Theo kinh điển Phật giáo Bắc truyền, vị trí của các vị Bồ tát rất cao, luôn kế cận bên Đức Phật. Riêng tôi chuyên tu Pháp Hoa, cho nên đối với hạnh nguyện của các vị Bồ tát, tôi rất quan tâm và tìm hiểu để áp dụng trong đời sống tu hành của mình.
Như các Phật tử đã biết, kinh Pháp Hoa còn có tên là Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, nghĩa là pháp để dạy các Bồ tát và được Phật hộ niệm. Vì thế, người tu theo kinh Pháp Hoa là tu hạnh Bồ tát, không phải tu hạnh nhị thừa. Và khi tu hạnh Bồ tát, chúng ta cần tìm các vị Bồ tát tiêu biểu để quán sát hành trạng của các ngài và theo đó ứng dụng trên bước đường tu của chính mình. Tụng kinh Pháp Hoa, tôi tâm đắc một số việc làm cao quý của các Bồ tát, nên tôi đã soạn bài sám Pháp Hoa, nhắc đến hạnh nguyện của bảy vị Đại Bồ tát; đó chính là đối tượng kiểu mẫu cho hành giả Pháp Hoa noi theo trên bước đường tiến đến quả vị Phật.
"Quan Âm, Thế Chí dẫn đường
Văn Thù khai thị, Dược Vương cứu đời
Nguyệt Quang, Di Lặc tuyệt vời
Phổ Hiền mười hạnh rạng ngời Tâm tông”
Tâm tông nghĩa là chúng ta lấy tâm làm chính trên bước đường tu. Thiền tông, Bát Nhã tông, Pháp Hoa tông, Hoa Nghiêm tông đều là Tâm tông. Nếu không nghiên cứu kỹ, chúng ta lầm tưởng rằng tâm tông của Phật giáo Đại thừa khác với Phật giáo Nguyên thủy.
Phải hiểu rằng kinh Nguyên thủy cũng lấy tâm làm chính trong việc tu hành; vì tâm muôn đời không sinh không diệt, trong khi thân có sinh diệt. Về phương diện tu chứng, hành giả theo Nguyên thủy hay Đại thừa đều chứng tâm Vô sanh.
Đức Phật đã dạy rất căn bản và thiết thực trong các kinh điển Nguyên thủy rằng việc chính của người tu là phải thoát khỏi lưới ma, không bị bốn loại ma là ngũ ấm ma, phiền não ma, thiên ma và tử ma bao vây, tác hại. Nếu không ra khỏi sự chi phối của bốn ma này, chúng ta vẫn tu hành trong sinh tử. Nói cách khác, khi còn sống, mang thân tứ đại, chúng ta là con người; nhưng rời bỏ thân người, thì thành ma. Từ ma sinh làm người và người chết thành ma. Tu như vậy, muôn kiếp ngàn đời chúng ta ở trong tứ sanh lục đạo là thế giới sinh diệt luôn luôn bị khổ đau của sinh diệt ràng buộc.
Dù tu theo Nguyên thủy hay Đại thừa, chúng ta cũng phải cố gắng vượt ra khỏi sự chi phối của sự sinh diệt. Muốn vượt được, tất yếu chúng ta phải nương theo tam thừa giáo mà Đức Phật đã đưa ra; đó là pháp tu của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát mà kinh Pháp Hoa gọi là ba xe để ra khỏi Nhà lửa tam giới. Đi theo ba con đường của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, chắc chắn ra khỏi sinh tử. Trong ba con đường này dẫn đến điểm an toàn thì con đường Thanh văn tương đối dễ nhất và khó hơn cả là con đường của Bồ tát.
Kinh Nguyên thủy là kinh bắt đầu Phật dạy cho đối tượng con người. Vì thế, chúng ta thấy lời Phật dạy gần gũivới mình hơn là kinh Đại thừa nói đến những việc của Bồ tát thường cách xa chúng ta. Tuy nhiên, nương theo kinh điển Nguyên thủy hay Đại thừa tu hành đều chứng được quả Vô sanh, ra khỏi sinh tử; nghĩa là đã phá bỏ lưới ma, được tự tại, giải thoát.
Đức Phật đã dạy rằng sự giải thoát là việc chính đối với người tu; nhưng thực tế cho thấy đa số người tu bị ràng buộc. Kinh Pháp Hoa gọi tình trạng sai lầm này là uống lầm thuốc, thì càng tu càng tạo thêm ràng buộc nữa, nói đơn giản là nghiệp sinh ra nghiệp, nghiệp cũ đổi sang nghiệp mới, từ khổ ít đổi thành khổ nhiều. Trong khi giáo pháp của Phật dạy giúp chúng ta chuyển đổi khổ nhiều thành khổ ít, cho đến hết khổ.
