Home » , » Sự hộ niệm của Phật, Bồ Tát và Thiên Long Bát Bộ

Sự hộ niệm của Phật, Bồ Tát và Thiên Long Bát Bộ

Written By Admin Nguyên Hạnh on Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012 | 19:25



Khi A lại da duyên khởi không hoạt động thì 12 duyên dứt sạch, nên chơn như xuất hiện, theo đó mười phương Phật hiện thân vàng, tiêu biểu cho niềm tin chúng ta hoàn toàn trong sáng.
Bài Khai kinh tôi giữ nguyên, chỉ sửa đổi một ít: Phật pháp cao siêu rất thẳm sâu. Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. Con nay nghe thấy chuyên trì tụng. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Nguyên tác của bài này bằng Hán văn của Tắc Thiên hoàng đế khi nghe kinh Hoa Nghiêm, bà đã cảm được và soạn bài kệ này. Chúng ta đều khai kinh bằng bài này để nhắc nhở hành giả sự thậm thâm vi diệu của pháp Phật. Cuộc đời của bà Tắc Thiên rất kỳ quặc, mọi việc không như ý, nhưng bắt gặp được kinh Hoa Nghiêm thì bà trở nên thanh thản và đi lên dễ dàng. Bà đã hết lòng hộ đạo, tài trợ cho các pháp sư phiên dịch bộ kinh Hoa Nghiêm. Một người đàn bà làm thái hậu và lên làm vua phế bỏ nhà Đường để lập nhà Chu là một việc không đơn giản chút nào, nhưng bà đã làm được. Đối với bà, cảm nhận được pháp Phật và quyết tâm giữ gìn niềm tin Tam bảo vì nhờ đó mà bà đã nhận được những điều phi thường trong cuộc sống. Thậm thâm vi diệu của đạo pháp vô cùng quan trọng đối với người tu. Vì vậy, chúng ta tu hành mà không thấy, không nhận được thậm thâm vi diệu của pháp Phật, cũng giống như người bị lờn thuốc, thì chỉ một thời gian là chúng ta sẽ chán nản và bỏ cuộc.
Đến phần nội dung kinh, tôi không dịch theo văn tự, vì tôi nghĩ văn của mỗi người diễn tả một cách khác nhau; chủ yếu tôi chú trọng đến ý kinh hơn; giữ ý kinh, nhưng lời thay đổi cho dễ hiểu. Tôi diễn tả bằng từ dễ hiểu, dễ nhớ, không trung thành với chữ, vì từ gốc chữ Phạn đã được dịch sang chữ Hán rồi dịch sang chữ Việt, nếu trung thành văn tự thì sẽ bị kẹt từ ngữ, văn không xuôi, khó đọc, khó nhớ.
Mở đầu tôi chú ý đến địa điểm Phật thuyết kinh này là thành Xá Vệ, tinh xá Kỳ Hoàn và kế đến là thính chúng nghe pháp gồm Thanh văn, Bồ tát và bát bộ chúng. Diễn tả pháp hội như vậy vì tôi tạo độ cảm giữa mình và các Ngài.
“Một thuở nọ, Đức Phật ở thành Xá Vệ, tinh xá Kỳ Hoàn cùng chư La hán 1250 Thượng tọa và nhiều người khác còn đang tu học... Bản chính kinh Di Đà cũng nói đến 1250 La hán là chúng thường tùy với Đức Phật. Và theo tôi, cũng có nhiều người khác còn đang tu học, không lẽ chỉ có 1250 La hán ở Xá Vệ. Và trong 1250 La hán không có Ưu Ba Ly, A Nan, Ca Diếp, chỉ có Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, 3 anh em Ca Diếp dẫn theo 1000 đồ chúng và 50 thanh niên Da Xá.
Tuy nhiên, theo tôi, trong pháp hội này không phải chỉ có 1250 vị La hán thường tùy với Đức Phật, vì trong 1250 vị La hán, có vị đã viên tịch trước khi Phật nói kinh Di Đà, thí dụ như đệ tử của Xá Lợi Phất đã lên cõi trời. Nhưng dưới cái nhìn của tôi, các vị La hán này đã từng gắn bó mật thiết với Phật, nên sống hay chết, các Ngài vẫn thường tùy với Phật, vẫn hiện diện đầy đủ. Với tôi, pháp hội được quán sát dưới dạng tín ngưỡng tôn giáo thuộc thế giới siêu hình, nên giác linh của các Ngài vẫn thường tùy với Phật.
