Home » , » Phật giáo là sức sống nhân loại

Phật giáo là sức sống nhân loại

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012 | 00:58




Tôi chuyên tu Pháp Hoa, nhưng theo tôi, Pháp Hoa không đơn thuần chỉ là một bộ kinh và tôi cũng không chỉ chuyên tụng bộ kinh này như nhiều người đã làm hay đã nghĩ. Pháp Hoa đối với tôi là Diệu Pháp, tức pháp thậm thâm vi diệu. Đã là pháp thậm thâm vi diệu, đòi hỏi hành giả phải có trình độ nào đó mới tiếp nhận được, phải có một cuộc sống như thế nào đó mới thâm nhập được.



Xây dựng trên tinh thần Pháp Hoa là pháp thậm thâm vi diệu khó có, khó được, trong phẩm 28 của kinh Pháp Hoa, Phổ Hiền Bồ tát khẳng định rằng có Phật thì mới có Pháp Hoa. Phật nhập Niết bàn, không thể có kinh này. Vì thế, Phổ Hiền mới hỏi Phật sau khi Ngài diệt độ, làm thế nào có kinh Pháp Hoa để thọ trì.




Câu hỏi của Bồ tát Phổ Hiền gợi cho tôi hiểu rằng kinh Pháp Hoa chính là tuệ giác của Phật; vì có Phật thì có kinh này. Phật là Đấng Toàn giác, Bồ tát có một phần tuệ giác. Pháp Hoa là tuệ giác do Phật quán sát cuộc sống và nói ra. Vì vậy, Phật tại thế, những lời dạy của Phật đều là Pháp Hoa, không phải Pháp Hoa chỉ là bộ kinh 28 phẩm.



Kinh Pháp Hoa là Phật thừa, hay tuệ giác Phật nhìn vào sinh hoạt thế gian mà nói, thì tất yếu phải thích ứng với thế gian và con người. Với hiểu biết của Bậc Toàn giác, Đức Phật luôn luôn nói đúng với người mà Ngài muốn dạy, nói đúng hoàn cảnh của họ và nói đúng lúc. Đức Phật thường được ví như vị đại lương y tùy bệnh của chúng sinh mà Ngài thuyết pháp tương ưng. Chúng sinh thì đa bệnh, nên Phật đã có nhiều pháp thích hợp để chữa lành tâm bệnh cho họ.



Chúng ta muốn sử dụng thuốc gia truyền của Phật để lại, nhưng không nhận ra rằng bệnh của người ở thời Phật và thời của chúng ta không giống nhau. Bệnh của vùng nhiệt đới cũng khác với vùng hàn đới. Thầy thuốc giỏi phải biết gia giảm cho thích hợp với bốn mùa tám tiết. Chúng ta là thầy chữa tâm bệnh, đương nhiên không ngoài lộ trình trên. Thời đại của chúng ta, con người sinh vọng tưởng điên đảo khác với vọng tưởng điên đảo của người thời xưa. Thời xưa, họ ước mơ gì, ngày nay người ta mong muốn gì, Đức Phật thấy không sai lầm, nghĩa là Ngài biết người ta nghĩ gì, muốn gì, làm được gì, thì Ngài theo khả năng của họ mà dạy, theo suy nghĩ của họ mà nói và theo cái muốn của họ mà giúp đỡ.



Ngày nay, chúng ta áp dụng pháp sai lầm; vì không giải theo ý muốn, theo suy nghĩ của người nên họ tu theo chúng ta cũng không được lợi ích gì.



Riêng tôi, tu Pháp Hoa, tôi tâm đắc nhất là Bồ tát đạo. Tôi học Bổn môn Pháp Hoa, ngài Nhật Liên dạy rằng phải tụng ngược từ phẩm 28 trở về phẩm Tựa thứ nhất. Nghĩa là tu Pháp Hoa phải đi ngược lại, trước tiên là đi vào bằng Phổ Hiền hạnh và từ hạnh này đi ngược lại.