Khổ nhất là ở địa ngục. Địa ngục này là tâm đau khổ của con người ngay lúc còn sống, không phải chết mới đọa vào địa ngục. Có hai thứ địa ngục, địa ngục trong giấc chiêm bao và địa ngục trong cuộc sống. Cả hai địa ngục này giống nhau, vì địa ngục trong chiêm bao hay địa ngục trong cuộc sống đều phát xuất từ hành vi tạo tác của chúng ta, từ tâm trạng của chúng ta, sống trong khổ đau là địa ngục.
Người tạo nhiều tội ác như Tần Thủy Hoàng hoặc vua Đường Thái Vân, cả hai ông vua này thống nhất được nước Trung Hoa thì đã sát hại không biết bao nhiêu người, cho nên họ nhìn đâu cũng thấy người đòi mạng và nhắm mắt lại là thấy người đâm chém họ. Thân của họ còn sống, nhưng tâm đã vào địa ngục. Trái lại, có người còn sống nhưng đã lên Niết bàn, gọi là Hữu dư y Niết bàn.
Người còn sống mà đã vào địa ngục là do tâm bất an, vì đã tạo tội ác nhiều đời trước hoặc là trong đời hiện tại. Như Tần Thủy Hoàng trong hiện đời có phước, có sức khỏe tốt, thông minh và được bạn bè hết lòng ủng hộ ông. Nhưng ông đã chuyển thiện nghiệp thành ác nghiệp; vì dùng trí thông minh để chinh lược gây chiến tranh, dùng sức mạnh để giết người, dùng bạn để làm việc ác. Cuối cùng, những thứ phước này hết thì địa ngục hiện ra ngay trong cuộc sống của ông.Trái lại, người gặp nhiều điều không may mắn, sống trong hoàn cảnh không tốt. Nhưng họ biết tu hành, nhờ Phật pháp, lần chuyển hóa ác nghiệp thành cuộc sống an lành.
Đức Phật dạy rằng từ thiện nghiệp, có công đức, tu lên rất dễ. Người chưa có công đức, việc tiến tu khó hơn và người có ác nghiệp thì tu càng khó hơn nhiều. Cũng cùng ý này, Trí Giả đại sư chia ra ba hạng người là thượng căn, trung căn và hạ căn. Hàng thượng căn, thượng trí sinh ra trên cuộc đời đã có hoàn cảnh tốt đẹp, được thông minh, khỏe mạnh, giàu có. Nếu họ phát tâm tu hành sẽ tạo công đức rất nhanh.
Hạng người thứ hai không có công đức, nhưng cũng không có ác nghiệp, là người bình thường như bao người khác, muốn tu lên, tạo được công đức tất nhiên phải khó hơn hạng người thứ nhất. Thuở còn đi học, tôi thấy rõ những sinh viên thuộc gia đình giàu có được đầy đủ tiện nghi, việc học của họ dễ dàng. Nhưng cũng có một số sinh viên sẵn phước báo như vậy mà vẫn không tự tiến thân được. Trong khi tôi thiếu thốn mọi mặt, phải tự phấn đấu, vừa học vừa làm, cũng đạt được thành quả tốt.
Hạng thứ ba là bậc hạ đã mang nghiệp vào thân, cho nên có những điều không lành là nghèo đói, bệnh hoạn, xấu xí, ngu dốt. Họ khó có bạn bè tốt được, ví như ăn mày chỉ làm bạn được với ăn xin. Sống trong hoàn cảnh khó khăn như thế mà dấn thân tu hành cũng được, nhưng rất khó.
Chúng ta quan sát ba hạng người này trong giáo lý tam thừa thì thấy tương ưng với hàng Thanh văn là bậc hạ, hàng Duyên giác là bậc trung và Bồ tát là bậc thượng.
Hàng hạ căn, hạ trí, hạ liệt muốn tu theo Bồ tát, nghĩa là đốt giai đoạn, đi tắt, hành Bồ tát đạo cũng được, nhưng phải nương theo thiện tri thức. Nếu không, tu theo con đường Thanh văn, Duyên giác thì tiến chậm hơn.
Tu Thanh văn, Duyên giác giác là gì? Chúng ta có bệnh phải lo chữa bệnh trước; lo chữa bốn bệnh: nghèo khổ, xấu xí, ngu dốt và các bệnh tật của thân vật chất. Tu Thanh văn, chữa lành bốn bệnh này và tự phấn đấu đi lên cũng được vậy, nhưng phải nói không biết mấy kiếp mới xong. Thử nghĩ đơn giản như mình nghèo đói, côi cút, không bạn bè, mắc bệnh nặng thì chữa chạy cho lành bệnh, ngoi lên bằng thiên hạ, chắc chắn không dễ chút nào.
