Tùy Duyên

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012 | 01:40



Theo lời Phật dạy, Tăng Ni phải cấm túc an cư để thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức. Đó là truyền thống của Phật giáo chúng ta từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi về sau, giá trị này không bao giờ thay đổi. Vì không thúc liễm thân tâm, không trau giồi giới đức, dù có học rộng đến đâu và làm việc gì chăng nữa, nguồn gốc cũng là phiền não trần lao và phải trôi lăn trong luân hồi sinh tử mà thôi.


Sau khi Đức Phật thành đạo, tâm Ngài hoàn toàn trong sáng, trí tuệ hoàn toàn sáng suốt, thấy biết chính xác ba đời nhân quả, gọi là chứng được tam minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh. Nói cách khác, tam minh là do huân tập giới, định, huệ mà có. Kinh nghiệm tu chứng này được Đức Phật truyền dạy cho các đệ tử. Người trực tiếp nghe Phật dạy đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như, nương theo đó tu hành dưới sự dìu dắt của Phật, chẳng bao lâu các ngài đắc quả vị A la hán.
Thực tế quả A la hán nghĩa là phát sinh được trí tuệ, thấy việc đáng làm, nơi nên đến, điều nên nói, người nên dạy. Đó chính là điều căn bản mà chúng ta cần thực hiện trên bước đường tu. Vì thế, Phật dạy rằng người thấy biết ba đời nhân quả, hay thấy lý nhân duyên, tùy theo đó giáo hóa độ sinh, thì khó khăn nào cũng vượt qua được. Khi Phật tại thế, Ngài và Thánh chúng thể hiện trọn vẹn tinh ba của lý nhân duyên trên bước đường truyền bá Chánh pháp, nên các ngài đã gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp vô cùng.
Đến khi Phật Niết bàn, nhân tâm ly tán, phiền não chi phối. Người chưa đắc quả vị nào, tâm chưa thanh tịnh mà tự nghĩ rằng đã đắc quả, đã thanh tịnh; chưa xứng đáng làm thầy sa môn mà nghĩ mình trên thiên hạ. Đó là sai lầm lớn trong giáo đoàn dẫn đến sự phân chia thành các bộ phái. Có thể nói vì không có Phật chỉ đạo, mỗi người tự chấp ngã, chấp pháp, không thể có cái nhìn sáng suốt, hòa hợp, thống nhất, cứ theo kiến chấp thấy mình đúng, người sai. Phiền não nhân đây phát sinh trùng trùng duyên khởi. Và phiền não khởi lên thì chướng duyên xảy đến càng nhiều, làm cho đạo Phật bắt đầu suy yếu.
Tuy nhiên, trên dòng lịch sử tồn tại của Phật giáo dài lâu cả ngàn năm, có những thời kỳ mà các vị Thánh Tăng xuất hiện, hoặc có những bậc chân tu tuân thủ ý Phật dạy. Tâm trí các ngài sáng suốt, thấy được lý nhân duyên; nhờ vậy việc tu hành thăng hoa và việc giáo hóa độ sinh được thành công, làm cho Phật giáo hưng thạnh.
Thực tế lịch sử cho thấy khi Phật giáo bị suy vong ở Ấn Độ, nhưng ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Tạng, Việt Nam… Phật giáo được hưng khởi. Vì chư vị Tổ sư đã thấy rõ lý đạo và áp dụng giáo pháp vào cuộc sống một cách đúng đắn; tùy theo nếp nghĩ, nếp sống của dân chúng từng nơi khác nhau mà giáo hóa. Kết quả là vua chúa thời đó đã ân triêm pháp nhũ và đại đa số quần chúng thấm nhuần Phật pháp, bớt khổ đau, được an vui; nói chung pháp Phật đã làm vơi đi sự oi bức của trần thế. Từ đó, phát sinh quan niệm đem Cực Lạc của Phật Di Đà đặt ngay tại thế giới này. Đó cũng chính là tinh thần Thiền tông của Phật giáo Việt Nam, có thể nói khởi đầu từ Phù Vân quốc sư dạy vua Trần Thái Tông rằng trong núi không có Phật, Phật vốn hiện hữu trong tâm con người, nếu biết đem tâm Phật đặt vào tâm mình. Nói cách khác, đem bốn tâm từ bi hỷ xả của Phật để vào tâm mình thì tâm mình đã có Phật và tâm có Phật rồi, mình ở đâu là có Phật ở đó và có Tịnh độ hiện ra nơi đó.