Cũng trên tinh thần truyền thống tín ngưỡng như vậy, ngày nay, các vị Hòa thượng trong Giáo hội chúng ta tuy đã vắng bóng trên cuộc đời, nhưng chúng ta tin tưởng rằng giác linh các Ngài vẫn hộ niệm cho sinh hoạt đạo pháp của chúng ta. Đối với tôi, Giáo hội chúng ta tồn tại ở cả hai mặt hữu hình và vô hình, nhưng phần vô hình quan trọng hơn. Hai mặt hữu hình và vô hình tương quan tương duyên tồn tại; không có lực vô hình, chúng ta không mạnh được. Có người nói thầy tu như chúng ta hiền lành đến con muỗi cũng không dám giết, nhưng sự hiện hữu của người tu hành chân chính quan trọng không nhỏ, lịch sử đã từng chứng minh điều này. Theo tôi, người tu chân chính có một giá trị nhất định trong lòng xã hội phần lớn là nhờ thế lực vô hình của thiên long bát bộ tạo một vòng đai an toàn cho sinh hoạt tu hành cho họ, cho đến nhận được lực gia bị của Bồ tát hay Phật thì chúng ta sẽ thành tựu những việc làm mà người bình thường không thể nào làm nổi. Vì vậy, người tu thiếu sức gia bị vô hình thì khó lòng đương đầu với vô số chướng ngại trong đời ngũ trược ác thế này.
Tôi nghĩ rằng 1250 La hán đã ở Niết bàn hay còn hiện thế vẫn coi như thường tùy với Phật,  không thể thiếu được. Phật ở đâu, các Ngài ở đó và một số người khác đang tu học từ sơ quả đến tam quả. Và đứng đầu nhóm này là A Nan chưa đắc quả La hán, nhưng được xếp trong 10 vị nòng cốt lãnh đạo tập đoàn đa văn. Đó là cách phân chia chúng theo Phật rõ ràng, chính xác. Những người hợp với nhau về tư tưởng, về việc làm thì tự tập trung lại để cùng nhau sinh hoạt. A Nan học rộng nghe nhiều thì có thể tập hợp những người thích học, thích nghe. Vì vậy, A Nan là đối tượng mà họ quý trọng, nên họ theo Ngài. Mỗi người tu hành tiêu biểu cho một việc, một hạnh và tập hợp được những người cùng một sở thích, cùng một hạnh, đó là sự tập hợp tự nhiên, không phải Phật phân chia như vậy.
Nhóm đa văn thích học, thích nghe, sau khi Phật thuyết pháp, họ tập hợp theo A Nan để bàn luận, trao đổi hiểu biết về pháp Phật đã dạy. Họ còn đang tu học, nên say mê thích thú học và kiết tập kinh điển; nhờ vậy chúng ta mới có kinh điển ngày nay để nương theo tu hành. Thật vậy, nếu không có nhóm đa văn do A Nan lãnh đạo thì về sau không ai kiết tập kinh điển, vì những vị đắc La hán, chứng chân lý thì không còn muốn nghe pháp phương tiện, làm thế nào kiết tập kinh điển. Cũng như các thầy học ở Phật học viện hay Cao đẳng mới ham học, viết sách hướng dẫn cho người đi sau; còn chuyên tu thì thường không có sách để lại cho đời.  Có thể nói A Nan đa văn đóng vai trò quan trọng, dù xếp Ngài vào hàng thứ 10.
Hoặc Ưu Ba Ly kiết tập Luật tạng cũng được xếp vô đây. Ngài thường quan sát sinh hoạt của đại chúng và nghe Phật nhận xét, thưởng, phạt, nên sau này chúng ta mới có Luật tạng. Vì vậy, cũng không thể thiếu sót tập đoàn Ưu Ba Ly nghiên cứu về giới điều của Phật.
Ngày nay rất  ít người nghiên cứu luật học hay kỷ cương của Giáo hội. Tôi khuyên các anh em nên nghiên cứu luật Phật và đối chiếu với luật thế gian để điều hành Tăng đoàn ngày nay vừa thích hợp với giáo lý của Phật vừa thích hợp với cuộc sống của mọi người. Theo tôi, chúng ta đang gặp bế tắc vấn đề này.