Đối với hạng người này, Trí Giả dạy rằng phải giải nghiệp mình trước, nghĩa là phải chữa thân bệnh và tâm bệnh, tức nghiệp ác. Tôi luôn quan tâm đến việc giải trừ nghiệp ác. Nghiệp ác bên ngoài thấy được là thân và bên trong là tâm.Thân và tâm gắn liền với nhau thể hiện thành cuộc sống của chúng ta.
Đối với Thanh văn, Đức Phật dạy tu 37 trợ đạo phẩm để giải trừ nghiệp ác. 37 trợ đạo phẩm là pháp tu rất thiết thực trong cuộc sống. Học giáo lý nhiều, nhưng không nhận ra vị trí thực của chính mình để khởi tu, không thể đạt kết quả tốt.
Khởi đầu của 37 trợ đạo phẩm, Phật dạy chúng ta tu tứ niệm xứ quán. Tu Thiền cũng sử dụng pháp quán này, thường gọi là Thiền Tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ quán là để tâm vào bốn việc. Phật dạy muốn giải thoát phải quán tưởng thân và tâm chúng ta, nghĩa là phải nhận ra thân chúng ta là gì, cấu tạo như thế nào và tâm chúng ta diễn biến ra sao. Phật dạy rằng thân con người bất tịnh và tâm thì vô thường. Phải luôn luôn ý thức thân bất tịnh và tâm vô thường, để giải tỏa những vướng mắc, buồn phiền, khổ đau của chúng ta trong mọi sinh hoạt hằng ngày.
Bắt đầu tu, tôi sử dụng pháp quán Tứ niệm xứ để nhìn cuộc đời, để sống với cuộc đời mà không bị phiền lụy.Trước khi tu, tôi khó tánh. Thí dụ 8 giờ giảng kinh, hay hội họp, nếu người khác không làm đúng như vậy, tôi cảm thấy khó chịu. Quen tánh này, đi đâu tôi thường đến sớm; nên ai đi trễ tôi không thích. Tánh này tốt, nhưng dễ làm cho ta sinh ra tâm phiền não; nghĩa là nghiệp bắt đầu sinh ra, thì cuối cùng ta thấy ai cũng lôi thôi, nghiệp ta nổi dậy, phát ra lời nói thô ác, cho đến hành động ác.
Nhưng khi quán tâm vô thường theo Phật dạy, tôi trở nên cởi mở; vì nhận biết được tâm có thay đổi, tức là nghiệp thay đổi, nên hoàn cảnh cũng phải đổi theo là điều tất yếu thôi. Vô thường là thường. Có một câu chuyện cũng nói lên ý này. Xưa kia, một anh học trò nghèo đi thi. Trên đường đi, anh ta ghé vào chùa lễ Phật thì gặp một ông thầy bói trước cổng chùa. Ông thầy bói này giỏi cả việc coi tướng. Thấy anh học trò có tướng sang trọng, nên ông gọi đến bảo rằng sẽ lo việc ăn ở cho anh trong khi chờ dự thi và sẽ gả con gái cho anh. Anh học trò mừng rỡ và bằng lòng lời đề nghị của ông này, sau khi coi mặt cô con gái của ông. Anh ta bảo ông thầy bói đợi anh lên chùa lạy Phật đã. Sau khi lạy Phật xong, anh học trò trở lại gặp ông thầy bói thì ông này từ chối, không chịu gả con gái cho anh ta nữa. Ông nói rằng vì lúc sáng thấy tướng anh làm quan nên muốn gả con; nhưng bây giờ thấy anh lộ ra tướng bị chết chém, nên không dám gả.Không biết cậu này làm gì ác mà tướng đổi mau vậy. Tôi suy nghĩ mãi câu chuyện này và sang Nhật học, tôi nói chuyện này với một vị thiền sư. Ngài không giải đáp mà chỉ bảo tôi về suy nghĩ thêm 30 năm nữa. Thiền ít nói là như vậy. Câu chuyện gợi cho chúng ta suy nghĩ việc đi chùa, tu hành, công quả, nhìn bề ngoài thấy tốt; nhưng bên trong có gì đó thật sự không tốt, cho nên công đức mới không sinh, mà tội sinh ra.