Trên bước đường tu, chúng ta phải nhận rõ ý này. Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng người nào đem từ bi hỷ xả để vào lòng và xử sự với nhau bằng bốn tâm này là Phật đã hiện hữu trong người đó, cho nên người đó xứng đáng để chư Thiên và loài người cung kính cúng dường. Trên bước đường tu, chúng ta không gặt hái được kết quả tốt đẹp, vì không biết đóng những cánh cửa để cho phiền não tràn vào. Theo Phật dạy, những cánh cửa đó là sáu căn: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ý vọng tưởng. Nếu mở sáu cửa này, chúng ta không thể tiếp cận được Phật, Bồ tát, Thánh Tăng, mà lại tiếp cận với những điều xấu và những thứ xấu này huân tập vào tâm, làm chúng ta buồn phiền, khổ đau.
Như vậy, đem điều phiền não vào lòng sẽ phá hư tất cả công đức mà chúng ta tu tạo được. Thực tế cho thấy nhiều người mới phát tâm tu, rất dễ thương; nhưng vì họ chưa đắc đạo, trải qua một thời gian  tiếp xúc với cuộc đời, để cho vui buồn vinh nhục của trần thế len vào tâm, làm hư tâm.
Chính vì thế mà Giáo hội chúng ta chủ trương thúc liễm thân tâm, nghĩa là đóng kín sáu giác quan, không cho tiếp xúc với trần duyên. Tu hành trong mùa an cư là đóng những cánh cửa này lại. Tôi thể hiện ý này qua câu “Trần duyên thuận nghịch tâm không thiết”. Thực tế là từ ngày rằm tháng Tư đến ngày rằm tháng Bảy âm lịch mỗi năm, vào mùa An cư kiết hạ, những cánh cửa này tôi đã khóa kín. Gặp nghịch duyên thì có cách tu theo nghịch, thuận duyên thì có cách tu theo thuận. Thật ra, thuận duyên không phải lúc nào cũng tốt cho chúng ta; lắm lúc nó cũng có mặt không lợi, vì phiền não cũng dễ phát sinh từ thuận duyên. Vì vậy, khi gặp thuận duyên, tức có những điều tốt lành, may mắn, được kính trọng, v.v... Bấy giờ, chúng ta tu bằng cách ngăn ngừa tâm không tốt phát sinh, điển hình là tâm kiêu mạn. Thật tu, càng được kính trọng càng phải khiêm tốn, để nuôi lớn đạo đức của mình. Người không xứng đáng mà được kính trọng thường ưa hãnh diện và khi hãnh diện rồi mà không được kính trọng nữa thì phiền não phát sinh liền.
Theo kinh nghiệm của riêng tôi, điều cần thiết là các thầy Tỳ kheo luôn bình thản trước mọi việc thạnh suy của cuộc đời. Lãnh trách nhiệm của Giáo hội giao phó, hoạt động của Ban Hoằng pháp Trung ương phải nói là ở giai đoạn đầu gặp điều thuận lợi thì ít mà đương đầu với nghịch duyên, khó khăn thì thật nhiều. Chúng tôi cố gắng thực hành hạnh tinh tấn và kham nhẫn để ngăn chặn phiền não phát sinh, giữ tâm thanh tịnh. Nhờ thể nghiệm pháp này trên bước đường hành đạo lâu ngày thành quen, gặp nghịch duyên, tôi không khởi tâm buồn giận. Ý này đã được Đức Phật khẳng định đối với hành giả Pháp Hoa rằng khi bị chống đối, phá hại cũng không lo buồn, sân hận và khi được trời người cung kính cúng dường thì cũng không vui mừng, cho đến nếu bị Dạ xoa sát hại cũng không sợ hãi. An trụ tâm thanh tịnh như thế thực là đệ tử Phật, mới có khả năng làm sứ giả Như Lai.
Tôi mong rằng dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Đường chủ và chư tôn đức trong Ban Chức sự  trường hạ Tổ đình Kim Liên, cùng với truyền thống tốt đẹp của Tổ đình chúng ta, đặc biệt nhất là được sự gia hộ của cố Đại lão Hòa thượng Pháp chủ sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư Tăng Ni trường hạ Tổ đình Kim Liên có được tâm thanh tịnh, trí sáng suốt, thành tựu mọi Phật sự, xứng đáng kế thừa sự nghiệp của các bậc tiền nhân để lại, làm phúc lạc cho nhân gian, nhất là tỉnh Ninh Bình chúng ta.

HT. Thích Trí Quảng

Share this article :
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com