đã được người nhà "khiêng" đến để thầy Yên trị bệnh. Sau khi được LY Yên đả thông huyệt đạo, bà đã đi, đứng lại được, nói ra thành tiếng.
 
Bà Năm cho hay: "LY Yên trị bệnh hiệu quả hiếm thấy. Tôi mong muốn phương pháp trị bệnh này cần nhân rộng để mọi người không may mắn tìm lại được niềm vui. Giá như xã hội này, ngày có càng nhiều thầy Yên thì hay biết mấy cho người dân". 
 
Theo tìm hiểu của phóng viên báo Bình Dương, ngày 23-4, tại khu vực chùa Thiên Ân, người được LY Yên trị khỏi bệnh cũng như những người đã từng chứng kiến hàng giờ đồng hồ việc LY Yên và nhóm học trò trị bệnh cho người dân đều mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên được nhân rộng.
 
Rất nhiều cán bộ khu phố Hòa Lân 1, P.Thuận Giao, TX.Thuận An cho hay, nếu phương pháp trị bệnh của thầy Yên được nhân rộng thì sẽ giúp được hàng ngàn người bị khiếm khuyết, bại liệt, thoái hóa cột sống, chân tay tê liệt, câm điếc do di chứng tai biến để lại.
 
Anh Trương Văn Hận (SN 1972, ngụ Sóc Trăng, tạm trú tại chùa Thiên Ân), cho hay: "Trước đây, anh khom lưng, đứng lên ngồi xuống không được do bị thoái hóa cột sống. Tuy nhiên, sau khi được thầy Yên trị bệnh, anh đã lành bệnh, trở lại bình thường và đang làm thợ xây dựng tại chùa Thiên Ân. Do vậy, anh cũng mong muốn phương pháp trị bệnh của thầy Yên sớm được nhân rộng để giúp những người không may mắn trở lại lành lặn".

 
Lương y Võ Hoàng Yên (trái) bấm khai thông huyệt đạo cho bệnh nhân Đỗ Minh Trường (An Giang)
 
Các nhà chuyên môn nói gì?
 
Trả lời qua điện thoại, bác sĩ Nguyễn Quốc Chính, Phó Chủ tịch Hội Y học Cổ truyền tỉnh Bình Phước, cho biết: "Tôi đã từng chứng kiến và nhìn thấy LY Yên trị bệnh ở Bình Phước. Nhiều năm làm nghề, đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt một LY có thể chữa những căn bệnh nan y một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy. Với phương pháp bấm huyệt do LY Yên thể hiện, tôi cho rằng đây là một hiện tượng mới và hiếm trong y học. Cái cốt lõi là LY Yên cũng trị bệnh, mong muốn giúp đỡ nhiều BN lành bệnh nhưng lại chưa có giấy phép hành nghề hay cơ quan nào kiểm chứng. Do đó, việc thực hiện một đề tài nghiên cứu phương pháp chữa bệnh của LY Yên là cần thiết. Về phía Sở Y tế Bình Phước thì chưa có ý kiến chính thức nào. Tuy nhiên, dự kiến của chúng tôi là sẽ đề xuất cơ quan chuyên môn nghiên cứu một đề tài về phương pháp bấm huyệt đạo của LY Yên trong thời gian tới. Nếu LY Yên chứng minh được phương pháp của mình mang tính hiệu quả về lâu dài và đạt tiêu chuẩn đánh giá thì đây là một đề tài "ích nước, lợi dân".
 
Việc LY Yên trị khỏi bệnh cho nhiều người bị thoái hóa cột sống, đau khớp, bại liệt nhiều năm đứng lên đi lại được hay câm điếc nhiều năm nói lại được là một hiện tượng lạ, xưa nay hiếm thấy ở Việt Nam. Do vậy, việc tạo điều kiện cho LY Yên chứng minh phương pháp trị bệnh của ông mang tính khoa học bền vững là rất cần thiết để tiếp tục chữa trị bệnh cho những người  không may mắn.
 
Theo PGS-TS Nguyễn Thị Bay, Trưởng Bộ môn Bệnh học Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y Dược TP.HCM, với trường hợp chữa bệnh của LY Yên, cần phải có công trình nghiên cứu nghiêm túc. Những nhà nghiên cứu khoa học và người bệnh cần xem hiệu quả thật sự của phương pháp xoa bóp, bấm huyệt gia truyền của vị LY này, lúc đó, mới nên tổ chức điều trị đại trà cho người bệnh. Theo tôi, xoa bóp, bấm huyệt có thể cải thiện được bệnh, góp phần phục hồi hệ vận động trong các trường hợp liệt. Tuy nhiên, hiệu quả phải có thời gian và cần phối hợp trị liệu với nhiều phương pháp khác để vừa phục hồi liệt, vừa điều trị nguyên nhân gây liệt cũng như đề phòng các nguy cơ khác.
 
Hiệu quả về phương pháp của LY Yên cỡ nào? Trường hợp nào LY Yên trị khỏi?...luôn là những câu hỏi đặt ra cho cả người bệnh và là thắc mắc chung của nhiều cán bộ làm công tác quản lý, chuyên môn trong ngành y tế.
 
Nhiều nhà nghiên cứu đông y cho rằng, bệnh bại liệt, câm điếc, nếu bấm huyệt, châm cứu cũng có thể phục hồi. Tuy nhiên, cần xem đó là câm điếc dạng nào. Nếu câm điếc do bẩm sinh, dị dạng sẽ khó điều trị được. Do vậy, trong nhiều trường hợp câm điếc, LY Yên trị khỏi bằng phương pháp bấm huyệt đạo là hoàn toàn có cơ sở.
 
Trả lời câu hỏi này, chính LY Yên cũng khẳng định: "Tôi tìm được phương pháp trị bệnh này chỉ gần 3 năm thôi. Đối với BN bị thoái hóa cột sống, bại liệt 2 tay, 2 chân và một phần thân người, bị câm điếc trong một số trường hợp tôi đều chữa khỏi. Tuy nhiên, tôi khẳng định rằng, đối với nhiều BN bị bại liệt không còn khả năng nhận biết, chân, tay không còn khả năng duỗi thẳng, bị teo cơ quá nặng, trường hợp bại não hay hội chứng down, thì xin đừng đem đến gặp tôi".
 
 
Chiều 22-4, bác sĩ Nguyễn Nhật Tân, Chuyên khoa Lồng ngực - Tim mạch Bệnh viện 115 (TP.HCM) bị tai biến, miệng bị méo và đôi mắt khó cử động, tròng trắng lộ ra nhiều hơn nhưng sau khi được thầy Yên bấm huyệt, con mắt của bác sĩ Tân đã cử động linh hoạt hơn và tròng đen thẳng trở lại chứ không bị xếch sang một bên nữa.
 
Thầy Yên đùa với bác sĩ Tân: "Tôi và ông trao đổi nhé. Tôi chữa lành 50 ca bại liệt, câm điếc thì ông chữa cho 2 bệnh nhân tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn". Nhiều người chứng kiến cảnh bác sĩ Tân mừng rỡ ôm vai thầy Yên và đưa cho thầy tấm danh thiếp đã vỗ tay tán thưởng rất nhiệt tình. Còn bác sĩ Tân cảm động rưng rưng nước mắt: "Tôi vô cùng cảm ơn thầy Yên. Tôi bị tai biến và nghe tiếng thầy qua một người quen, thế là đi theo thử, không ngờ hiệu quả... thế này".
 
Tiến sĩ sử học Đinh Văn Hạnh (Q.11, TP.HCM):
 
Tôi mong xã hội có thêm nhiều thầy như thầy Yên
 
Con gái tôi bị bệnh u não 3 năm nay, khi đó, cháu mới 13 tuổi và nay cháu đã 16 tuổi. Sau những lần trị bệnh và phẫu thuật ở khắp nơi, con tôi vẫn không ngồi, không đi lại được. Con tôi được thầy Yên bấm huyệt, "chỉnh" cột sống cho bớt vẹo và bước đầu, bệnh có tiến triển, con gái tôi tự ngồi được một lúc không cần người đỡ. Tôi mong rằng, những người thầy thuốc gia truyền có tay nghề giỏi như thầy Yên cần tiếp tục chữa bệnh cứu người. Là người làm cha đang tìm mọi cách chữa chạy cho con, tôi cũng mong sao thầy Yên có một địa điểm cụ thể để có thể đem con mình đến chữa bệnh nhiều lần. Những BN bại liệt không đi đứng được, thầy Yên chữa cho lành bệnh, tự đi đứng lại được quả thật là điều kỳ diệu!
 
Ông Nguyễn Trung Hiếu, Nguyên Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Bình Dương:
 
Cần tạo mọi điều kiện cho thầy Yên giúp đời
Cách đây 2 tháng, tôi đã từng gặp thầy Yên để bấm huyệt đạo trị bệnh. Lúc đó, cánh tay phải của tôi bị thoái hóa, không giơ lên được, không móc bóp túi quần sau được. Tôi cũng đã từng đi châm cứu cả tháng trời nhưng không hết. Sau đó, tôi gặp thầy Yên đả thông huyệt đạo trong vài phút là hết hẳn cho đến bây giờ. Cánh tay phải giơ thẳng lên được như xưa. Do vậy, tôi mong rằng, xã hội cần tạo điều kiện tốt nhất cho thầy Yên trị bệnh, giúp đỡ những người không may mắn. Tôi nghĩ rằng, với phương pháp trị bệnh hiệu quả của thầy Yên được nhận rộng thì nhiều BN đỡ phải hao tốn tiền bạc, thời gian để đi trị bệnh khắp nơi.
Theo Hồ Văn - Quỳnh Như (Báo Bình Dương)

Cười không chỉ là một liều thuốc bổ!

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012 | 07:41




Mùa Xuân thường mang lại niềm vui và những tiếng cười rộn rã trong mọi gia đình.  Tiếng cười không chỉ giúp chữa bệnh, cải thiện nhiều chức năng sinh lý trong cơ thể mà còn xúc tiến  bầu không khí hoà hợp và thân thiện trong cộng đồng.