Quán thân bất tịnh và quán tâm vô thường, chúng ta hóa giải được những việc xảy ra thì thân không bệnh khổ, tâm không phiền não. Trên bước đường tu, chúng ta phải phá trừ hai thứ ma này, ma bệnh và ma phiền não. Làm sao đối trước mọi hoàn cảnh, chúng ta không buồn phiền, giận dữ, lo lắng, sợ hãi. Tu Thanh văn, tôi nhắm vào việc khắc phục bốn thứ tâm, buồn giận lo sợ. Còn về thân, chúng ta cố gắng điều chỉnh để không bệnh hoạn, không đòi hỏi. Không phải nằm liệt giường mới là bệnh. Chúng ta còn lệ thuộc vào thân là còn bệnh. Phật dạy đối với người tu, thức ăn là vị thuốc; vì không ăn, thân chúng ta không tồn tại được, như thế, còn ăn là còn bệnh. Phật tử tu hành phải giải quyết vấn đề này bằng cách giảm cầu tăng cung. Thật vậy, áp dụng pháp Phật dạy là tam thường bất túc, tức ba việc ăn mặc, ngủ nghỉ nên giảm bớt lần khi tu hành. Giảm ăn uống đến mức tối đa, để không tiêu hao tiền của nhiều, không tiêu hao công đức.
Có bao nhiêu tiền của đều chuyển đổi thành công đức, mới mong tiến tu lâu dài được. Một số thầy mới tu được cung kính cúng dường nhiều, nhưng vì tiêu dùng cho việc ăn mặc, nghĩa là đã đổi công đức thành tiền và sử dụng hết. Đến một lúc nào đó, công đức cạn, không còn được cúng dường nữa. Trên bước đường tu, làm sao tăng công đức và giảm chi tiêu, mức cung phải hơn mức cầu, mới còn công đức. Những người phát triển việc tu hành được thì mỗi ngày công đức lớn thêm, nghĩa là có nhiều người kính trọng hơn, nhiều người cúng dường hơn, trong khi họ thật sự không màng đến những việc ấy.
Điều chỉnh thân trước, là thân không bệnh hoạn, nhưng được trang nghiêm bằng công đức. Hay nói đúng hơn, thân trang nghiêm bằng công đức mới không bệnh, trang nghiêm bằng nghiệp chướng trần lao phải bệnh. Trang nghiêm bằng công đức thành tựu thì chuyển thân này thành Pháp thân, cũng vẫn là thân người, nhưng lúc đó, huyễn thân là Pháp thân. Ngài Huyền Giác đã dạy rằng huyễn hóa sanh thân tức Pháp thân là ý này; không phải bỏ sanh thân, nhưng chuyển hóa nó thành Pháp thân.
Công đức của chúng ta lớn thì nhu cầu vật chất không còn cần thiết nữa, hay công đức chúng ta lớn thì tự sinh thêm công đức. Điển hình như Hòa thượng Thanh Từ lúc mới hành đạo ở núi Lớn, vất vả vô cùng. Nhưng khi ngài tạo được công đức, Pháp thân tăng trưởng, tự nhiên Nhà nước cấp đất ở hồ Tuyền Lâm để Hòa thượng xây dựng Thiền viện Trúc Lâm rất lớn. Và ở phía Bắc, lại xây thêm Trúc Lâm Yên Tử. Công đức lớn thêm nữa, Ngài lại xây chùa Trúc Lâm Tây Thiên. Ngài xây dựng cả ba ngôi chùa này rất lớn bằng công đức tu hành, nên không khổ công nhọc sức kêu gọi, quyên góp gì cả. Còn người tu mất công đức thì chùa bị giải tỏa không được đền bù. Người không có công đức mà chỉ có nghiệp chướng trần lao vác đơn đi kiện khắp nơi, chẳng được gì, còn bị phê phán là hung dữ.
Chúng ta còn nhớ bài pháp mà đức Phật nói với các thầy Tỳ kheo về một ông chủ chăn nuôi bị mất bò. Ông ta chạy đi tìm bò khổ sở vô cùng. Phật bảo các thầy an lạc hơn ông này vì không có con bò nào để mất. Người tu không có vật nào trong tay, tâm khỏi lo lắng. Có chùa phải lo chùa, có của phải giữ của. Hòa thượng Thanh Từ không lo gì cả, mặc dù ngài là Viện chủ của nhiều Thiền viện.