Mở đầu phẩm 28 cho thấy Phổ Hiền Bồ tát dùng sức thần thông tự tại, oai đức vô song cùng chúng Bồ tát, bát bộ thiên long vượt qua các cõi đến Kỳ Xà Quật, ra mắt Thích Tôn … Câu mở đầu này cho thấy tư cách của người trì kinh Pháp Hoa phải là hạnh Phổ Hiền. Nhưng ngài Phổ Hiền làm sao có thần thông tự tại, oai đức vô song?. Phổ Hiền phải tu mười đại nguyện mới có thành quả oai đức vô song như kinh Pháp Hoa nói và trước nhất phải phát xuất từ tín tâm. Thật vậy, người tu phải xây dựng cho mình niềm tin Tam bảo thật kiên cố. Ý này được A Nan xác nhận rằng dù hư không có mòn, mặt trời trở nên lạnh, mặt trăng trở thành nóng; nhưng ngài vẫn tin Phật tuyệt đối. Niềm tin vững mạnh, không thay đổi là chiếc phao cho chúng ta bám vào đó để vượt qua tất cả khổ nạn.



Và từ niềm tin kiên cố, chúng ta tiến sang giai đoạn tu thập trụ; nghĩa là phải trụ tâm, đem tâm trụ trong giáo pháp, chỉ suy nghĩ giáo pháp. Có thầy kiết thất mười năm để tụng kinh, không tiếp xúc, là trụ tâm, siêng năng đọc tụng kinh, chỉ biết pháp Phật.



Nhờ trụ tâm trong giáo pháp, suy nghĩ và hành động của chúng ta theo đó lớn dần, từ đó thành tựu thập hạnh, tức hành động trong pháp Phật. Người tu không đem tâm mình đặt vào pháp Phật, hoặc đặt vô rồi, lại lấy ra ngoài, nên không đạt kết quả tốt. Hai mươi bốn tiếng một ngày, chỉ đặt tâm trong pháp Phật vài giờ; đặt tâm ở ngoài là kẹt vào việc ăn, mặc, ở, làm những việc lặt vặt hàng ngày. Những thứ này kéo chúng ta ra ngoài pháp Phật. Ít người ở lâu trong Phật pháp là vậy.



Hòa thượng Bửu Huệ chuyên tu Pháp Hoa Tịnh độ. Ngài làm được việc nhờ mười năm kiết thất chuyên tụng kinh, sám hối, niệm Phật, tham thiền, trì chú; đó là sống trong pháp Phật. Ngài khuyên đệ tử nên có thời gian kiết thất, ít nhất là ba năm. Tuy nhiên, có người cũng kiết thất, nhưng không trụ pháp Phật; họ ở trong hang cốc cả đời mà không được gì. Việc quan trọng là đặt tâm vào pháp Phật.



Hoặc Hòa thượng Thanh Từ xưa kia bỏ chức giáo thọ Phật học viện Huệ Nghiêm. Ngài cho biết rằng ngài dạy người, nhưng chưa ứng dụng sâu sắc và chưa đạt hiệu quả, nên chưa an tâm. Vì vậy, ngài ra núi Lớn chuyên tu Thiền và đã đạt được những thành quả nhất định. Hòa thượng tu Thiền, nhưng vẫn giảng kinh, thuyết pháp, đọc tụng kinh điển từ kinh A Hàm đến các kinh Đại thừa để tìm dò tinh ba của kinh, lấy đó làm kinh nghiệm tu hành. Ngài có khoảng thời gian sống trong kinh điển, là trụ tâm. Nếu nói tu Thiền ngoài giáo pháp là sai. Chấp giáo lý thì không được, nhưng bỏ giáo lý sẽ thành ngoại đạo.



Riêng tôi, cũng nhờ tám năm sống trong kinh điển, luyện tâm được ổn định. Thiết nghĩ thầy nào trụ được pháp Phật thì làm đạo có những kết quả bất tư nghì. Không trụ pháp Phật thì ta cũng như người đời. 



Ngoài hai vị Hòa thượng nêu trên, còn có một bậc thầy là Hòa thượng Trí Tịnh. Tuy bề ngoài thấy ngài không làm, nhưng thật sự ngài tu hành miên mật. Nếu ngài không tu thì không dịch được kinh. Ngài sống với kinh điển nhiều nhất, nên có được diệu lực ảnh hưởng cho mọi người, mọi việc thật tốt đẹp. Ngài lãnh đạo Giáo hội 21 năm được bình ổn và phát triển, quả là quý vô cùng.