Cơ chế sinh học của tiếng cười

Có lẽ cười là một hình thức biểu lộ cảm xúc đặc trưng mà chỉ con người mới có.  Rabelais, một đại văn hào Pháp ở thế kỷ XVI đã từng viết “Tiếng cười là đặc trưng của con người, là một yếu tố của sức khoẻ, một phương pháp trị bệnh”.  Cười là một phản xạ tự nhiên.  Con người sinh ra đã biết cười.  Thăm dò cho thấy trẻ em cười từ 300 đến 400 lần mỗi ngày, trong khi người lớn thường chỉ cười khoảng 14 lần mỗi ngày.  Tiếng cười dễ xuất hiện ở những người lạc quan hoặc có cuộc sống thoải mái.  Ngược lại, tần suất cười sẽ thưa dần ở người vất vả hoặc có cuộc sống nhiều lo toan, căng thẳng.  Khi có một tác nhân gây cười, tín hiệu sẽ được truyền lên não và phản xạ cười sẽ được chuyển đến các cơ vận động để làm chúng ta cười.  Nhìn từ bên ngoài, cười là một hiện tượng co một số cơ chung quanh miệng và hai mắt  để biểu lộ tình trạng thoải mái và sung sướng về tinh thần.  Quan sát sâu hơn, khi tiếng cười thực sự phát ra, ngoài các cơ mặt còn có sự chuyển động của các cơ ngực, cơ vùng đáy chậu và đặc biệt là các cơ vùng bụng.  Thử cười to và đặt một bàn tay vào bụng dưới, ta có thể cảm nhận dễ dàng những sự rung động của các cơ nầy.  Mới đây, ông Yoji Kimura, một Giáo sư người Nhật đã tiến hành thí nghiệm gắn các máy cảm ứng lên vùng da bụng của những người đang cười để quan sát sự chuyển động của các cơ.  Bằng cách phân tách số liệu liên quan đến sự chuyển động nầy, thiết bị sẽ cho biết mức độ và bản chất của tiếng cười.  Cười thoải mái hay cười gượng ép, cười thân thiện hoà hợp hay cười nhạo báng, mỉa mai.  Thực tế cho thấy khi cười lớn, lồng ngực nở rộng, dung tích phổi có thể tăng lên gấp hai lần so với bình thường, khí huyết lưu thông nhiều hơn, người nóng lên, da mặt hồng đỏ.

Hiệu quả tích cực của tiếng cười đối với sức khoẻ

Từ lâu, mọi nền y học đều công nhận tinh thần thoải mái và sự lạc quan luôn có ảnh hưởng tốt lên sức khỏe con người.  Đối với tiếng cười, một biểu lộ “ra mặt” và tích cực của sự lạc quan thể hiện qua sự rung động của nhiều hệ cơ từ vùng mặt đến bụng dưới thì hiệu quả càng lớn hơn nhiều, nhất là đối với hệ thần kinh và hệ tim mạch.  Tiếng cười là một hình thức vận động cơ thể có thể giảm stress, giảm đau và cải thiện nhiều chức năng sinh lý của cơ thể.

Bằng chứng thuyết phục đầu tiên về công dụng trị liệu của tiếng cười liên quan đến việc điều trị chứng viêm dính khớp đốt sống của ông Norman Causins, một phóng viên người Mỹ.  Chứng bệnh làm ông đau nhức và không đi lại được.  Ông đã kiên trì xem phim hài và đọc truyện trào phúng để tự trị bệnh.  Kết quả là ông đã khỏi bệnh và có thể chơi thể thao như trước.  Trong quyển sách Anatomy of all illness (1979), Causins khẳng định cười 10 phút có thể giúp ông ngủ yên giấc được 2 giờ đồng hồ.  Quyển tự thuật[1] quá trình lành bệnh của ông là một nguồn hứng khởi cho nhiều người trong việc ứng dụng tiếng cười và năng lượng tinh thần cho việc trị bệnh.

Bác sĩ William Fry, Giáo sư về tâm thần học trường Đại học Stanford đã từng nghiên cứu về tiếng cười trong 30 năm.  Ông so sánh động tác cười như một hình thức chạy tại chỗ (inner jogging) và cho biết cười 100 lần một ngày tương đương với 10 phút vận động chèo thuyền[2].  Theo những nghiên cứu của ông, cười làm họat động các cơ toàn khắp cơ thể, mạch máu giãn nở và kích thích tuần hoàn huyết.  Đối với hoạt động nội tiết, cười làm gia tăng sự phóng thích những nội tiết tố tích cực endorphin và serotonin.  Endorphin là một chất giảm đau tự nhiên.  Serotonin có tác dụng chống trầm cảm và mang lại các cảm giác hưng phấn, lạc quan. Do đó, tính hài hước và tiếng cười đặc biệt có khả năng cải thiện các điều kiện tâm lý.  Herbert Lefcourt, nhà tâm lý học tại trường Đại học Waterloo cũng cho rằng tính hài hước và tiếng cười làm dịu đi các cảm xúc tiêu cực[3].

 Hoạt động cơ bắp do tiếng cười mang lại  làm gia tăng khả năng chuyển hoá.  Nghiên cứu của Giáo sư Buchowski, người Anh, cho biết cười gia tăng tốc độ đốt mỡ.  Cười từ 10 đến 15 phút có thể tiêu thụ thêm 20% calori so với người bình thường.  Cười còn làm gia tăng sự tiết mật, tăng sự co bóp của dạ dày và ruột, nên cũng ảnh hưởng tốt đến tiêu hoá và bài tiết.

Đối với hoạt động miễn nhiễm, những nghiên cứu[4] của hai Tiến sĩ Lee Berk và Stanley Tan tại trường Đại học y Loma Linda ở California cho biết cười làm gia tăng tế bào bạch huyết, tế bào lympho T và  B, qua đó tăng cường khả năng chống lại sự xâm nhập của các loại vi trùng  gây bệnh.

 Tiếng cười và bệnh tim mạch

Tiếng cười tác động đến nhiều bộ phận và cải thiện nhiều chức năng khác nhau của cơ thể.  Tuy nhiên, hưởng lợi trực tiếp và đặc biệt nhất là tim mạch.  Nụ cười và sự lạc quan luôn đi đôi với sự hoà hợp, thân thiện và lối sống cộng đồng. Những nghiên cứu của Bác sĩ Dean Ornish, một chuyên gia về bệnh tim người Mỹ cho biết những người thường sống cô độc hoặc hay âu sầu, buồn bã thường dễ mắc bệnh tim.  Ngược lại, tính lạc quan và sinh hoạt cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng để các bệnh nhân tim mạch dễ phục hồi.  Một báo cáo tại hội nghị tim mạch Hoa Kỳ ngày 7.3.2004 cho biết cười 10 phút có lợi ích cho sức khoẻ tim mạch ngang bằng với 3 lần tập thể dục, mỗi lần  30 phút.   Nghiên cứu[5] được tiến hành bởi Bác sĩ Michael Miller thuộc Trung Tâm Y khoa trường Đại học Maryland.  Bác sĩ Miller đã cho 20 người tình nguyện  tham gia thí nghiệm xem các đoạn băng của bộ phim hài King Pin.  Trước và sau khi xem phim, những người nầy được kiểm tra dòng máu và độ giãn nở của động mạch nằm trong cánh tay qua sóng siêu âm.  Kết quả cho thấy sau khi xem phim, mạch máu của 19 trong số 20 người giãn ra và dòng máu lưu thông linh hoạt hơn bình thường trong vòng từ 30 đến 45 phút sau đó.  Ngược lại, khi những người nầy được xem những đoạn phim kinh dị, bạo lực trong phim chiến tranh Saving Private Ryan, mạch máu bị co thắt lại và lượng máu lưu thông giảm đi.  Nói chung, lượng máu giảm 35% sau khi xem phim kinh dị và tăng 22% khi xem phim hài.  Ông Miller cho rằng những cảm xúc căng thẳng rất có hại cho mạch máu.  Ngược lại, tiếng cười có thể trung hoà bớt những cảm xúc tiêu cực trước đó.  Để giải thích điều này, ông cho rằng tiếng cười làm cơ thể tiết ra chất nitric oxide, một chất hoá học tự nhiên làm giãn nở mạch máu.  Theo nhóm nghiên cứu, tiếng cười có tác dụng làm cho các mô tạo thành lớp màng trong của mạch máu giãn nở và tăng dòng chảy.  Lớp niêm mạc nầy cũng có tác dụng điều tiết lượng máu lưu thông, kiểm soát độ đông đặc của máu  đồng thời tiết ra một số hoá chất để bảo vệ khi cơ thể bị  thương tích, viêm nhiễm hoặc kích thích.  Bác sĩ Mililler cũng cho biết những người bệnh tim thường ít cười hơn 40% so với những người cùng lứa tuổi mà không mắc bệnh.  Họ thường ít nhận ra cơ hội để cười.  Ngoài việc cười ít, họ còn là những người dễ hờn, dễ giận.  Theo ông, để điều trị bệnh tim, ngoài việc giảm chất béo, vận động thân thể, ít ăn mặn, không hút thuốc thì liệu pháp hài là một liệu pháp bổ sung hữu ích cho những người nầy.  Hãy lạc quan và sống cởi mở.  Trong một quyển sách[6] đã được xuất bản vào năm 1998,  Bác sĩ Ornish đã viết một ý thoạt nghe rất hài hước nhưng khá ý nhị “Nếu bạn không mở tâm ra cho người khác thì bác sĩ bắt buộc phải mở tim bạn thôi”.