Tu nhị thừa, quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường để điều chỉnh lần thân và tâm được nhẹ nhàng, được giải thoát. Kế đến, chúng ta quán thọ là khổ, quán pháp là không. Cái gì mình thọ nhận cũng phải khổ, thọ của người tiền tài là rước cái tai cho họ. Ông cụ thân sinh của tôi kể lại lúc ông mới biết đạo, lên chùa than với Hòa thượng là nhà bị mất trộm đồ. Hòa thượng mới dạy rằng như vậy là tốt, người ta đã rước họa cho ông, vì có phước tản tài, vô phước tản mạng.Thay vì người anh của tôi phải chết vì đang bệnh, nhưng người ăn trộm đã rước đi cái nạn này. Ông cụ tôi mới thuật lại cho ông hàng xóm nghe lời dạy của Hòa thượng như thế. Hòa thượng còn chỉ cho biết chỗ tên trộm giấu đồ, nhưng nếu đến lấy lại là chết. Ông hàng xóm mới xúi ông thân tôi đến đó coi có đúng như vậy hay không. Cả hai ông cùng đi đến chỗ Hòa thượng chỉ, nhưng ông thân tôi tin Hòa thượng, nên đứng xa xa nhìn, không dám đến gần. Còn ông hàng xóm đến thấy đồ ăn cắp còn đó, mừng quá lấy về, thì người con trai của ông cũng bằng tuổi anh tôi không bệnh hoạn gì cả, bỗng nhiên sốt rồi chết.
Thọ nhận của người là rước cái nghiệp của người, ít thọ nhận thì tốt hơn. Cái gì cũng phải có cái giá để trả. Chẳng lẽ người ta cho mình ăn không. Trên bước đường tu, gặp người giàu cho ăn, nhớ nghĩ thọ là khổ, nên không dám ăn. Ănphải mang ơn, phải làm gì cho họ. Người giàu thường sử dụng tiền của để thí mạng mình, nhẹ hơn là cho ăn thì phải làm gì cho họ. Dân gian có câu rất hay, bánh ít đi bánh quy lại. Muốn được giải thoát, cần giảm thiểu tối đa sự thọ nhận của người. Phật cũng dạy chúng ta pháp xả thọ, không thọ nhận vật chất bên ngoài và cũng không lưu giữ bất cứ thứ gì trong tâm.
Và pháp quán thứ tư, quán tất cả các pháp vô ngã, nghĩa là tánh của tất cả các pháp vốn là Không. Có nhiều của cải thì chết cũng không đem theo được một chút xíu gì, tất cả đều là không mà. Người xưa cũng nói tang điền thương hải, tức từ đất liền bỗng chốc biến thành biển, có gì bền chắc đâu. Chẳng những mạng sống mình ngắn ngủi, mà luôn cả trái đất này có thể tan hoại bất cứ lúc nào. Chúng ta đang sống ở đây, tưởng là vững vàng lắm, nhưng nếu một sa thạch nào đó rơi trúng quả địa cầu của chúng ta, thì cả nhân loại tức thì đều biến thành tro bụi. Nhiều lần, các nhà thiên văn đã cảnh báo như vậy rồi.
Quán tưởng bốn pháp : thân bất tịnh, tâm vô thường, thọ thì khổ, pháp vô ngã, tâm chúng ta sẽ thanh tịnh, lắng yên, tất cả phiền não ma, ngũ ấm ma, thiên ma cũng phá trừ được; nhờ đó, thế giới của Phật, Bồ tát hiện ra. Không phá được ba thứ ma này, muôn đời ở trong sáu đường sinh tử, liên tục thay đổi hình hài và cuộc sống khổ đau, sung sướng, giàu nghèo cũng thay đổi luôn.
Chúng ta, những người đệ tử Phật, may mắn được Phật khai ngộ và áp dụng pháp quán tứ niệm xứ trên bước đường tu, nghiệp chướng trần lao của chúng ta lắng yên, không bị vật chất bao vây đòi hỏi, trí tuệ tự sinh ra, chúng ta nhìn đời chính xác. Trí tuệ vô lậu đó là tạng báu của chúng ta muôn đời và phước báu này giúp chúng ta được làm quyến thuộc của Bồ tát thì từ người tu không có tài sản vật chất trở thành người cao quý trên cuộc đời.
Thật vậy, nếu rời bỏ tâm tham chấp của thế nhân, chúng ta sẽ sử dụng được vô tận tạng công đức, thâm nhập vào thế giới Phật và Bồ tát thì những gì của Phật chúng ta dùng mãi cũng không hết; vì phước đức của Phật là vô cùng vô tận.