Thật vậy, luật Sa di, Tỳ kheo mà chúng ta đang sử dụng đã có từ thời Phật cho đến ngày nay không ai dám sửa đổi. Tuy nhiên, tôi nghĩ luật cũng là một trong những phương tiện của Phật đưa ra để điều hành sinh hoạt của Tăng đoàn. Vì các anh em thấy luật ghi rằng có Tỳ kheo vi phạm một lỗi nào đó làm mất uy tín Tăng đoàn, Phật mới tập họp chúng và hỏi họ rằng có nên hay không nên làm như vậy. Đại chúng quyết định không nên làm thì Ưu Ba Ly ghi vào luật là không nên làm việc đó.
Như vậy, có những điều không xảy ra thời Phật tại thế, nhưng nay thời đại chúng ta có xảy ra, thì chúng ta có nên ghi thêm vào luật hay không. Hoặc có những điều phạm sai trái có quy định trong luật, nhưng nay không còn thích hợp thì ta có nên giữ nguyên như vậy hay không.
Theo tôi, trong luật Tỳ kheo, 4 tội Ba la di thì không sửa đổi, nhưng các luật khác nên sửa đổi. Tuy nhiên, cái khó là chưa có người đủ tư cách làm luật sư để kiết tập luật.
Thiết nghĩ luật mà chúng ta thọ trì từ thời xưa các luật sư đã thay đổi rồi. Chẳng hạn trước tháp Phật không được đốt thây chết, không được khạc nhổ. Tôi nghĩ điều này không phải Phật chế đặt, nhưng là Tăng đặt ra vì Phật nhập diệt mới có tháp Phật. Theo tôi, điều luật này thuộc về oai nghi. Các luật sư đời sau thấy một số Tỳ kheo thiếu sự tôn trọng tháp Phật nên mới ghi vô luật điều này. Hoặc các Tỳ kheo đi đường lượm được da dê thì được phép đem đi mấy do tuần. Ngày nay, không có da dê vứt bỏ và cũng không ai lượm những thứ này. Hay Tỳ kheo không được vừa đi vừa nhảy. Đương nhiên có thầy giỡn như vậy trông khó coi, nên Phật mới cấm.
Có thể nói những điều nào đó được đặt ra trong một thời kỳ nào hay hoàn cảnh nào thì thích hợp; nếu không cần thì cũng không có luật. Phật chế luật nhằm tịnh hóa Tăng đoàn, sai trái cần sửa chữa để bảo đảm uy tín của Tăng đoàn trong sạch. Đối với tôi, chủ yếu nhằm xây dựng oai nghi của chúng ta, nói chung có 4 oai nghi, nói rộng có 3.000 oai nghi là tư cách của người tu. Nhóm kiết tập Luật tạng tuy nhỏ, nhưng cũng rất quan trọng.
Khi Phật lập giáo khai tông, hàng đệ tử tu theo chánh pháp, lấy Tứ Thánh đế làm chính. Lúc ấy, Phật không nói oai nghi. Khi Tăng đoàn phát sinh vấn đề mới có luật ngăn cấm và dạy luật; nên người ta đặt kinh, luật xuống hàng sau cùng, vì nó là phương tiện. Đối với Thánh La hán thâm nhập pháp chân thật, Phật không cần dùng lời, và các Ngài cũng tự biết nên làm gì và chỉ làm đúng, vì thế dĩ nhiên không cần luật cấm đoán gì cả. Nhưng đối với chúng sinh nghiệp cấu sâu dày, không nói thì họ không biết; vì vậy mà Phật phải dùng phương tiện là kinh, luật.
Ngày nay, chúng ta vào chùa phải học luật, kinh trước và sau tham thiền là từ giã ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ thô kệch bên ngoài để đi vào đời sống tâm linh. Người có đời sống tâm linh theo Phật thì không cần kinh điển nữa.
Và kế tiếp là Phú Lâu Na thuyết pháp đệ nhất A la hán, được xếp vào hàng thứ 8 cũng mang tính cách truyền bá chánh pháp. Việc làm này cũng là phương tiện, tùy hoàn cảnh từng người, tùy yêu cầu từng lúc, từng nơi mà khai phương tiện giảng dạy cho người thâm nhập Phật huệ.
3 tập đoàn chuyên về kiết tập kinh điển, luật tạng và thuyết pháp tồn tại trên nhân gian cho đến ngày nay; thiếu 3 sinh hoạt này, Tăng đoàn không mạnh được, tức phải có giáo lý, nguyên tắc và người thực hành.