Tim mạch và việc lưu thông khí huyết có liên quan chặt chẽ với các chứng viêm khớp.  Do đó, tác dụng giảm đau và cải thiện tim mạch của tiếng cười cũng tác động rất tích cực đối với chứng bệnh nầy.  Trường hợp tự chữa viêm dính đốt sống của ký giả Causin là một thí dụ.  Giáo sư Tề Quốc Lục, một ngưòi Mỹ gốc Hoa đã từng làm việc nhiều năm cho tổ chức Y Tế Thế Giới, một chuyên viên về lão khoa đã đi nhiều nơi để quảng bá về những bí quyết sống lâu, sống khoẻ.  Khi nói về bệnh thấp khớp, ông nói “Nếu bạn bị viêm khớp, xin đừng lo.  Cứ nhìn vào khớp mà cười ha hả một chốc là không đau nữa”.  Một chứng bệnh mãn tính đã trải qua một quá trình lâu dài thì việc điều trị dứt điểm cũng phải cần những biện pháp tổng hợp cần thiết, kể cả vận động và chế độ ăn uống hợp lý.  Tuy nhiên, liệu pháp cười luôn là một liệu pháp bổ sung hữu hiệu trong những trường hợp nầy.

Trên đây là những nghiên cứu của y học ngày nay về ảnh hưởng của tiếng cười và sự lạc quan đối với tim mạch.  Thực ra, đối với y học phương Đông, điều nầy không phải là điều mới lạ.  Sự lạc quan, thoải mái dễ dẫn đến tâm bình, khí hòa là điều kiện cơ bản của các phương pháp duỡng sinh.  Ngoài ra,  y học cổ truyền cho rằng mỗi loại cảm xúc hoặc âm vận liên quan đến một một loại khí, một hành hoặc một phủ tạng  nhất định trong cơ thể.  Chẳng hạn, buồn bả, u sầu thuộc Phế; vui vẻ, lạc quan thuộc Tâm.  Động tác ho là tiếng của Phế thì  cười là tiếng của Tâm, hoặc hô là âm vận thuộc tạng Tỳ thì A hoặc Ha là một âm vận liên quan đến khí hoá của Tâm hoặc tim mạch.  Do đó trong “Lục tự khí công[7]”, âm A, Ha hoặc Kha là âm đặc trưng của tiếng cười đã được sử dụng để chữa những chứng bệnh liên quan đến Tâm hoặc tim mạch.  Tuy nhiên tiếng cười vẫn có những giới hạn.   Đông y cho rằng một loại cảm xúc thái quá có thể phương hại đến  khí hoặc tạng có liên quan.  Sự vui vẻ, thoải mái luôn luôn có lợi cho sức khoẻ nhưng những tràng cười lớn và sự phấn khích thái quá là một hình thức vận động mạnh có thể gây nguy  hiểm cho  những người đau thắt ngực không ổn định, suy tim nặng hoặc có áp huyết cao trên 180/10mmHg.  Quá trình thư giãn do tiếng cười mang lại là quá trình từ cực dương chuyển sang âm.  Ở những tràng cười quá phấn khích, trước khi giãn mạch và huyết áp hạ xuống là một giai đoạn ngắn – khi tiếng cười phát ra – nhịp tim tăng và nhu cầu dưỡng khí tại cơ  tim cũng tăng, nên có thể gây nguy hại cho những trường hợp trên.

Liệu pháp cười trong điều trị lâm sàng

Sau thảm hoạ sóng thần Tsunami, người ta thấy một chú hề thường đến các phòng bệnh ở các bệnh viện  thuộc Srilanka để thăm viếng và chăm sóc các bệnh nhân, những người sống sót sau thảm hoạ đang được điều trị tại đây.  Đó là Tiến sĩ Hunter Patch Adams, một người Mỹ đã có tham vọng đi vòng quanh trái đất để thay đổi thế giới bằng tình yêu và tiếng cười.  Ông nói “Tiếng cười là phương pháp điều trị tôt nhất”.
Cho đến nay, sự hài hước và tiếng cười đã được sử dụng rộng rãi để làm giảm đau trong các chứng viêm khớp và bệnh ung thư, hai loại bệnh có cường độ đau cao hơn so với các chứng bệnh khác.  Nhiều nghiên cứu[8] cho thấy cười có tác dụng rất tốt trong việc giảm đau và gia tăng cảm giác thoải mái cho người bệnh.  Causins thì cho rằng “Cười giúp người bệnh  có khả năng chịu đựng và tự điều chỉnh tốt hơn”.  Trong bối cảnh của những bệnh viện, những chương trình tạo tiếng cười được thực hiện dưới những hình thức thư viện hài, xe diễn lưu động hoặc những chương trình chăm sóc của những diễn viên hề, những chuyên viên về liệu pháp cười được đào tạo riêng cho chương trình nầy.  Thư viện hài (humour room) có thể được trang bị nhiều loại sách báo, tranh ảnh gây cười, những poster hài, những băng cassette hoặc video về những chuyện vui nhộn.  Tại Alta Vista Lodge, một cơ sở điều trị ung thư thuộc bệnh viện Ottawa Civic, thư viện hài mở cửa phục vụ bệnh nhân 24/24.  Đi xa hơn, một số nơi đã sử dụng hệ thống thu phát hình  để chuyển tải những chương trình gây cười đến tận các phòng bệnh.  Ngoài ra, khi người bệnh bị cách ly hoặc bất động, những xe đẩy được trang bị đầy đủ những phương tiện có thể tạo nên tiếng cười cũng có thể tiếp cận tận giường bệnh.  Tại Bệnh viện Nhi British Columbia, người ta có thể nhìn thấy những quần áo sặc sỡ, đồ trang điểm, những hình nộm, con rối và nhiều hoạt cụ vui nhộn khác.  Không phải nói, những trẻ em sẽ khao khát và thích thú như thế nào khi được chơi đùa, thưởng thức hoặc riêng lẻ hoặc sinh  hoạt nhóm với những hoạt cụ nầy.  Hãy thử hình dung cảnh các em đang phấn khích cười đùa hoặc chọc cười nhau ngay cả với các bác sĩ, y tá.  Không còn đau nhức, sợ hãi hoặc lo lắng.  Không có ranh giới giữa người bệnh và thầy thuốc.  Giữa họ đang phát triển tình thương và tính cộng đồng.
Một hình thức khác của các chương trình hỗ trợ điều trị lâm sàng là những đợt thăm viếng và chăm sóc bệnh nhân định kỳ được thực hiện bởi những chuyên viên hề chuyên nghiệp về liệu pháp cười qua vai trò các bác sĩ hoặc điều dưỡng.  Nổi tiếng nhất là hoạt động của đơn vị “The Big Apple Circus  Clown Care Unit”[9].  Thông qua đơn vị nầy, những chuyến chăm sóc và điều trị ba ngày mỗi tuần của các chuyên viên ở đây được cử đều đặn đến các bệnh viên thuộc khu vực New York cũng như tất cả các bệnh viện nhi trên toàn khắp nước Mỹ.

Cười giúp xúc tiến không khí hoà hợp và thân thiện

Tiếng cười thơ ngây của đứa trẻ có thể xua tan những bất hoà, căng thẳng giữa hai vợ chồng. Nụ cười thân thiện trong một buổi họp có thể làm dịu đi những tranh chấp và xúc tiến tinh thần hợp tác của các bên.  Ngày nay, trong bối cảnh nhịp sống nhanh của thời đại công nghiệp hoá, stress làm gia tăng sự mệt mỏi, gia tăng tỷ lệ số ngày nghỉ bệnh ở một bộ phận nhân viên.  Quan trọng hơn, stress làm giảm năng lực sáng tạo, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ giao tiếp và làm xấu đi hình tượng của cá nhân hoặc tập thể trước mắt đồng sự, đối tác hoặc công chúng.  Tạo dựng nụ cười là biện pháp đơn giản để đối trị lại tình trạng nầy.  Tại Việt Nam, dù có tiếng là một dân tộc lạc quan, hay cười, cũng không tránh khỏi thiếu vắng nụ cười ở những nơi mà nhịp độ làm việc quá căng thẳng như hải quan, bệnh viện...  Đó cũng là lý do khiến nhiều nơi đã phải nhắc nhở các nhân viên của mình phải thường xuyên giữ được nụ cuời trong khi làm việc.  Ở phương Tây, nhiều tổ chức đã được lập ra nhằm cung cấp dịch vụ tư vấn, huấn luyện cho các cơ quan, xí nghiệp về những phương cách để có được bầu không khí hài hước, vui vẻ, thân thiện vừa giúp tăng năng suất vừa nâng cao tính đồng đội trong nhân viên.  Đặc biệt, một nghiên cứu mới đây của  Giáo sư Mark Van Vugt thuộc trường Đại học Kent, Mỹ còn cho biết tâm trạng thoải mái do tiếng cười mang lại còn xúc tiến sự hợp tác và lòng vị tha[10], khiến cho  con người dễ mở tấm lòng và cả mở hầu bao để chia sẽ với người khác và với cộng đồng.  Ông nói “Nghiên cứu nầy có thể gợi ra những hình thức mới giúp các tổ chức từ thiện động viên thêm được nhiều sự đóng góp hơn.”