Hành Bồ tát đạo theo tinh thần Đại thừa, tôi nhận thức sâu sắc việc làm của mình là “Làm tôi cho Phật”. Nghĩa là phước báu chúng ta có được là của Phật, chúng ta làm nhiệm vụ giữ gìn phước báu của Phật, dấn thân vào con đường của Bồ tát. Tạng báu của Phật mà chúng ta khai thác được, tự nhiên chúng ta trở thành giàu có. Việc này tạm ví như Phật là ông chủ giàu có và chúng ta làm người quản lý. Chúng ta nghèo, nhưng tu trong pháp Phật cũng như làm quản lý cho Phật, cho Bồ tát; miễn là quản lý tốt, chắc chắn cũng được chút phần công đức. Phẩm tín giải thứ tư trong kinh Pháp Hoa nói rằng người cùng tử nghèo khổ chấp nhận nương tựa trưởng giả, bắt đầu được trả lương gấp đôi người thường. Họ làm việc nhẹ nhàng, nhưng được phước báu lớn lao.
Trước kia tu hạnh Thanh văn một mình rất khó nhọc, phước báu chúng ta rất ít. Nhưng khi phát tâm nương theotrí tuệ và phước báu của thiện tri thức mà tự phát triển trí tuệ và phước báu của chính mình một cách dễ dàng; đó là tu theo Bồ tát đạo.
Vì vậy, dấn thân thực hiện Bồ tát hạnh, chúng ta cần chọn các vị Bồ tát nào mình cảm thấy gần gũi, thân thương để làm đối tượng nương theo, hướng tâm đến và thực hành theo hạnh nguyện của vị Bồ tát đó. Trí tuệ và công đức của chúng ta nhờ đó dễ phát sinh, ví như sống chung với người giỏi, chúng ta cũng mau giỏi, còn tự mình khám phá thì rất khó khăn.
Riêng tôi, trên bước đường hành Bồ tát đạo, tôi nỗ lực khai thác kho báu của Phật và chư Bồ tát, không phải kho báu của tôi, để làm giàu thêm kho tàng Phật pháp. Nhờ làm tôi cho Phật theo cách đó, trí tuệ và công đức của tôi cũng được thăng hoa. Đó là những kinh nghiệm mà tôi muốn chia sẻ cho tất cả quý vị. Mong rằng mọi người đi theo dấu chân Phật đều tìm được thiện tri thức để nương tựa, thân cận, thực hành theo, ngõ hầu gặt hái được kết quả tốt đẹp trên bước đường tu hành.
Quán thân bất tịnh và quán tâm vô thường, chúng ta hóa giải được những việc xảy ra thì thân không bệnh khổ, tâm không phiền não. Trên bước đường tu, chúng ta phải phá trừ hai thứ ma này, ma bệnh và ma phiền não. Làm sao đối trước mọi hoàn cảnh, chúng ta không buồn phiền, giận dữ, lo lắng, sợ hãi. Tu Thanh văn, tôi nhắm vào việc khắc phục bốn thứ tâm, buồn giận lo sợ. Còn về thân, chúng ta cố gắng điều chỉnh để không bệnh hoạn, không đòi hỏi. Không phải nằm liệt giường mới là bệnh. Chúng ta còn lệ thuộc vào thân là còn bệnh. Phật dạy đối với người tu, thức ăn là vị thuốc; vì không ăn, thân chúng ta không tồn tại được, như thế, còn ăn là còn bệnh. Phật tử tu hành phải giải quyết vấn đề này bằng cách giảm cầu tăng cung. Thật vậy, áp dụng pháp Phật dạy là tam thường bất túc, tức ba việc ăn mặc, ngủ nghỉ nên giảm bớt lần khi tu hành. Giảm ăn uống đến mức tối đa, để không tiêu hao tiền của nhiều, không tiêu hao công đức.
Có bao nhiêu tiền của đều chuyển đổi thành công đức, mới mong tiến tu lâu dài được. Một số thầy mới tu được cung kính cúng dường nhiều, nhưng vì tiêu dùng cho việc ăn mặc, nghĩa là đã đổi công đức thành tiền và sử dụng hết. Đến một lúc nào đó, công đức cạn, không còn được cúng dường nữa. Trên bước đường tu, làm sao tăng công đức và giảm chi tiêu, mức cung phải hơn mức cầu, mới còn công đức. Những người phát triển việc tu hành được thì mỗi ngày công đức lớn thêm, nghĩa là có nhiều người kính trọng hơn, nhiều người cúng dường hơn, trong khi họ thật sự không màng đến những việc ấy.
