Hôm nay dự lễ húy kỵ lần thứ 11 của Hòa thượng viện chủ Thích Thanh Phong, tôi nhớ lại thập niên 50, cố Hòa thượng đã cùng học với tôi tại Phật học đường Nam Việt. Hòa thượng rất hiền lành và được Phật tử quý mến, cho nên gần gũi Hòa thượng, tôi học được đức tánh hiền lành. Ngoài ra, tôi còn tiếp nhận được đức tánh hiền lành từ cố Hòa thượng Giám đốc Thích Thiện Hòa. Nhưng vì hạnh nguyện của tôi thích hợp với ngành hoằng pháp, nên tôi để tâm theo học nhiều hơn với cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Và sau này, tôi kế nghiệp Hòa thượng Thiện Hoa về hoằng pháp.
Điều này chúng ta phải hiểu là thầy trò, đạo bạn đều có nhân duyên từ nhiều kiếp, cho nên đời này mới gặp nhau và có sự cảm thông tương ưng về pháp tu, về đạo hạnh, về suy nghĩ, v.v… trong cuộc sống. Kể từ khi Hòa thượng Thanh Phong nhận trách nhiệm trụ trì ngôi chùa này, tôi ít gặp Hòa thượng, vì mỗi người đi một hướng. Nhưng hình ảnh thân thương ngày nào về ngài vẫn còn tồn đọng trong tôi.
Nhân ngày húy kỵ của Hòa thượng, tôi về đây, trước là hồi tưởng lại tình pháp lữ cố tri trong thời gian cùng học chung và sau đó nhận thấy học trò thừa kế của Hòa thượng vẫn giữ được phong thái ngày nào. Tôi mong quý vị noi gương thầy để phát huy đạo hạnh, làm gương tốt cho đời và thăng hoa trên bước đường tu.
Tôi có vài suy nghĩ nhằm nhắc nhở các anh em xuất gia và Phật tử tại gia trên bước đường tu. Chúng ta thường nói giáo pháp Phật có 84.000 pháp môn tu. Vì thế, người ta thường hiểu rằng có nhiều pháp môn tu thì tu pháp nào cũng được. Mặc dù tu pháp nào cũng được, nhưng không khéo, chúng ta dễ bị lạc ra ngoài pháp Phật; vì 84.000 pháp tu của Phật được mở rộng để thu nhiếp tất cả tư tưởng của con người. Như vậy, 84.000 pháp môn tương ưng với 84.000 phiền não trần lao; nhưng không nhận ra được yếu lý này, chúng ta sẽ đi vào trần lao phiền não, kết quả là càng tu thì nghiệp chướng trần lao càng sâu dày, phiền não càng nổi dậy. Nghĩa là chúng ta từ Phật pháp mà đi vào sinh tử; tu cách này, không bao giờ tiến bộ được.
Chúng ta cần suy nghĩ, ý thức rằng 84.000 pháp môn tu là con đường giúp chúng ta đang sống trong phiền não trần lao mà hướng về Bồ đề. Nói cách khác, tu pháp nào cũng được, nhưng phải được giải thoát. Trên bước đường tu, khi thấy tâm mình không an lành, thân không giải thoát là biết đã lạc vào trần lao phiền não, thì càng tu càng khổ. Nhất là Phật tử tại gia nên nhớ ý này, pháp Phật có nhiều như vậy, nhưng chỉ có một vị giải thoát mà thôi.
Từ 84.000 pháp môn tu nếu thu hẹp lại, còn hai thừa là nhân thừa và thiên thừa, tức pháp Phật dạy cho người còn phải chịu luân hồi sinh tử trong lục đạo tứ sanh, hay còn phải sống trong Nhà lửa tam giới theo kinh Pháp Hoa. Nhưng nhân thừa và thiên thừa theo Phật là nhân lành giúp con người từng bước đi vào đường lành, được sống an lành.
Giáo lý của nhân thừa mà Phật dạy là tam quy, ngũ giới; nhưng quan trọng nhất là pháp tam quy. Thật vậy, nếu có giữ ngũ giới, nhưng không thọ tam quy, cũng không thể đi vào cửa Phật được. Vì theo đạo Nho cũng có ngũ giới gọi là ngũ thường gồm nhơn, lễ, nghĩa, trí, tín. Giữ tam cang, ngũ thường là đi vào con đường của Nho giáo.
Muốn trở thành Phật tử, phải thọ tam quy, tức quy y Tam bảo để kết duyên với Tam bảo. Vì Đức Phật đã ra khỏi sinh tử, chúng ta tu theo Ngài, từng bước mới ra khỏi sinh tử. Phải nhận thức được ý này và thực hiện cho được. Còn chỉ giữ ngũ giới, mà không quy y Tam bảo, thì vẫn ở trong sinh tử; nhưng đương nhiên, trở thành người tốt và trong kiếp tái sinh, được sống trong hoàn cảnh tốt. Vì thế, chúng ta phải quy y Phật, nương với Phật để ra khỏi sinh tử là việc chính.