Trên một bậc, có ngộ tánh Tu Bồ Đề, thiên nhãn A Na Luật... tiêu biểu cho những vị tu chứng đã phát huy được nội tâm. Nói chung tôi đề cập đến 10 vị đại đệ tử tiêu biểu cho 10 nhóm nòng cốt của Phật là chúng Thanh văn. Thực sự trong kinh Di Đà, tôi thấy có 13 hay 14 vị La hán, nhưng tôi rút gọn, lấy 10 đại đệ tử chính duy trì Phật pháp. Những vị còn lại tôi không ghi vô như Châu Lợi Bàn Đà, Kiều Phạm Ba Đề, v.v... Bằng độ cảm tâm với từng vị đại đệ tử, tôi ghi thêm hạnh nguyện của các Ngài ở trước danh xưng của mỗi vị, thí dụ mật hạnh La Hầu La, thuyết pháp Phú Lâu Na, đa văn A Nan...
Chúng thứ hai là Bồ tát, đứng đầu là Văn Thù, Di Lặc (trong kinh Di Đaâ gọi là A Dật Đa Bồ tát). Hai vị Bồ tát này tôi gặp trong kinh Pháp Hoa, các Ngài được coi là Pháp Hoa kinh duyên khởi. Trong hội Pháp Hoa của Phật Thích Ca, Bồ tát Di Lặc hỏi Văn Thù Sư Lợi để Văn Thù nói về nguyên nhân có kinh Pháp Hoa, thế nào là Pháp Hoa...
Theo tinh thần Đại thừa, chia chúng hội của Phật làm 3: chúng duyên khởi, chúng đương cơ và chúng kết duyên. Đại thừa không chia chúng như chúng ta thường thấy là chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di.
Chúng duyên khởi là tất cả Bồ tát lớn trợ hóa cho Đức Thích Ca. Đức Phật hiện thân lại cuộc đời này thì các Bồ tát lớn cũng sanh theo Phật. Các Ngài đã thâm nhập Phật huệ, nên trong kinh Pháp Hoa nói rằng không phải Phú Lâu Na mới thuyết pháp trong hiện đời mà Ngài đã là pháp sư bậc nhất từ thời xa xưa. Hoặc A Nan đã từng phát tâm từ thời Phật Không Vương cùng với Phật Thích Ca v.v... và Những vị này không phải là Thanh văn, nhưng thực sự là Bồ tát hiện thân lại theo Phật để tạo điều kiện cho Phật thuyết pháp, hành đạo, vì một mình Phật không thể làm mọi việc. Trong kinh Đại thừa thường nói rằng một Đức Phật ra đời luôn luôn có Thánh chúng xuất hiện theo để giúp Phật, làm cho vai trò của Phật nổi bật lên tư cách đại đạo sư của Trời người. Những vị Bồ tát tái sinh trong tất cả thành phần xã hội và mỗi vị tiêu biểu cho một hạnh của Phật trên cuộc đời này. Đó là chúng duyên khởi tạo mọi điều kiện để Phật thuyết pháp giáo hóa độ sinh. Thí dụ nếu Phật nhẫn nhục để người mắng chửi thì phải có đệ tử giải thích việc này cho người thông hiểu lợi ích của pháp nhẫn ba la mật là như thế nào.
Cũng tương tự như vậy, ngày nay các Hòa thượng lớn ngồi yên trong thiền thất thì các Thượng tọa khác cũng như vậy, làm sao Phật pháp tồn tại. Hòa thượng Trí Tịnh ngồi yên thì học trò Ngài phải đi truyền bá. Nhưng truyền bá cho ai? Vì vậy cần có chúng đương cơ là những người hữu duyên để Phật nói pháp khai ngộ cho họ. Phật không khai ngộ cho các Bồ tát đã chứng ngộ rồi. Và chúng kết duyên như Phật tử theo nghe pháp, hiểu được và sau phát tâm tu. Họ là người trồng căn lành với đạo. Như vậy, luôn luôn có 3 chúng. Chúng đương cơ phải thể nghiệm cho người thấy giá trị chân thật của pháp Phật. Chúng kết duyên chưa thể hiện được tinh ba của Phật dạy, nên thường dễ chán nản. Các thầy làm đạo phải thấy điều này. Chúng kết duyên có xin tu cũng đừng cho phép xuất gia, về sau họ làm bậy, ta mang họa. Họ làm cư sĩ đến chùa tụng kinh là đủ rồi, vì xuất gia mà tánh cư sĩ vẫn còn, không thể tu được.