Điều chỉnh thân trước, là thân không bệnh hoạn, nhưng được trang nghiêm bằng công đức. Hay nói đúng hơn, thân trang nghiêm bằng công đức mới không bệnh, trang nghiêm bằng nghiệp chướng trần lao phải bệnh. Trang nghiêm bằng công đức thành tựu thì chuyển thân này thành Pháp thân, cũng vẫn là thân người, nhưng lúc đó, huyễn thân là Pháp thân. Ngài Huyền Giác đã dạy rằng huyễn hóa sanh thân tức Pháp thân là ý này; không phải bỏ sanh thân, nhưng chuyển hóa nó thành Pháp thân.
Công đức của chúng ta lớn thì nhu cầu vật chất không còn cần thiết nữa, hay công đức chúng ta lớn thì tự sinh thêm công đức. Điển hình như Hòa thượng Thanh Từ lúc mới hành đạo ở núi Lớn, vất vả vô cùng. Nhưng khi ngài tạo được công đức, Pháp thân tăng trưởng, tự nhiên Nhà nước cấp đất ở hồ Tuyền Lâm để Hòa thượng xây dựng Thiền viện Trúc Lâm rất lớn. Và ở phía Bắc, lại xây thêm Trúc Lâm Yên Tử. Công đức lớn thêm nữa, ngài lại xây chùa Trúc Lâm Tây Thiên. Ngài xây dựng cả ba ngôi chùa này rất lớn bằng công đức tu hành, nên không khổ công nhọc sức kêu gọi, quyên góp gì cả. Còn người tu mất công đức thì chùa bị giải tỏa không được đền bù. Người không có công đức mà chỉ có nghiệp chướng trần lao vác đơn đi kiện khắp nơi, chẳng được gì, còn bị phê phán là hung dữ.
Chúng ta còn nhớ bài pháp mà Đức Phật nói với các thầy Tỳ kheo về một ông chủ chăn nuôi bị mất bò. Ông ta chạy đi tìm bò khổ sở vô cùng. Phật bảo các thầy an lạc hơn ông này vì không có con bò nào để mất. Người tu không có vật nào trong tay, tâm khỏi lo lắng. Có chùa phải lo chùa, có của phải giữ của. Hòa thượng Thanh Từ không lo gì cả, mặc dù ngài là viện chủ của nhiều thiền viện.
Tu nhị thừa, quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường để điều chỉnh lần thân và tâm được nhẹ nhàng, được giải thoát. Kế đến, chúng ta quán thọ là khổ, quán pháp là không. Cái gì mình thọ nhận cũng phải khổ, thọ của người tiền tài là rước cái tai cho họ. Ông cụ thân sinh của tôi kể lại lúc ông mới biết đạo, lên chùa than với Hòa thượng là nhà bị mất trộm đồ. Hòa thượng mới dạy rằng như vậy là tốt, người ta đã rước họa cho ông, vì có phước tản tài, vô phước tản mạng.Thay vì người anh của tôi phải chết vì đang bệnh, nhưng người ăn trộm đã rước đi cái nạn này. Ông cụ tôi mới thuật lại cho ông hàng xóm nghe lời dạy của Hòa thượng như thế. Hòa thượng còn chỉ cho biết chỗ tên trộm giấu đồ, nhưng nếu đến lấy lại là chết. Ông hàng xóm mới xúi ông thân tôi đến đó coi có đúng như vậy hay không. Cả hai ông cùng đi đến chỗ Hòa thượng chỉ, nhưng ông thân tôi tin Hòa thượng, nên đứng xa xa nhìn, không dám đến gần. Còn ông hàng xóm đến thấy đồ ăn cắp còn đó, mừng quá lấy về, thì người con trai của ông cũng bằng tuổi anh tôi không bệnh hoạn gì cả, bỗng nhiên sốt rồi chết.
Thọ nhận của người là rước cái nghiệp của người, ít thọ nhận thì tốt hơn. Cái gì cũng phải có cái giá để trả. Chẳng lẽ người ta cho mình ăn không. Trên bước đường tu, gặp người giàu cho ăn, nhớ nghĩ thọ là khổ, nên không dám ăn. Ănphải mang ơn, phải làm gì cho họ. Người giàu thường sử dụng tiền của để thí mạng mình, nhẹ hơn là cho ăn thì phải làm gì cho họ. Dân gian có câu rất hay, bánh ít đi bánh quy lại. Muốn được giải thoát, cần giảm thiểu tối đa sự thọ nhận của người. Phật cũng dạy chúng ta pháp xả thọ, không thọ nhận vật chất bên ngoài và cũng không lưu giữ bất cứ thứ gì trong tâm.