Thật vậy, quy y Phật, nghĩa là tâm ta hướng về Phật và sống theo Phật; điều này rất quan trọng mà kinh Pháp Hoa gọi là trồng căn lành ở các Đức Phật. Có trồng căn lành với Phật, giữa chúng ta và Phật mới có mối tương quan mật thiết trên bước đường tu, khiến tâm chúng ta thường hướng về Phật. Và tạo được sự tương quan như thế, chúng ta mới tiếp nhận được lực gia bị của Phật, giúp chúng ta hóa giải được phiền não trần lao của thế gian.
Ta hướng về Phật và Phật gia hộ cho ta, hai việc này gắn bó mật thiết và tác động hỗ tương cho nhau, chúng ta mới an lành. Người có căn lành đi chùa khác với người chưa trồng căn lành. Người chưa trồng căn lành, chỉ gieo nghiệp ác và họ đến chùa bằng nghiệp ác, nên thường rình rập, trộm cắp. Hoặc một số Phật tử đi chùa, vừa tụng kinh vừa coi chừng đôi dép, lo sợ mất dép. Như vậy, tâm họ không có Phật, chỉ nghĩ đến đôi dép. Tu như vậy, chắc chắn cuộc đời họ cứ xuống lần.
Người không có căn lành, nhưng nghiệp chướng nhiều, trong lòng họ phiền não khổ đau chồng chất. Những người phiền não gặp nhau thì họ chia sẻ những điều phiền muộn cho nhau. Họ đến chùa để bàn những chuyện xấu ác, nên càng tu hoàn cảnh càng khó thêm, càng đi chùa càng nhiều chuyện, bực tức, khó chịu với người xung quanh. Dù họ đi chùa cũng không thấy Phật, là không thấy Phật bằng tâm.
Người đi chùa lễ Phật bằng nhân tốt thì trong tâm họ luôn nghĩ đến Phật, lâu ngày nét mặt họ có phần nào giống Phật. Vì thế, thầy cô hay Phật tử nào giống Phật, biết họ có căn lành; vì nghiệp thiện hay ác đều hiện rõ trên khuôn mặt, trong ánh mắt, trong lời nói, trong cuộc sống của chúng ta.
Tụng kinh Pháp Hoa, phẩm An lạc hạnh thứ 14, Phật dạy Bồ tát Văn Thù Sư Lợi rằng thấy người thật sự có lỗi, còn không nói lỗi của họ, huống chi người không có lỗi. Tại sao? Vì tâm chúng ta còn trong sáng, chưa bị nhiễm dơ bẩn, nên không muốn đem tội lỗi đó vào tâm mình, e ngại nó sẽ phá hư căn lành của chúng ta.
Phật tử nghiệm điều này sẽ nhận ra, lúc mới đến chùa, chưa biết gì, luôn nghĩ các thầy cô và Phật tử rất tốt. Nhưng đi chùa lâu, nói rằng biết các thầy cô và Phật tử , nhưng biết toàn chuyện xấu của họ thì tất cả mọi người, mọi việc trong chùa lúc ấy đều trở thành tệ xấu. Người này đã dại khờ đem cái xấu vào tâm để biến tâm thành nhơ bẩn. Đến một lúc nào đó, nghiệp ác sinh ra, họ thấy cuộc đời không còn gì đẹp nữa, là đã đánh mất căn lành, không thể tu được nữa.
Phẩm An lạc hạnh dạy ý này mà tôi thường suy nghĩ và hành trì trong 50 năm trước. Vì thế, từ thuở nhỏ, ở Phật học đường Nam Việt, tôi rất cân nhắc trong việc chọn bạn đồng học đồng tu. Tôi chỉ kết bạn với người có cùng hạnh nguyện, có lời nói, cử chỉ, tâm niệm giống Phật và họ thường hành trì pháp Phật, để cùng trao đổi, giúp nhau thăng tiến trên bước đường tu. Đối với người sống chung một chùa, nhưng ba nghiệp đều không thể hiện lời Phật dạy, tôi cố tránh. Với Phật tử, tôi càng tránh xa hơn, vì sợ những việc ô uế vấy bẩn tâm mình. Một số huynh đệ công phu tu hành ít ỏi, nhưng thích giao tiếp, thọ hưởng, lâu ngày không hóa giải được nghiệp ác của người ban tặng cho, mà lại biến thành nghiệp ác của chính họ, nên đã hỏng cả đời tu.
Thực tế cho thấy mọi người đến với thầy tu, phần nhiều họ mang tâm trạng khổ đau, bực tức tặng cho chúng ta. Không bao giờ nghe họ nói được pháp thù thắng nào. Bạn mà chúng ta có thể trao đổi kinh nghiệm tu hành quả là hiếm hoi. Vì muốn nói được lý đạo, phải gia công thiền định, phải thể nghiệm pháp Phật, mới có đời sống tâm linh, mới có thể tương thông chia sẻ với chúng ta.