Tiếng cười và sự lạc quan của người Việt

Vào đầu thế kỷ XX, một bài khảo luận của ông Nguyển Văn Vĩnh liên quan đến tiếng cười của người Việt chúng ta đã được đăng trên tờ  Đông Dương Tạp chí. Bài báo có tựa đề “Gì cũng cười”.  Ông viết “An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười.  Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì mà dở cũng hì, quấy cũng hì.  Nhăn răng cười một tiếng mọi việc hết nghiêm trang.” Ông  là một nhà nghiên cứu văn hoá nổi tiếng, học rộng, biết nhiều, nên điều nhận xét trên hẳn phải có căn cứ.  Dù có ý chê trách nhưng ông cũng đã xác nhận dân ta rõ là có tính lạc quan, hay cười.  Có lẽ chính nhờ tính cách lạc quan nên nhân dân ta mới có đủ nghị lực và niềm tin vượt qua nhiều  gian khó và thăng trầm của lịch sử, không những giữ được nước mà còn mở rộng bờ cõi cho đến hôm nay.
Theo những nghiên cứu của các nhà tâm lý học, tính lạc quan thường đi chung với hoà hợp và dễ tha thứ.  Thực tế nầy là do cơ chế đối lập 2 mặt giữa 2 bán cầu não trái và phải.  Những cảm xúc lạc quan, thoải mái, hoà hợp, dễ tha thứ đều bị chi phối bởi cùng một bán cầu não trái.  Người nào có bán cầu não trái hoạt động nhiều hơn sẽ dễ có những cảm xúc tích cực, dễ lạc quan tha thứ.  Ngược lại nếu có bán cầu não bên phải chiếm ưu thế hơn sẽ dễ bị tác động bởi những cảm xúc tiêu cực như sợ hải, thù hận hoặc lo lắng căng thẳng. 
Hiếm có một dân tộc nào mà có sự hoà hợp và không phân biệt giữa hàng mấy chục sắc tộc anh em như dân tộc chúng ta.  Cũng hiếm có dân tộc nào sẵn sàng mở rộng vòng tay và nụ cười để chào đón thân thiện kẻ thù sau chiến tranh như chúng ta.  Phải chăng đa số người Việt  khi sinh ra đã may mắn có được sự thiên thắng của bán cầu não trái so với bán cầu não phải?
Nói người Việt lạc quan không chỉ là ta khen dân ta theo kiểu “mẹ hát con khen hay”.  Một nghiên cứu được công bố gần đây của tổ chức các nền kinh tế mở (NEF) đã xếp Việt Nam đứng thứ 12 trên toàn cầu và là quốc gia đứng đầu (hạnh phúc nhất) ở châu Á!  Bảng đánh giá, xếp hạng nầy căn cứ vào một số tiêu chuẩn như sự bằng lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình, yếu tố môi trường.  Như vậy người Việt lạc quan, hay cười không phải là một nhận định cảm tính.  Tiếng cười và sự lạc quan có ích cho sức khoẻ, hạnh phúc và dễ mang lại một không khí hoà hợp trong cộng đồng.  Tuy nhiên lạc quan quá mức chưa chắc  là một điều tốt.  Lạc quan đến nỗi ăn uống, chè chén say sưa không cần nghĩ đến hậu quả.  Lạc quan đến nỗi chạy xe lạng lách quá thoải mái, không quan tâm dến luật lệ,  không nghĩ đến tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho bản thân hoặc cho người khác.  Lạc quan đến nỗi lúc nào cũng nghĩ  mình là một ông trời con tha hồ kêu mưa gọi gió, tiếm chức lộng quyền… Những kiểu lạc quan nầy có lẽ cần phải ngưng bớt lại.  Tiếng cười cũng vậy.  Ông bà ta vẫn hay nói ăn coi nồi ngồi coi hướng,cười cũng cần đúng lúc đúng nơi.  Giữa những chốn tôn nghiêm như đền chùa tông miếu,  những giờ phút trang trọng  của hội, lễ, hoặc những nơi đang xảy ra nạn tai, tang chế thì dù có gặp việc “mắc cười” đến mấy cũng phải cố nén lại.  Đó cũng là tránh những cái cười vô duyên mà cụ Vĩnh đã chê trách.  Ngoài ra, những nụ cười cay độc, cười châm biếm hoặc cười khinh miệt, dè biểu không xuất phát từ sự lạc quan hoặc tình thương, không dẫn đến hạnh phúc và sự hoà hợp cũng không phải là những cái cười đáng khuyến khích.
                                                                                                                                          Lương y VÕ HÀ 
 
[1] Norman Causin.  Anatomy of all illness. (1979)
[2] Fry W. The study of humor. Antioch University Press. 1979. Tr56-61..
[3] Leftcourt H. Humor and Life Stress. New York. Springer-Verlag. 1986
[4] Therapeutic benefits of laughter. www.holistic-online.com/humor_therapy
[5] Việt Hải. Nụ cười có lợi cho tim mạch. www.khoahocnet
[6] Dean Ornish. Love & Survival: The scientific basis for the healing power of intimacy. Harper Collins. 1998
[7] Lục tự khí công là một phương pháp khí công  thông qua hít vào, thở ra và vận dụng 6 tự quyết ha, hô, hi, suy, hư, hu trong lúc thở ra cho mục đích chữa bệnh dưỡng sinh.
[8]Christine Puder. The healthful effects of laughter. Journal of Child and Youth Care. Vol.12. 1998
[9] Ken R. Wells. Humor Therapy. www.healthline.com/galecontent/humor-therapy
[10] Andrea Thompson. Laughter May Boost Altruistic Behavior. www.livescience.com.health.

Điều đáng quan tâm về những bữa ăn sáng


Mức độ cholesterol trong ngày bị tác động rất lớn bởi chất lượng của bữa ăn sáng. Không ăn sáng có khuynh hướng làm gia tăng độ cholesterol trong khi  ăn sáng có chất lượng với ngũ cốc thô giúp hạ độ cholesterol trong máu, giảm béo, giảm nguy cơ mắc các loại bệnh tim mạch và gia tăng năng lực trí tuệ.

Bữa ăn sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày.  Điều này không chỉ là kinh nghiệm của những bà mẹ hiền biết cách chăm sóc bữa ăn cho con cái mà còn là một nguyên tắc quan trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ mà những nghiên cứu khoa học gần đây đã chứng minh. Ăn sáng tốt sẽ giúp giảm cân, giảm nguy cơ những loại bệnh tiểu đường, tim mạch và cả ung thư ruột.  Mức độ cholesterol máu trong  ngày bị tác động rất lớn bởi chất lượng của bữa ăn sáng.  Đó là kết quả một cuộc nghiên cứu được phổ biến trên tạp chí The Journal of the American College of Nutrition qua khảo sát chế độ ăn sáng của 11.864 người Mỹ trong thời gian 5 năm[1].  Những người tham gia cuộc thí nghiệm được phân thành 3 nhóm.  Nhóm ăn sáng với nhiều ngũ cốc thô, nhóm ăn sáng với thực phẩm thông thường, không có ngũ cốc và nhóm bỏ bữa, không ăn sáng.  Những người không ăn ngũ cốc ăn thức ăn có nhiều chất béo hơn cả, kế đến là những người không ăn sáng.  Kết quả cho biết những người nam hoặc nữ từ 50 đến 74 tuổi có độ cholesterol trong máu thấp nhất là những người ăn nhiều ngũ cốc.  Đáng ngạc nhiên là những người có độ cholesterol cao nhất lại là những người không ăn sáng!  Một kết quả nghiên cứu khác[2] được phổ biến trên tạp chí Harvard Men’s Health Watch cũng cho biết những người ăn sáng tốt thường thon mảnh hơn những người không ăn sáng.  Ngoài ra, những người bỏ bữa ăn sáng còn có nguy cơ đối mặt với béo phì nhiều gấp 4 lần so với những người ăn sáng. Chưa hết, một số nghiên cứu còn cho thấy những người ăn uống không điều độ, ăn giảm cân nhanh và người hay bỏ bữa ăn sáng dễ có khuynh hướng bị sạn mật do độ cholesterol bị cô đặc hơn[3]. 

  Những nhà khoa học cho rằng chế độ ăn sáng đầy đủ với nhiều carbohydrate phức hợp, nhiều chất xơ là chế độ ăn sáng tối ưu. Những sinh tố nhóm B và nhiều vi chất khác trong thực phẩm thô giúp tăng cường khả năng chuyển hoá của cơ thể.  Lượng chất xơ cao trong những loại hạt toàn phần hoặc rau quả làm chậm sự hấp thu thức ăn. Lượng đường được cung cấp từ từ vào máu vừa tránh được hiện tượng tăng vọt đường huyết sau bữa ăn vừa đảm bảo chất bột đường được chuyển thành năng lượng hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày thay vì tích luỹ thành chất béo.  Sự hấp thu chậm còn duy trì được cảm giác no tránh khuynh hướng ăn nhiều, ăn dậm, ăn thêm những loại snacks có nhiều chất đường hoặc chất béo.  Những lý do nầy có thể giải thích tại sao những người bỏ bữa ăn sáng lại là những người có độ cholesterol cao hơn hoặc nguy cơ béo phì lớn hơn.  Một nghiên cứu được phổ biến trên tạp chí The American Journal of Clinical Nutrition(50,6:1303-1307) còn cho biết những người ăn thức ăn có lượng chất xơ cao tiêu thụ ít hơn 100 calori vào buổi điểm tâm và ít hơn 50 calori vào buổi ăn trưa so với những người ăn ít chất xơ.  Con số không lớn về mặt năng lượng, tuy nhiên về lâu dài, chính điều này sẽ dẫn đến giảm cân.

Những hạt thô bao gồm nhiều sinh tố nhóm B và một số chất khoáng như magnesium, selenium cần thiết cho hoạt động thần kinh.  Ngoài ra, lượng chất xơ cao trong thức ăn thô còn giúp giải phóng từ từ lượng glucose –nguyên liệu chánh cho hoạt động của tế bào não- còn có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động trí tuệ.  Những nghiên cứu của bác sĩ Sarah Brewer, MA. cho biết những trẻ em ăn điểm tâm với ngũ cốc thô học tập tốt hơn so với những em không ăn loại thức ăn nầy.  Chúng biểu hiện nhiều khả năng sáng tạo hơn, sử dụng từ phong phú hơn và khả năng giải các bài tập cũng tốt hơn các trẻ khác.