Thực chất của việc tu hành có tác động rất sâu xa. Quý vị nên cân nhắc, trụ tâm trong pháp Phật và thể hiện trong cuộc sống có kết quả tốt đẹp. Từ đó, mới dạy người; thậm chí chưa dạy, người đã tìm đến để học. Như Hòa thượng Thanh Từ được nhiều người tìm đến tu viện Chơn Không, theo học. Hòa thượng Trí Tịnh nhắc tôi rằng thực chất là đạo lực có sức thuyết phục kỳ diệu.



Việc tu hành của chúng ta nương vào kinh điển, gọi là pháp hành. Và đương nhiên có thành quả, chúng ta gửi thành quả này vào nơi nào, là bước sang giai đoạn tu hồi hướng. Hành giả tu Tịnh độ thì hồi hướng để trang nghiêm Tịnh độ. Tôi tu Pháp Hoa thì Tịnh độ của Pháp Hoa là kỳ tâm tịnh tức độ tịnh.



Người tu Pháp Hoa, hành Bồ tát đạo, phải hồi hướng đến Vô thượng Bồ đề, pháp giới chúng sinh và chơn như thật tướng. Vô thượng Bồ đề là hiểu biết cao tột. Việc tu hành nhằm tăng trưởng trí tuệ của chúng ta. Đọc kinh, nghe pháp, tham thiền nhập định; kết hợp ba việc này lại để phát huy trí tuệ chúng ta, gọi là hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Còn có điều gì chưa hiểu trên cuộc đời này thì vẫn phải học, không ngừng; có như vậy, trí tuệ mới tăng trưởng. Từ trí tuệ hữu lậu tìm được trong sách vở, nghe thầy dạy và trí tuệ vô lậu do áp dụng hiểu biết đó trong tham thiền, quán tưởng; chúng ta nâng kiến thức của mình bằng và cao hơn thế gian. Hiểu biết chưa bằng thế gian, chưa phải Phật đạo. Ngày nay, một số tôn giáo bị người ta đánh giá là của thời cổ, chưa văn minh. Phật giáo chưa bị chê bai như vậy, vì các nhà trí thức nhận thấy được Phật giáo thích hợp với thời đại; nhờ một số thiền sư bắt kịp văn minh thời đại và dạy người ứng dụng vào cuộc sống có kết quả tốt. Nhà bác học Einstein cũng nói ở thế kỷ XX, nếu tồn tại tôn giáo thì đó phải là Phật giáo. Họ thấy như vậy là thấy trí tuệ của Phật giáo. Nếu đánh mất trí tuệ, chúng ta cũng bị ghép vào mê tín, lạc hậu.



Trong thời hiện đại, người ta nghĩ pháp môn tu của Phật giáo có thể áp dụng trong cuộc sống. Điều đó có nghĩa là họ chấp nhận chúng ta ngang tầm với thời đại. Tuy nhiên, phải nâng được trình độ tu chứng, tức khả năng của chúng ta cao hơn người thì họ mới chú ý. Điển hình như chỉ có Hòa thượng Quảng Đức ngồi an nhiên trong lửa mà làm cả thế giới phải chấn động; việc này người bình thường không làm nổi. Hoặc Thiền sư Suzuki ứng dụng được tinh ba của Thiền trong cuộc sống và giảng dạy người phương Tây khiến họ phải say mê, áp dụng Thiền trong sinh hoạt thường nhật của họ. Và gần đây, đạo lực của các vị Lạt ma Tây Tạng cũng thuyết phục, cảm hóa được nhiều người phương Tây phát tâm sống theo Phật giáo. Sinh hoạt của người tu phải nâng lên trình độ cao như vậy, Phật giáo mới tồn tại được.