Chúng đương cơ chết sống với đạo, họ sống cực khổ thế nào cũng tu được. Tôi tu ở chùa từ 12 tuổi biết rõ người quyết tâm tu thì tự tìm học, tự nỗ lực công phu và tạo được công đức, sau làm đạo dễ thành công. Còn những người không muốn tu, chỉ chờ thầy sơ hở là làm bậy, rồi cũng hoàn tục. Phải thấy rõ họ chỉ mới là người kết duyên, nên nuôi dưỡng tâm đạo của họ cho vững mạnh, đừng vội cho xuất gia, không có lợi.
Còn chúng duyên khởi hay chúng trợ hóa như Bồ tát Văn Thù trợ hóa Phật Thích Ca. Theo kinh Pháp Hoa, từ thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, Văn Thù là Diệu Quang pháp sư có 800 đệ tử đều thành Phật và người thành Phật sau cùng là Phật Nhiên Đăng. Và Phật Nhiên Đăng là người thọ ký cho Đức Thích Ca thành Phật. Vậy mà đến nay, Văn Thù vẫn còn là Bồ tát. Phật Thích Ca nói rằng những việc của Phật chỉ có Phật biết, ngài có vô số phương tiện giáo hóa chúng sinh. Phật cho biết Văn Thù chính là một vị cổ Phật hiện thân lại để trợ giúp cho Phật Thích Ca hành đạo ở Ta bà. Ngài là một trong những vị Bồ tát đã thành Vô thượng Đẳng giác vì thương nhân gian sinh lại cuộc đời này để giúp Phật Thích Ca nói pháp chân thật, khai mở vô số phương tiện, v.v... thể hiện tinh thần một Đức Phật Thích Ca xuất hiện thì có trăm ngàn vị Phật khác ủng hộ, trợ hóa.
Về phần chúng ta tu Bồ tát đạo được xếp vào hàng Bồ tát từ nhân hướng quả, mới phát tâm Bồ đề, còn phải trải qua thứ bậc từ thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng đến thập quả mới hoàn tất công hạnh của Bồ tát. Quá trình tu hành này không đơn giản, Phật thường nói là phải qua 3 a tăng kỳ kiếp. Tuy nhiên, với lời phát nguyện của các vị đại Bồ tát và thiên long bát bộ luôn ủng hộ, hộ niệm cho những người phát tâm Bồ đề đi theo lộ trình của Phật được kinh Pháp Hoa ví như hoàng tử dù còn nằm trong nôi cũng đã có uy quyền. Tôi tin tưởng rằng nếu chúng ta an trụ trong chánh pháp, chắc chắn sẽ tiếp nhận được gia trì lực của chư Phật, chư Bồ tát và bát bộ chúng, nhận được những điều thậm thâm vi diệu, thâm nhập được nghĩa lý Phật dạy thì sẽ vượt qua mọi chướng duyên trên con đường tiến đến Phật quả. Nếu cần nghỉ ngơi bồi dưỡng sau những tháng ngày hành đạo ở Ta bà, Đức Phật Thích Ca đã chỉ cho chúng ta con đường đi đến thế giới Cực lạc ở phương Tây của Đức Phật Di Đà. Quả thật đó là một cảnh giới tuyệt vời khi được nghỉ ngơi bên cạnh vị thầy là Đức Phật có vô lượng thọ, vô lượng công đức, vô lượng trí tuệ và hàng Thánh chúng cùng tu với chúng ta cũng tuyệt vời như vậy.
Mong rằng đại chúng nỗ lực tu hành, khám phá được những lực siêu tự nhiên để trưởng dưỡng đạo tâm và gánh vác Phật sự, làm cho Phật pháp được hưng thạnh trên thế gian này.

HT Thích Trí Quảng
Share this article :
 
Chủ nhiệm: HT. Thích Trí Quảng - Biên tập: Thích Nguyên Hạnh - Thiết kế: Trí Lưu
Email: daotrangphaphoa.vn@gmail.com - nguyenhanhvnn@gmail.com
www.ChuaPhoQuangTanBinh.com
DMCA.com