Một bữa ăn sáng tốt không nhất thiết phải là bữa ăn với toàn ngũ cốc hoặc phải ăn chay.  Các chuyên gia dinh dưỡng phương Tây phân loại 2 chế độ ăn cơ bản.  Chế độ ăn khôn ngoan, có chọn lọc (prudent pattern) gồm nhiều hạt toàn phần, rau quả, củ, cá, một ít thịt trắng như gà, vịt.  Chế độ ăn phương Tây (Western pattern), là chế độ ăn điển hình của người Mỹ hiện nay, gồm các sản phẩm từ sữa có nhiều chất béo, ngũ cốc tinh lọc, đồ ngọt, thịt chế biến, thịt đỏ như thịt bò, heo và khoai tây chiên.  Một chế độ dinh dưỡng lành mạnh nên bao gồm khoảng từ 50 đến 60% carbohydrate phức hợp.      Nhu cầu chất xơ trung bình của một người khoảng 25g một ngày.  Nghiên cứu tại trường Đại học Harvard [4]  cho thấy chỉ cần ăn thêm mỗi ngày một lượng ngũ cốc thô đủ để có thêm  khoảng 10g chất xơ (tương đương với khoảng 1 chén cơm gạo lức hoặc bắp) thì cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch đến 19%.  Ngoài ra, bạn vẫn có thể ăn một ít cá, thịt, giảm bớt các loại thịt đỏ và chất béo động vật, điều quan trọng là nên thay thế chất bột đường hàng ngày trong bữa điểm tâm bằng các loại hạt toàn phần như gạo lức, bắp, đậu, mè và tráng miệng bằng 1 quả chuối hay táo là đủ cho một bữa ăn sáng có chất lượng.  Vấn đề còn lại là sự khéo léo của những người nội trợ trong việc chế biến ra các món ăn từ các loại  hạt hay bột thô hợp với khẩu vị của các thành viên trong gia đình.
                                                                                                                                         Lương Y VÕ HÀ 
 
[1] Staff of FC & A. (High Fiber cereals for breakfast can help control cholesterol levels). Natural Healing Encyclopedia. FC&A Staff  Publishing. 1992. Tr, 45
[2] Breakfast good for your health and for your weigh control. www.medicalnewstoday.com
[3] Quick weight loss can spell trouble. Nature’s Prescription. FC&A Publishing. Tr.101
[4] Breakfast and your health. www.revolutionhealth.com

                                                                                                                                          Lương Y VÕ HÀ

Thiền là phương pháp tự chữa bệnh



Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch và dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Hành Thiền không những có thể giải tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí, nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường.

Nguồn gốc của Thiền

Từ Thiền của Việt nam hay Zen của Nhật bản đều được phiên âm từ "Ch’an" của Trung hoa. Những chữ này đều xuất phát từ chữ Dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Đây là một bộ kinh thuộc triết học Bà la môn đã có từ thời thượng cổ ở Ấn độ. Theo tư tưởng Ấn độ, phàm muốn hiểu được chân tướng của một sự vật ta phải hòa mình làm một với sự vật đó. Thiền là quá trình tập trung tư tưởng, lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự vật để hiểu được bản chất của nó. Thiền nguyên là một hình thức tu trì của những tông phái triết học ở Ấn độ. Sau khi Phật giáo ra đời, khoảng năm 520, Thiền được Bồ đề Đạt ma, một du tăng của Phật giáo truyền sang Trung hoa. Bồ đề Đạt ma nguyên là một tu sĩ thuộc Bà la môn giáo. Từ đây Thiền thuần lý và triết học của Ấn độ đã được giáo lý Phật giáo bổ sung và phát triển cả về nội dung lý luận lẫn phuơng pháp thực hành trong bối cảnh của truyền thống đạo học nguyên thủy của Trung hoa. Sau đó khi du nhập vào Nhật bản, Thiền lại được hòa trộn với tinh thần lễ giáo và nghệ thuật của Nhật bản. Như vậy Thiền được phổ biến sau này ở các nước châu Á đã hội tụ nhiều nét văn hóa đặc sắc của phương Đông. Đến khoảng đầu thề kỷ thứ hai mươi, do công của một giáo sư người Nhật, ông D.T. Suzuki, Thiền được giới thiệu sang các nước Anh, Pháp, Đức… Vào giai đoạn này, sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới. Đời sống vật chất không ngừng được nâng lên nhưng tâm hồn con người dường như lại thêm lo âu, bất an hoặc cô đơn, trống rỗng. Thiền đã có mặt kịp lúc để lấp bớt khoảng trống này. Dưới cái nhìn duy lý và thực tiễn của người phưong Tây, Thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như là một hình thức giáo dục đạo đức và tâm linh. Vượt qua khỏi ranh giới của tôn giáo, sự hợp nhất giữa thân và tâm của Thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại để mang lại hạnh phúc và sức khoẻ cho con người. Cũng ở thời gian này, Tổ chức Y tế Thế giới đã đánh giá lại ý nghĩa của từ sức khỏe "Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn vể các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật". Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta đã dùng từ "Meditation" để dịch từ Zen. “Meditation” có cùng ngữ căn “Mederi" với từ "Medicine" với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh.

Thiền là liệu pháp đối trị của những chứng bệnh tâm thể

Đối với y học phương Tây, tác nhân tâm lý được xem là một yếu tố gây bệnh chỉ được Cullen nói đến vào khoảng năm 1776 với tên gọi là rối loạn thần kinh chức năng. Sau đó, năm 1936, giáo sư Hens Selye, người sáng lập viện chống Stress ở Montreal, Canada đã chính thức dùng thuật ngữ Stress để chỉ những phản ứng của cơ thể đối với những yếu tố gây khó chịu trong môi trường sống. Sớm hơn nhiều so với phương Tây, trên cơ sở những lý luận về khí và khí hóa, lại là những người có khuynh hướng duy tâm, thường hướng nội và phản quán, các nhà y gia cổ đại của phương Đông đã sớm nhận ra ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực lên sức khỏe của con người. Hàng ngàn năm trước, sách Nội kinh đã ghi nhận "bách bệnh giai sinh vu khí". Người xưa cho rằng những cảm xúc thái quá sẽ làm rối loạn khí hóa của những tạng phủ tương ứng và qua mối quan hệ sinh khắc sẽ dẫn đến sự mất quân bình của cả hệ thống. Do đó, những rối loạn này chính là nguyên nhân của những bệnh về nội thương. Ví dụ những người quá suy tư căng thẳng thường ăn uống kém ngon, dễ rối loạn tiêu hóa. Điều này xảy ra vì sự suy tư quá độ làm ảnh hưởng đến khí hóa của tỳ vị vì "Tư thương Tỳ". Hơn nữa, sự căng thẳng lâu ngày làm Can khí uất kết có thể dẫn đến loét dạ dày, tá tràng, triệu chứng mà Đông y thường gọi là "Can phạm Vị". Đôi khi những rối loạn khí hoá do cảm xúc có thể gây ra những triệu chứng bệnh lý có thể thấy được ngay. Thử quan sát một người đang bộc phát cơn tức giận. Toàn thân nóng lên, mồ hôi vả ra, nhịp tim tăng, hơi thở gấp, các cơ bắp như căng lên. Ở một số người khác cơn nóng giận có thể làm cho toàn thân ngứa ngáy, đau thắt ở ngực hoặc như bị bóp chặt ở bao tử. Đó là một trường hợp điển hình về rối loạn khí hóa do cảm xúc. Trong trường hợp nêu trên, Đông y cho rằng “Nộ thương Can", sự tức giận đã làm cho Can khí nghịch hành, dẫn đến các triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh, thuộc Dương chứng. Trên thực tế, nếu bản thân không có các bệnh thực thể gì khác, chúng ta chỉ cần thực hành thư giản để sơ tiết Can khí hoặc chú tâm quan sát hơi thở vào và ra để đạt đến tâm bình, khí hoà hoặc chuyển tâm nghĩ đến một sự kiện vui vẻ đã xảy ra trong đời để khí của mẹ là Can Mộc được tiết bớt sang cho con là Tâm Hỏa (sự vui vẻ thuộc Tâm Hỏa và Mộc sinh Hỏa) thì các triệu chứng trên sẽ tự biến mất. Đó là ví dụ về những cách kiểm soát cảm xúc để làm chủ bản thân.

Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm tàng. Trong những trường hợp này, việc giải toả Stress, điều hoà được cảm xúc phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giản hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi người. Tuy nhiên, ở một số trường hợp bệnh lý, khi hệ thần kinh đã quá tải, đã vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá trình luyện tập hoặc điều trị. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Ông Herbert Benson, giáo sư đại học Harvard, người sáng lập Viện Y học Tâm thể ở Boston (Mind-Body Medical Institute) cho biết "từ 60% đến 80% số lượng bệnh nhân đến khám ở các phòng mạch đều có liên quan đến Stress. Các ca bệnh này đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể". Ông cho rằng các liệu pháp thư giãn và Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải tỏa những tình trạng lo âu, sợ hãi, bất an, dễ bị kích thích và đặc biệt là làm giảm hoạt hóa các nội tiết tố Stress.

Hiện nay có một phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường đại học Y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass, Standford, Duke, Virginia, San Francisco,… Đó là MBSR. MBSR là những chữ viết tắt của thuật ngữ "Mindfulness Based Stress Reduction", tạm dịch là "giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác". MBSR được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe. Đây là một kỷ thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hòa cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970. Hiện nay Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM (the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại học Y Massachusettes (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR. Một liệu trình MBSR tiêu chuẩn kéo dài 8 tuần lễ. Chương trình gồm hai phần. Phần huấn luyện tại lớp mỗi tuần một lần, mỗi lần một buổi từ 2 giờ đến 2 giờ rưỡi. Riêng lần cuối cùng thường được tổ chức vào cuối tuần và kéo dài khoảng 7 hoặc 8 giờ. Phần tự thực hành tại nhà khoảng 1 giờ mỗi ngày. Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng, dạ dày, ruột, chứng đau nữa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, âu lo, hoảng loạn,… Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR.