Và pháp quán thứ tư, quán tất cả các pháp vô ngã, nghĩa là tánh của tất cả các pháp vốn là Không. Có nhiều của cải thì chết cũng không đem theo được một chút xíu gì, tất cả đều là không mà. Người xưa cũng nói tang điền thương hải, tức từ đất liền bỗng chốc biến thành biển, có gì bền chắc đâu. Chẳng những mạng sống mình ngắn ngủi, mà luôn cả trái đất này có thể tan hoại bất cứ lúc nào. Chúng ta đang sống ở đây, tưởng là vững vàng lắm, nhưng nếu một sa thạch nào đó rơi trúng quả địa cầu của chúng ta, thì cả nhân loại tức thì đều biến thành tro bụi. Nhiều lần, các nhà thiên văn đã cảnh báo như vậy rồi.
Quán tưởng bốn pháp: thân bất tịnh, tâm vô thường, thọ thì khổ, pháp vô ngã, tâm chúng ta sẽ thanh tịnh, lắng yên, tất cả phiền não ma, ngũ ấm ma, thiên ma cũng phá trừ được; nhờ đó, thế giới của Phật, Bồ tát hiện ra. Không phá được ba thứ ma này, muôn đời ở trong sáu đường sinh tử, liên tục thay đổi hình hài và cuộc sống khổ đau, sung sướng, giàu nghèo cũng thay đổi luôn.
Chúng ta, những người đệ tử Phật, may mắn được Phật khai ngộ và áp dụng pháp quán Tứ niệm xứ trên bước đường tu, nghiệp chướng trần lao của chúng ta lắng yên, không bị vật chất bao vây đòi hỏi, trí tuệ tự sinh ra, chúng ta nhìn đời chính xác. Trí tuệ vô lậu đó là tạng báu của chúng ta muôn đời và phước báu này giúp chúng ta được làm quyến thuộc của Bồ tát thì từ người tu không có tài sản vật chất trở thành người cao quý trên cuộc đời.
Thật vậy, nếu rời bỏ tâm tham chấp của thế nhân, chúng ta sẽ sử dụng được vô tận tạng công đức, thâm nhập vào thế giới Phật và Bồ tát thì những gì của Phật chúng ta dùng mãi cũng không hết; vì phước đức của Phật là vô cùng vô tận.
Hành Bồ tát đạo theo tinh thần Đại thừa, tôi nhận thức sâu sắc việc làm của mình là “làm tôi cho Phật”. Nghĩa là phước báu chúng ta có được là của Phật, chúng ta làm nhiệm vụ giữ gìn phước báu của Phật, dấn thân vào con đường của Bồ tát. Tạng báu của Phật mà chúng ta khai thác được, tự nhiên chúng ta trở thành giàu có. Việc này tạm ví như Phật là ông chủ giàu có và chúng ta làm người quản lý. Chúng ta nghèo, nhưng tu trong pháp Phật cũng như làm quản lý cho Phật, cho Bồ tát; miễn là quản lý tốt, chắc chắn cũng được chút phần công đức. Phẩm Tín giải thứ tư trong kinh Pháp Hoa nói rằng người cùng tử nghèo khổ chấp nhận nương tựa trưởng giả, bắt đầu được trả lương gấp đôi người thường.Họ làm việc nhẹ nhàng, nhưng được phước báu lớn lao.
Trước kia tu hạnh Thanh văn một mình rất khó nhọc, phước báu chúng ta rất ít. Nhưng khi phát tâm nương theotrí tuệ và phước báu của thiện tri thức mà tự phát triển trí tuệ và phước báu của chính mình một cách dễ dàng; đó là tu theo Bồ tát đạo.
Vì vậy, dấn thân thực hiện Bồ tát hạnh, chúng ta cần chọn các vị Bồ tát nào mình cảm thấy gần gũi, thân thương để làm đối tượng nương theo, hướng tâm đến và thực hành theo hạnh nguyện của vị Bồ tát đó. Trí tuệ và công đức của chúng ta nhờ đó dễ phát sinh, ví như sống chung với người giỏi, chúng ta cũng mau giỏi, còn tự mình khám phá thì rất khó khăn.
Riêng tôi, trên bước đường hành Bồ tát đạo, tôi nỗ lực khai thác kho báu của Phật và chư Bồ tát, không phải kho báu của tôi, để làm giàu thêm kho tàng Phật pháp. Nhờ làm tôi cho Phật theo cách đó, trí tuệ và công đức của tôi cũng được thăng hoa. Đó là những kinh nghiệm mà tôi muốn chia sẻ cho tất cả quý vị. Mong rằng mọi người đi theo dấu chân Phật đều tìm được thiện tri thức để nương tựa, thân cận, thực hành theo, ngõ hầu gặt hái được kết quả tốt đẹp trên bước đường tu hành.
HT. Thích Trí Quảng