Trong kinh Viên Giác, Phật cũng dạy rằng biết mình nghiệp chướng trần lao nặng, không nên quan tâm đến người khác. Nếu là người thật tu thì không thấy lỗi của người khác. Nhận chân ý Phật dạy, tiếp xúc với người, tôi cố gắng tìm khía cạnh tốt của họ; nhờ vậy, trước nhất lòng tôi được an vui, còn nhìn khía cạnh xấu, chắc chắn cảm thấy nặng lòng. Từ ý này, tôi nhớ đến kinh Địa Tạng, Phật cũng dạy Bồ tát Địa Tạng rằng trong địa ngục đương nhiên không có người tốt, thì ráng tìm cái đáng thương của người xấu; cái tốt của họ nếu có, dù là nhỏ và mong manh như sợi tơ, Bồ tát cũng phải cứu vớt.
Trở lại pháp Tam quy, chủ yếu là quy y Phật trong tâm. Nói cách khác, tâm chúng ta lúc nào cũng có Phật ngự. Nhờ vậy, gặp việc không vừa ý, chúng ta liền niệm Phật, tức hình dung ra Phật trong tâm mà quên mất việc xấu, người ác bên ngoài.
Tụng kinh Pháp Hoa và nhận được sự hộ niệm của Phật mà từ lúc đi học cho đến khi làm việc cho Giáo hội, tôi luôn cảm nhận sự an lành, thanh thản. Đó chính là nhờ tôi thực hiện sâu sắc pháp Tam quy, không phải là pháp cao siêu nào cả. Có thể nói pháp quy y Tam bảo là pháp căn bản có thể dung được ngũ thừa và tất cả pháp môn tu.
Trong 84.000 pháp môn tu, đối với tôi, việc chính yếu là đem Phật vào tâm, lúc nào trong tâm cũng có Phật, thấy Phật thì được an vui. Và an vui là con đường để đi vào đạo, Phật lực mới gia bị được. Người ta thường nghĩ quy y Tăng là theo các thầy tu trong chùa. Nghĩ như thế, đôi khi họ thấy các thầy làm gì không vừa ý thì suy nghĩ ác của họ khởi lên ngay. Không ít người giận thầy trụ trì rồi không đi chùa nữa.
Theo nghĩa hẹp, quy y Tăng là nương theo người xuất gia vì người xuất gia phạm hạnh, thanh tịnh hơn. Nhưng theo tinh thần Đại thừa, quy y Tăng là nhìn khía cạnh tốt của người khác, không nhìn khía cạnh xấu. Nghĩ về điều tốt của người, phiền não trong ta tự nhiên tiêu tan. Ở trong hoàn cảnh tồi tệ nhất, cũng phải thấy được điểm tốt của mọi việc, mọi người, chúng ta mới ra khỏi sinh tử. Nếu đi chùa, tụng kinh, nhưng kinh là kinh, Phật là Phật và nhìn người xung quanh không tốt thì bấy giờ đối tượng trong tâm mình không tốt, làm sao tâm thanh tịnh được và như thế Phật cũng không gia bị cho ta được. Tội nghiệp cho người chỉ nghĩ đến những việc xấu ác của người khác, một lúc nào họ biến thành người ác mà không hay.
Tôi thường suy nghĩ tại sao người này tốt với người kia mà không tốt với mình. Chúng ta tự kiểm sẽ nhận thấy ngay lý do, mà người theo đạo Thiên Chúa thường nói là lỗi tại tôi, không phải lỗi tại người. Tại tôi ăn ở thế nào, nói cái gì mà người không thương. Có bà mẹ thưa rằng bà có một đứa con, lo lắng tất cả cho nó, nhưng nó không nghe lời bà mà lại nghe lời hàng xóm. Người mẹ này không nhận ra được bà như thế nào và người hàng xóm ra sao. Bà cứ thấy rằng mình thương con và hết lòng chăm sóc con mà nó cứ ngỗ nghịch, chỉ nghe hàng xóm thôi. Trong khi con của bà này tâm sự với tôi rằng người hàng xóm hiểu tâm trạng nó và biết an ủi nó. Còn bà mẹ thì gạn hỏi con như tra tấn, khiến nó không chịu nổi. Rõ ràng người hàng xóm không nuôi nấng gì cả, nhưng biết cách tháo gỡ vấn đề, nên được ưa thích. Trong khi người mẹ dạy con, mà không hiểu được tâm trạng con, nhưng dùng quyền khống chế, làm nó sợ và bực, mới phản đối bằng cách đến với hàng xóm. Tôi nhắc nhở bà mẹ này về lỗi của bà. Từ đó, đứa con nghe lời tôi dạy và người mẹ có thái độ tốt với con, bắt đầu thương nó, cũng như người con chịu nghe lời mẹ, nhưng phải nghe qua thầy thôi!
Quy y Phật cũng giống như vậy. Đôi khi chúng ta không chấp nhận đối tượng, nhưng qua hình ảnh thánh thiện của Đức Phật, qua lời dạy đúng đắn của Phật, qua công đức vô lượng của Phật, chúng ta chấp nhận nhượng bộ đối phương. Và từ pháp Tam quy, chúng ta đi thẳng vào thế giới Phật theo kinh Hoa Nghiêm, theo đó muôn vật muôn sự đều là hình ảnh Phật, không có gì không phải là Phật mới là Phật.
HT. Thích Trí Quảng