Thiền là một liệu pháp chỉnh thể

Thiền là một truyền thống văn hóa đặc sắc của phương Đông. Do đó liệu pháp Thiền cũng phản ảnh đầy đủ tính chất “chỉnh thể" và "Trời người hợp nhất" của nền y học cổ truyền. Chỉnh thể hay nhất thể (holistic) là quan điểm xem con người là một tổng thể hợp nhất. Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận đều phải được xem xét và điều chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng thể. Chẳng hạn, ở một bệnh nhân loét dạ dày, liệu pháp chỉnh thể sẽ lưu ý giải quyết tình trạng thấp nhiệt ở dạ dày hoặc căng thẳng tâm lý trong sinh hoạt để cải thiện khí hoá ở Tỳ vị hơn là cố tìm một loại kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn gây loét. Ở những chứng viêm mũi mãn tính, Đông y cho rằng do Âm hư gây ra Hỏa vượng. Do đó cách chữa phải đặt nặng việc bổ thận để nạp khí, bổ Âm phải tàng Dương, hơn là chỉ dùng những chất hàn lạnh để trừ hư Hỏa. Dù hư Hỏa có tạm được khống chế nhưng nếu làm trầm trọng thêm sự mất quân bình Âm Dương hoặc suy sụp thêm sức đề kháng thì bệnh không thể dứt được… Nói chung, theo quan điểm này thì sự nâng cao chính khí và sự hài hoà bên trong mới chính là nguồn gốc của sức khỏe. Chừng nào mà sự hài hòa còn chưa đạt được hoặc sức miễn dịch chưa được cải thiện thì sự cứu chữa chỉ là cục bộ hoặc tạm thời và sự biến mất của một triệu chứng sẽ có thể gây ra một triệu chứng khác ở một tổ chức khác. Do đó, với ý nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ, Thiền là đỉnh cao của liệu pháp chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học thuật khác của phương Đông. Giống như những nhà khí công, những người hành trì Thiền lâu năm có định lực cao, trình độ khí hóa được nâng lên, có thể dùng năng lực Thiền để hóa giải bệnh tật hoặc chữa bệnh cho người khác. Về mặt thần kinh, thông qua quá trình thư giản và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não, có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thể vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hòa hoạt động nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hóa bình thường để phục hồi sức khỏe. Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn & Thiền không chỉ có hiệu quả trên những bệnh tâm thể mà còn thông qua việc nâng cao sức miễn dịch và cải thiện lưu thông khí huyết để phục hồi dần những cơ quan đã bị tổn thương.
Nói chung trong quá trình hành Thiền, "thần tĩnh tức âm sinh", tâm không duyên ra ngoài sẽ giữ được khí, ngưng thần định ý tại Đan điền sẽ gia tăng chân khí. Do đó công năng dưỡng âm tồn thần và nâng cao chính khí của tọa Thiền hoàn toàn phù hợp với tinh thần "nhiếp sinh" của Nội kinh, có thể chữa được bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp gia tăng sự thích nghi của cơ thể đối với những điều kiện thay đổi của môi trường sống.

Liệu pháp Thiền và những suy nghĩ tích cực

Khi xem một vở kịch tốt hoặc một phim hay, trong những lúc cao trào, ta thường bị thu hút vào vở diễn hoặc vai diễn. Thương cảm, rơi lệ hoặc bức xúc, tức giận,… Trong những phút giây đó, không chỉ người diễn viên mà cả người xem đều đã như hóa thân thành một người khác chứ không còn là người diễn viên hoặc bản thân chúng ta của những lúc bình thường. Những truyền thống tư tưởng phương Đông đều quan niệm thân và tâm là một thể thống nhất. Suy nghĩ và cảm xúc luôn tác động đến phần thể xác. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn cả nhận thức và từ nhận thức sẽ dẫn đến hành động. Chính những cảm xúc và nhận thức lâu ngày đã hình thành nên tập tính và tình trạng sức khỏe ở mỗi người. Do đó có thể nói mỗi người chính là những điều mà người đó suy nghĩ. Mỗi người trong chúng ta vì những lý do khác nhau đã vô tình bị tập nhiễm một số hành vi mà chúng ta không muốn nhưng đã không thể cưỡng lại được. Kỹ thuật tự ám thị (auto-suggestion) thông qua thiền định có thể giúp cải thiện tình trạng này. I.P. Paplov một nhà sinh lý học nổi tiếng của nước Nga đã chứng minh rằng mọi phản xạ thần kinh dù cao hay thấp, mọi thói quen, quá trình rèn luyện, học tập, lao động đều là những quá trình hình thành nên những phản xạ. Trong hành Thiền, việc hóa thân, việc đồng nhất hóa với một sự vật mới, một ý niệm mới hoặc một con người mới đã được tái hiện liên tục và nhiều lần trong một điều kiện tâm lý đặc biệt. Điều kiện tâm lý đặc biệt chính là tình trạng thư giãn hoặc nhập tĩnh khi mà não trở nên nhạy cảm khác thường trong việc tiếp nhận và hoạt hóa những thông tin liên quan, đến những ý niệm hoặc hình ảnh được gợi ra. Nói cách khác, khi ở vào tình trạng thư giãn ta có thể dùng lời nói hoặc những hình ảnh tưởng tượng thích hợp để cải thiện những tình trạng tâm lý hoặc vật lý của cơ thể, những điều mà trong điều kiện bình thường ta không thể thực hiện được. Hiệu ứng này thường được vận dụng trong các phương pháp dưỡng sinh, khí công, thôi miên, tự ám thị và cả trong nhiều nghi thức tôn giáo. Ví dụ, bình thường ta không thể ra lệnh hoặc tự nhủ để nhịp tim chậm lại hoặc huyết áp giảm xuống. Tuy nhiên, trong điều kiện thư giãn hoặc lúc thiu thiu ngủ nếu ta "thấy" hoặc "nghĩ" rằng tim đang đập chậm lại hoặc huyết áp đang hạ xuống thì tần số tim sẽ giảm và huyết áp sẽ hạ. Hãy lưu ý từ "thấy" mà không phải là "nhìn". Từ "thấy" hoặc "nghĩ" ở đây hàm nghĩa không có sự phân tích hoặc cố gắng về mặt ý thức. Đây là một nguyên tắc quan trọng của Thiền cũng như của sự tự ám thị. Nguyên tắc này có thể được gọi một cách vắn tắt nhưng khá chính xác là sự tập trung không căng thẳng. Tập trung vào một từ khóa, một câu ám thị, hoặc một cảnh vật… nhưng phải ở trong điều kiện tĩnh lặng và không căng thẳng. Chính sự tĩnh lặng và không căng thẳng giúp duy trì tình trạng nhập tĩnh đồng thời nâng cao tính nhạy cảm trong việc tiếp nhận và hình thành nên những cung phản xạ mới. Về mặt khoa học, nhập tĩnh ứng với tình trạng cơ bắp thư giãn hoàn toàn và sóng não hạ thấp từ nhịp Beta nhanh và không ổn định xuống nhịp Alpha hoặc Theta chậm và ổn định hơn. Trong điều kiện này bất kỳ sự căng thẳng nào kể cả sự căng thẳng của quá trình chú ý (chẳng hạn phân tích, lý luận về vấn đề đang chú ý) đều sẽ làm thay đổi sóng não và phá vỡ sự nhập tĩnh. Chính sự tự ám thị trong điều kiện thư giãn hoặc gần nhập tĩnh giúp thúc đẩy nhanh quá trình hình thành nên những cung phản xạ mới cho yêu cầu chữa bệnh hoặc cải thiện hành vi, nhân cách. Ở nhiều bệnh nhân mắc những bệnh mãn tính đã trãi qua điều trị lâu dài, tính trầm trọng không phải ở chính căn bệnh mà ở tâm lý chán nản, trầm uất. Tâm lý này phát xuất từ suy nghĩ mình là gánh nặng của gia đình hoặc do thiếu niềm tin vào thầy, vào thuốc. Yêu cầu điều trị trong những trường hợp này là phải giải tỏa được trầm uất và tăng cường niềm tin sẽ khỏi bệnh. Đó là lý do tại sao thiền và những suy nghĩ tích cực lại hữu hiệu trong hầu hết những bệnh kinh niên. Với liệu pháp thiền, có thể nói người bệnh chính là thầy thuốc và sức miễn dịch được nâng lên chính là thuốc chữa bệnh.

Một vài thí dụ về sự phối hợp giữa thư giãn & Thiền và những suy nghĩ tích cực.

Để đạt được mục đích thư giãn và bình an cho tâm trí, người tập có thể nghĩ đến những cảnh quang mà mình ưa thích hoặc đã từng trãi qua. Rừng thông bạt ngàn, gió thổi vi vu. Bãi cát trắng xóa, sóng biển nhấp nhô. Cánh đồng lúa rì rào, gió thổi mơn man. Cảnh núi non hùng vĩ, thác nước trắng xóa,… Nằm hoặc ngồi thoải mái ở một nơi yên tĩnh, thoáng mát. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa, thì thở ra chậm và dài hơn thì hít vào. Tập trung tư tưởng nghĩ đến cảnh quang đã định. Hình dung rõ ràng quang cảnh như đang hiện ra trước mắt mình. Lặng lẽ quan sát để từ từ tiến đến dung hợp giữa người và cảnh, thấy mình hòa tan vào cảnh hoặc quên đi bản thân mình.

Để gia tăng nội khí hoặc để điều trị các chứng hư Hỏa gây căng thẳng, nhức đầu, khó ngủ, hồi hợp,… có thể tập trung vào bụng dưới. Ngồi bán già hoặc kiết già. Lưng thẳng. Eo hơi thót lại. Cằm hơi thu vào. Đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Buông lỏng phần vai và hai tay. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa. Tập trung tâm ý quán tưởng khắp chung quanh mình đang có gió nhẹ thổi vào vùng bụng dưới.