Và có được hiểu biết tác động cho người rồi, chúng ta hồi hướng pháp giới chúng sinh, nghĩa là chia sẻ hiểu biết của ta cho người. Thật vậy, hành Bồ tát đạo phải có quyến thuộc. Tôi nghiên cứu sinh hoạt của Phật giáo Nhật, nhận thấy họ có bốn hội đoàn chuyên tu Pháp Hoa rất mạnh. Như hội Shoka gakkai tổ chức lễ hội văn hóa của họ, tập trung đến cả triệu người. Huy động được nhân lực như vậy là nhờ đạo lực của người lãnh đạo vô hình là ngài Nhật Đạt Thượng nhân và cũng nhờ Phật tử của họ luôn gắn bó với nhau rất mật thiết. Phật tử Việt Nam chưa có được tinh thần gắn bó như họ, thường phân tán nhiều hơn, chưa thuần.



Chùa có Phật tử tín tâm đông, tồn tại và phát triển dễ. Chùa lớn nhưng Phật tử tín tâm ít, cũng sẽ bị xuống cấp dần. Chính yếu tố con người quyết định. Người đông, giỏi, tốt sẽ làm được việc quan trọng và xây dựng được Tịnh độ. Thầy trụ trì cần tu hành cho được kết quả tốt; như thế sẽ thuyết phục được người đến và sống chết với mình thì cơ sở mới vững. Bỏ rơi tín đồ, cơ sở càng lớn, chúng ta càng khổ. Ngoài ra, quý thầy cần lưu ý rằng người tín tâm đông, nhưng phân tán mỏng, chúng ta không có khả năng điều động họ, thì cũng không thể làm được việc.



Chúng ta tu hành cần phát triển đạo lực để ảnh hưởng được quần chúng. Có lực lượng quần chúng, đạo mới mạnh. Vì thế, hồi hướng pháp giới chúng sinh là làm thế nào cho nhiều người đến cùng tu, cùng làm việc. Phổ Hiền Bồ tát hoàn thành hạnh hồi hướng, mới tiến qua thập địa Bồ tát. Và ngài thành tựu thập địa, mới có thần thông tự tại, oai đức vô song.



Chúng ta tu Pháp Hoa, nhưng đạo lực chưa có thì phải nhờ lực Phổ Hiền gia bị. Muốn được Phổ Hiền gia bị, chúng ta phải tu mười hạnh Phổ Hiền. Mười hạnh Phổ Hiền thể hiện trong cuộc sống như thế nào? Trong mười hạnh của ngài, tôi tâm đắc nhất là hạnh tùy hỷ.



Thông thường, ta tu pháp môn nào, làm việc nào, thì cho pháp môn đó, việc đó là nhất và muốn người theo pháp của ta, làm theo ta. Nếu họ không làm như vậy thì ta không bằng lòng và khó chịu. Nhưng thử nghĩ ta không tùy hỷ với người thì làm sao người chấp nhận ta được. Theo tôi, phải chấp nhận người trước. Tôi muốn đến nơi nào đó, phải chấp nhận Ban Đại diện quận này.



Trên bước đường tu, phải tập tánh dễ chịu, đừng bực bội, bất mãn, khó chịu. Nhiều thầy quá tốt nên thường bực tức. Theo tôi, nếu đặt vấn đề quá cao thì sẽ gặp thực tế khó chấp nhận được. Mà luôn bất mãn, buồn phiền thì không ai thương được. Ở thời đại chúng ta, xin quý thầy phát nguyện tùy hỷ cho mọi việc được vui. Dù có phải ép bụng một chút cho người vui thì chúng ta cũng nên sẵn lòng.



Tu được một hạnh tùy hỷ, tôi tập thêm một hạnh thứ hai. Gặp chướng duyên, tôi thường nghĩ rằng vì tội căn sâu nặng của mình, đời trước không khéo tu, nên nghiệp nặng, người không ưa và chống phá mình. Nghĩ vậy thì sợ và nỗ lực sám hối.



Trong mười hạnh Phổ Hiền, chúng ta tập tu hai hạnh này trước để tạo sự hòa hợp, đoàn kết, an vui. Làm cho người vui, chúng ta cũng được vui và chắc chắn chư Phật cũng hoan hỷ. Công đức theo đó thành tựu, kết thành một Tịnh độ nho nhỏ cho ta và Bồ đề quyến thuộc an trú tươi mát trong thế giới Ta bà oi bức này.



HT. Thích Trí Quảng
Share this article :
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com