Để chữa bệnh, trị đau nhức, để làm tan một chỗ bị sung huyết hoặc một tổ chức bị u xơ, có thể quán hơi thở vào và ra. Hít vào sâu đến bụng dưới. Thở ra chậm, nhẹ và đều. Trong lúc thở ra tập trung ý quán một luồng trược khí màu xám từ chỗ bị đau theo hơi thở thoát ra các đầu ngón chân (nếu ở vùng hạ thể) hoặc đỉnh đầu, hoặc những đầu ngón tay (nếu ở vùng thượng thể). Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng vật lý của những suy nghĩ tích cực. Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của Bác sĩ Carl Simonton về điều trị ung thư. Ông hướng dẫn cho bệnh nhân thư giãn và hình dung những bạch cầu của họ là những chiến sĩ "tìm và diệt". Đội quân dũng mãnh đã chiến đấu, chiến thắng và mang đi các tế bào ung thư đã chết. Công trình nghiên cứu trên 110 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã cho kết quả 25% hoàn toàn khỏi bệnh, 30% ung thư ngừng phát triển, và ở 10% khác khối u ung thư bắt đầu nhỏ dần.

Ông Emile Coue (1857-1926), một chuyên gia điều trị tâm lý người Pháp là người đã từng hướng dẫn và điều trị cho hàng chục ngàn bệnh nhân bằng phương pháp ám thị và tự ám thị. Đến với ông có thể là những người bị mất ngủ, hoảng loạn, nói lắp, nghiện thuốc, béo phì, động kinh, suyển và cả những bệnh nhân tim mạch, tiểu đường, u xơ, viêm khớp. Ông đã đề xuất một công thức ám thị đơn giản chung cho nhiều trường hợp khác nhau, để điều chỉnh hành vi hoặc để thay đổi những điều kiện tâm lý, vật lý cho việc cải tạo sức khỏe. Nguyên văn câu ám thị là "Tous les jours a tous points de vue, je vais de mieux en mieux" đã được chuyển sang Anh ngữ “Day by day, in every way, I am getting better and better", tạm dịch "Mỗi ngày qua, tôi tốt đẹp hơn lên về mọi phương diện". Ông khuyên người bệnh thực hành ám thị hai lần mỗi ngày. Mỗi lần tự nhẩm 20 lần câu ám thị nêu trên. Cần làm một xâu chuỗi có 20 hạt để lần chuỗi tương ứng với 20 lần nhẩm niệm. Việc lần chuỗi vừa bảo đảm đủ số cần niệm, vừa có tác dụng tạo thêm phản xạ có điều kiện cho những lần sau. Thực hành lúc vừa thức dậy, sắp sữa xuống giường và liền trước khi nằm xuống ngủ. Đây là những lúc mà chúng ta còn ngái ngủ hoặc buồn ngủ. Do đó khi đã nhắm mắt và tập trung vào câu ám thị thì tâm chỉ tồn tại có ý niệm đó, những tạp niệm rất khó xen vào. Về mặt thần kinh, những thời điểm này gần giống như lúc chúng ta luyện tập thư giãn hoặc chuẩn bị nhập tĩnh nên cũng là lúc tốt nhất để tiếp nhận những thông tin tích cực cho việc tạo nên những cung phản xạ mới.

Lưu ý

Kết quả hành Thiền sẽ khác nhau do khả năng tập trung tư tưởng của mỗi người. Điều này tùy thuộc vào căn cơ và các điều kiện trợ duyên khác như chế độ ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp… Thiền được xem là một liệu pháp bổ sung được dùng song hành với các biện pháp chữa bệnh chính thống khác. Do đó việc gia giảm hoặc thay thế các loại thuốc trong việc điều trị phối hợp với Thiền cần theo sự chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.

                                                                                                                                            Lương y Võ Hà

Năm Thức Tập Bí Truyền Của Tây Tạng

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012 | 17:00



Dồi dào sinh lực , tăng cường sự dẽo dai, bền bỉ , thân thể thon gọn.
Chữa trị viêm khớp
Chữa trị các chứng viêm xoang  
Chữa trị đau nhức  
Chữa trị các chứng bệnh về tiêu hóa.        
Thân thể con người có 7 trung tâm năng lực. Người Tây Phương gọi đó là những điểm xoáy hay còn gọi là luân xa.
Tuy không thể trông thấy nhưng 7 luân xa nầy là những điện trường cực mạnh và chúng hoàn toàn có thực.
Mỗi luân xa tập trung vào một trong số bảy tuyến nội tiết của cơ thể và nhiệm vụ của nó là kích thích sản xuất hormone. Chính những hormone nầy điều hành toàn bộ các chức năng của các cơ quan nội tạng và đồng thời điều hành cả tiến trình lão hóa.

  
  1. Luân xa đầu tiên hay luân xa ở thấp nhất tập trung ở tuyến sinh dục.
  2. Luân xa thứ hai tập trung ở tuyến tụy trong vùng bụng.
  3. Luân xa thứ ba đóng tại tuyến thượng thận (mạng dây thần kinh ở bụng).
  4. Luân xa thứ tư đóng tại tuyến ức ở vùng ngực.
  5. Luân xa thứ năm đóng ở tuyến giáp trạng nơi cổ.
  6. Luân xa thứ sáu đóng ở tuyến tùng, tại đáy sau của não.
  7. Luân xa thứ bảy, luân xa đóng ở cao nhất, tập trung tại tuyến yên, nơi đáy trước của não.
Trong một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng, sự hoạt động của những luân xa nầy thật mãnh liệt, giúp cho sinh lực của sự sống được trôi chảy qua các tuyến nội tiết. Nhưng nếu sự hoạt động của một hay nhiều luân xa đó bị trì trệ, thì dòng sinh lực của sự sống bị cản trở hoặc bế tắc và như thế đưa đến bệnh hoạn và già nua.
Vì thế, cách thức nhanh nhất để dành lại sức khỏe và sinh lực là làm sao để cho những luân xa nầy hoạt động bình thường trở lại. Để đạt đến mục đích nầy, chúng ta có 5 bài tập sau đây; mỗi một trong 5 bài nầy tự nó đã rất hữu ích cho bạn, nhưng nếu muốn có được những kết quả tối ưu thì bạn không nên bỏ sót một bài nào.
            Những trung tâm năng lực nầy là những chuyển động xoáy cực nhanh. Khi tất cả đều xoáy với một tốc độ cực nhanh như thế thì cơ thể đang ở trong trạng thái toàn hảo. Khi có một hoặc nhiều luân xa bị chậm lại thì tuổi già và suy thoái bắt đầu tiến trình xâm thực.
 
I. Thức Thứ Nhất
            Thức thứ nhất nầy là một phương pháp tập rất đơn giản. Mục đích cấp kỳ của nó là làm cho các luân xa xoáy nhanh trở lại.  
Trong thức thứ nhất nầy, tất cả những gì mà bạn cần phải làm là giương thẳng 2 tay ra theo chiều ngang. Sau đó bạn xoay tròn cho đến khi hơi chóng mặt. Một điều mà bạn phải lưu ý đó là; xoay tròn từ trái sang phải.  

            Ngoài ra để giảm thiểu sự chóng mặt, trước khi bắt đầu quay tròn, bạn hãy tập trung tầm nhìn vào một điểm duy nhất nào đó trước mặt, và khi khởi sự quay, hãy hướng ánh mắt về cái điểm đó càng lâu càng tốt.
Khi xoay tròn nên hít thật sâu và thở ra thật dài. Khi xoay thì hai bàn chân phải di động, vì vậy nên giữ cho 2 gót chân chạm vào nhau. Như thế sẽ giúp cho mình cảm thấy thăng bằng bởi vì lúc nào mình cũng cảm thấy có điểm tựa ở trên 2 bàn chân. 
  
II. Thức Thứ Hai

                Tiếp theo thức thứ nhất là thức thứ hai và mục tiêu của thức nầy là nhằm kích thích hơn nữa bảy luân xa. Thức nầy cũng đơn giản như thức thứ nhất. Trong thức nầy người tập phải nằm dài trên sàn, mặt ngửng lên. Tốt nhất bạn nên nằm trên một tấm thảm dầy hoặc một tấm nệm bằng phẳng.
 








 
            Một khi bạn đã nằm duổi lưng, thẳng người, hãy buông hai cánh tay dọc theo hông, gan bàn tay úp xuống sàn, giữ cho các ngón tay sát vào nhau. Tiếp đó bạn nhấc đầu lên, thu cầm vào ngực. Trong khi làm như thế, nhấc hai cẳng chân lên, đầu gối thẳng, trong thư thế thẳng đứng. Nếu có thể bạn hãy để hai chân vươn ngược lên trên thân về phía đầu, nhưng phải giữ cho 2 đầu gối thật thẳng.
             Rồi từ từ thả đầu và hai cẳng chân xuống sàn nhà trong khi đầu gối vẫn giữ thẳng. Hãy thư giãn toàn bộ các cơ bắp sau đó, thực hành lại thức tập nầy. Trong khi thực hành bạn hãy tuân theo nhịp thở như sau: hít vào thật sâu khi bạn nhấc đầu và hai cẳng lên, thở ra toàn bộ khi bạn hạ đầu và hai chân xuống. Giữa những lần tập, trong khi bạn thư giãn cơ bắp, bạn vẫn tiếp tục hít thở theo nhịp vừa kể. Càng hít thở sâu thì càng tốt.
              Nếu không thể giữ cho hai đầu gối được thật thẳng, thì bạn có thể cong chúng theo mức độ cần thiết. Tuy vậy nếu bạn tiếp tục luyện tập thức nầy, thì hãy cố để giữ cho 2 đầu gối càng thẳng càng tốt.

  III. Thức Thứ Ba

              Thức thứ ba nầy cần phải được thực hành ngay sau thức thứ hai. Tựa như thức trước, thức nầy cũng rất đơn giản. Tất cả những gì mà bạn phải làm là quỳ gối trên sàn nhà và giữ cho thân mình thẳng đứng, hai bàn tay áp sát vào đùi. Sau đó nghiêng đầu và cổ về phía trước, cằm thu vào ngực. Tiếp đến ngửa đầu và cổ ra phía sau càng xa càng tốt, đồng thời ngã người ra sau, cong hẳn cột sống. Khi cong mình như thế bạn hãy bám cánh tay và bàn tay lên đùi để làm điểm tựa. Cong người xong, hãy trở về với tư thế cũ và lập lại toàn bộ thức thứ ba nầy lần nữa.
              Cũng tựa như thức thứ hai, ở thức thứ ba nầy bạn cũng phải điều hòa nhịp thở đúng như quy định. Bạn phải hít vào thật sâu khi cong cột sống và thở ra khi quay về với tư thế thẳng đứng. Hít thở sâu là điều rất hữu ích vì như thế bạn có thể đưa dưỡng khí vào buồng phổi càng nhiều càng tốt.





IV. Thức Thứ Tư

            Trước tiên bạn hãy ngồi xuống trên sàn nhà, hai cẳng chân duỗi ra phía trước, hai bàn chân đặt cách nhau khoảng 20 cm, gan hai bàn tay úp xuống sàn, dọc theo mông.
Sau đó thu cầm về phía trước ngực. Tiếp đến, bạn hãy ngã đầu ra phía sau, càng xa càng tốt đồng thời nhấc thân mình lên sao cho đầu gối cong lại trong khi hai cánh tay trở nên thẳng đứng.
Với tư thế nầy, thân hình trở thành song song với sàn nhà, và thẳng góc với hai cánh tay và hai cẳng chân. Rồi bạn hãy gồng căng mọi cơ bắp của cơ thể.
Cuối cùng khi quay trở lại với thế ngồi ban đầu, bạn hãy thư giãn các cơ bắp và nghỉ một lúc trước khi lặp lại các động tác của thức tập.


1.
2.
3.
4.
 
Cũng vậy, thở là điều quan trọng trong thức nầy. Bạn hãy hít vào thật sâu khi nhấc thân mình lên và thở ra thật dài khi bạn hạ người xuống. Tiếp tục duy trì nhịp thở nầy khi bạn nghỉ ngơi giữa hai lần tập.
 
V. Thức Thứ Năm

Khi thực hành thức thứ 5, thân hình của bạn phải hướng xuống mặt đất, được chống đỡ bởi hai tay, gàn bàn tay áp xuống sàn nhà và các ngón chân ở trong tư thế cong lại.
Với thức tập nầy, bạn phải đặt hai bàn chân cách nhau khoảng 60 cm trong khi cánh tay và cẳng chân phải giữ thẳng.
            Để bắt đầu bạn hãy chống hai tay thẳng đứng xuống sàn nhà và cong cột xương sống sao cho thân mình ở trong tư thế lún xuống.
Tiếp đó ngã đầu ra phía sau càng xa càng tốt rồi cong ở phần hông và đưa thân mình lên trên để tạo thành chữ V ngược. Đồng thời bạn hãy đưa cằm tới trước và áp sát vào ngực. Tất cả chỉ có thế.
Thực hành xong, bạn trở lại với tư thế ban đầu và lập lại toàn bộ thức tập nầy.
Sau tuần lễ đầu tiên, thông thường bạn sẽ thấy đây là một trong những thức tập dễ nhất. Một khi đã thuần thục rồi, bạn hãy để cho thân mình rơi xuống tới một điểm hầu như là chạm sàn nhà, nhưng không hoàn toàn chạm hẳn.
Hãy gồng căng các cơ bắp trong một lúc, kể cả khi thân bạn đang ở điểm cao cũng như khi hạ xuống thấp.




Tiếp tục hít thở sâu như đã áp dụng trong những thức trước đây. Hãy hít vào thật sâu khi bạn nâng người lên và thở ra hết khi bạn hạ người xuống.
Để bắt đầu, trong tuần lễ thứ nhất tôi khuyên bạn nên thực hành mỗi ngày một buổi, với ba lần cho mỗi thức tập. Rồi trong những tuần lễ kế tiếp, gia tăng thêm hai lần các buổi tập cho đến khi mỗi ngày bạn có thể thực hiện 21 lần cho mỗi thức. Nói cách khác, trong tuần lễ thứ hai, thực hành 5 lần cho mỗi thức; tuần lễ thứ ba, 7 lần; tuần thứ tư, 9 lần và cứ thế tiếp tục. Như vậy trong khoảng thời gian 10 tuần bạn sẽ có thể thực hiện đầy đủ 21 lần mỗi ngày cho toàn bộ 5 thức.
Nếu bạn gặp khó khăn trong việc thực hành thức thứ nhất -  xoay tròn -  theo cùng một số lần với những thức khác, thì bạn có thể chia ra làm nhiều lần để thực hành, sao cho đủ 21 lần mà không phải chóng mặt. Và tôi tin rằng cuối cùng bạn cũng có thể xoay tròn 21 lần như đã định.
Tôi biết có một người đã thực hiện những thức nầy trong hơn một năm ròng rã trước khi có thể xoay tròn nhiều lần như đã quy định ở thức thứ nhất. Ông ta có thể dễ dàng thực hành những thức khác, nhưng với thức xoay tròn nầy thì tiến rất chậm và phải cần một thời gian dài mới có thể thực hiện 21 lần xoay trong một lúc. Và sau đó ông ta đã đạt được những thành quả mỹ mãn.
Thế thì ta nên tập luyện những thức nầy vào lúc nào trong ngày?”
          Bạn có thể thực hành vào buổi sáng hoặc buổi tối, tùy theo giờ giấc thuận tiện.
Vì bạn là người mới tập tểnh bước vào con đường tập luyện nên tôi không muốn thôi thúc bạn. Sau khi đã tập luyện những thức nầy được 4 tháng, bạn có thể bắt đầu dành thời gian để thực hành nhiều lần vào buổi sáng, và buổi tối bạn chỉ thực hành 3 lần cho mỗi thức.
Hãy tuần tự gia tăng số lần tập luyện như bạn đã làm trước đó, cho đến khi thực hành đủ 21 lần. Bạn không cần thực hành những thức nầy nhiều hơn 21 lần vào buổi sáng cũng như buổi tối, trừ khi bạn thật sự bị thôi thúc bởi sự luyện tập.
            Tất cả những thức tập nầy đều có tầm quan trọng ngang nhau?
            Năm thức tập nầy liên kết nhau để tác động lên cơ thể bạn và chúng cùng có chung một tầm quan trọng. Sau một thời gian tập, nếu bạn thấy không thể cùng một lúc thực hành các thức nầy theo số lần quy định, thì bạn hãy tách chúng thành hai buổi tập, một vào ban sáng và một vào buổi tối.
Nếu bạn cảm thấy khó khăn trong việc thực hành một thức nào đó trong 5 thức nầy thì hãy bỏ nó sang một bên để chú tâm vào việc thực hành 4 thức kia. Rồi vài tháng sau đó, hãy tập lại cái thức mà bạn đã thấy khó khăn và bỏ qua trước đây. Với cách nầy, kết quả sẽ đến chậm hơn nhưng dẫu sao thì nó cũng đến.
Khi tập luyện các thức nầy bạn không bao giờ nên gắng sức để thực hiện cho bằng được. Điều đó sẽ không mang lại cho bạn một lợi ích nào. Đơn giản ra, bạn chỉ nên làm tất cả những gì bạn có thể rồi từ từ tiến lên và đừng bao giờ nản chí. Với thời gian và kiên trì, cuối cùng rồi cũng như mọi người tập luyện khác, bạn có thể thực hiện cả 5 thức nầy 21 lần mỗi ngày.
            Có thể nói đây là những thức tập đầy thần lực. Vì thế nếu bỏ hẳn một trong 5 thức trong khi bạn vẫn đều đặn và tập luyện đầy đủ 4 thức kia, thì bạn sẽ có được những kết quả tuyệt hảo.
Có hai điều sẽ giúp ích, nếu bạn biết kết hợp đúng đắn. Điều thứ nhất là, như tôi đã nói trước đây, bạn phải thở thật đều và sâu trong những lần nghỉ giữa hai thức tập. Ngoài ra, giữa hai thức tập, bạn nên đứng thẳng người, hai tay đặt lên hông trong khi vẫn thở đều đặn duy trì nhịp thở sâu. Khi thở ra bạn hãy tưởng tượng rằng mình đang đẩy ra mọi căng thẳng đang chất chứa bên trong cơ thể, để như thế bạn cảm thấy thư giãn và nhẹ nhỏm. Khi bạn hít vào, hãy tưởng tượng rằng bạn đang rót đầy vào mình một cảm giác thoải mái và toàn mãn.
Điều thứ hai là sau khi tập, bạn nên tắm bằng nước ấm hoặc nước mát. Hoặc tốt hơn bạn nên lau người lẹ làng bằng một khăn ẩm, rồi sau đó dùng khăn khô để lau lại. Một điều tôi khuyên bạn nên tuyệt đối tránh là: tắm bằng nước lạnh hay lau bằng khăn ướt quá lạnh. Vì như thế bạn có thể bị thấm lạnh vào trong. Và nếu làm như thế thì bạn đã loại bỏ tất cả những gì tốt đẹp mà bạn đã gặt hái qua 5 thức tập.  
            Nói tóm lại, bạn chỉ mất khoảng 20 phút để thực hành 5 thức nầy. Và nếu bạn là người có đầy đủ thể chất, thì bạn có thể thực hành chúng trong vòng 10 phút hoặc ít hơn. Nếu bạn phải bề bộn suốt ngày, không có thời giờ luyện tập, thì nên dậy sớm vài phút vào buổi sáng, hoặc đi ngủ hơi muộn vào buổi tối hầu dành ra đôi chút thời gian để tập luyện.
Lời của người đã tập luyện: Nếu bạn cương quyết lấy lý do bận rộn để không thực tập các thức nầy gì hết thì tức là bạn đã chọn cho mình một con đường đau yếu, đủ thứ bệnh tật, sống cũng không được mà muốn chết cũng không được. Lúc đó có than trách Trời Đất thì đã quá trễ.
Do Cụ Huỳnh Minh, một lương y biên khảo.

 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com